Quản lý đánh giá kết quả học tập trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở trường đại học Việt Nam - Pdf 33

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
---------------------------------------

TRẦN ĐỨC HIẾU

QUẢN LÝ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP
TRONG ĐÀO TẠO THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ
Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC VIỆT NAM

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 62.14.01.14

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC

HÀ NỘI 2016


Công trình được hoàn thành tại Trường ĐH Sư phạm Hà Nội

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Trần Thị Tuyết Oanh
PGS.TS. Nguyễn Vũ Bích Hiền

Phản biện 1: PGS.TS. Bùi Văn Quân, Trường ĐH Thủ Đô Hà Nội
Phản biện 2: PGS.TS. Nguyễn Thị Tính, Trường ĐHSP, ĐH Thái Nguyên
Phản biện 3: PGS.TS. Bùi Minh Hiền, Trường ĐHSP Hà Nội
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp trường họp tại Trường
Đại học Sư phạm Hà Nội vào hồi …… giờ ….. ngày ….. tháng … năm 2016

Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện: Thư viện Quốc gia hoặc Thư viện
Trường ĐHSP Hà Nội

của SV trong đào tạo theo HTTC là một trong những mối quan tâm hàng đầu của các cấp
quản lý giáo dục, đặc biệt trong những năm gần đây, khi mà nhiều SV ra trường không
tìm được việc làm, gây bức xúc dư luận trong xã hội. Chất lượng GDĐH chưa cao một
phần là do ĐGKQHT chưa thực sự phát huy hết vai trò quan trọng của mình và một trong
những nguyên nhân của những hạn chế trong ĐGKQHT là công tác quản lý còn bất cập;


2

do đó, đổi mới quản lý ĐGKQHT phù hợp với phương thức đào tạo theo HTTC là một
yêu cầu cấp thiết của GDĐH Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
ĐGKQHT trong các trường ĐH hiện nay còn có những hạn chế, đó là đánh giá chưa
đúng, chưa đủ mục tiêu môn học, chưa đánh giá được năng lực giải quyết vấn đề và sáng
tạo của người học. ĐGKQHT chưa thực sự đảm bảo khách quan, kém tác dụng thúc đẩy
SV đổi mới phương pháp học tập hiệu quả và còn tồn tại những tiêu cực.
Trước thực tế đó, Đảng và Nhà nước đã có chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện
GDĐH. Trong phần nhiệm vụ, giải pháp của Nghị quyết về đổi mới căn bản, toàn diện
giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của BCH Trung ương ĐCS
VN khóa XI), đã chỉ rõ “Đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra và
đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo, đảm bảo tính trung thực, khách quan”, “Việc thi,
kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo cần từng bước theo các tiêu chí tiên tiến
được xã hội và cộng đồng giáo dục thế giới tin cậy và công nhận”.
Việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn về quản lý ĐGKQHT ở trường ĐH để đề xuất
các biện pháp quản lý phù hợp với phương thức đào tạo theo HTTC của GDĐH Việt
Nam hiện nay là vấn đề quan trọng và cấp thiết cần phải có lời giải, vì lẽ đó chúng tôi lựa
chọn nghiên cứu đề tài: “Quản lý đánh giá kết quả học tập trong đào tạo theo hệ thống
tín chỉ ở trường đại học Việt Nam”.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực tiễn về quản lý ĐGKQHT của SV đại học trong đào tạo
theo HTTC kết hợp với nghiên cứu yêu cầu của phương thức đào tạo theo HTTC đối với

6. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu của luận án được giới hạn ở quản lý ĐGKQHT của SV hệ chính quy
ở trình độ cử nhân trong đào tạo theo HTTC tại các trường đại học thuộc khối ngành kinh
tế, kỹ thuật.
- Tiến hành khảo sát tại một số trường ĐH như ĐH Điện lực, ĐH Vinh, ĐH Công
nghiệp Hà Nội, ĐH Kinh tế quốc dân, HV Ngân hàng; tổ chức thực nghiệm tại Trường
ĐH Điện lực.
- Đối tượng khảo sát: cán bộ quản lý (CBQL), giảng viên (GV) và SV hệ chính quy.
7. Phương pháp luận nghiên cứu
7.1. Phương pháp tiếp cận
- Phương pháp tiếp cận hệ thống: Tiếp cận hệ thống là cách nhìn nhận thế giới qua cấu
trúc hệ thống, thứ bậc và động lực của chúng; nhằm xác định đánh giá giáo dục nói
chung và ĐGKQHT của SV nói riêng là một bộ phận trong quá trình giáo dục, có tác
dụng thúc đẩy sự phát triển giáo dục, có mối quan hệ khăng khít với các thành tố khác
trong quá trình giáo dục như mục tiêu, chương trình, phương pháp, cơ sở vật chất, trang
thiết bị...


4

- Phương pháp tiếp cận biện chứng: Mọi sự vật, hiện tượng luôn luôn biến đổi và phát
triển, trong đó có giáo dục. Đánh giá giáo dục nói chung và ĐGKQHT nói riêng cần được
xem xét và nghiên cứu trong mối quan hệ biện chứng của quá trình phát triển giáo dục ở
trong nước và xu thế phát triển trên thế giới.
- Phương pháp tiếp cận theo chức năng quản lý: Quản lý giáo dục nói chung và quản lý
ĐGKQHT nói riêng để đạt được mục tiêu đã đề ra cần được bám sát theo các chức năng
lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo- chỉ đạo thực hiện và kiểm tra giám sát.
7.2. Phương pháp nghiên cứu
7.2.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Đề tài được tiến hành nghiên cứu dựa trên phương pháp tư duy, lý luận khoa học như

HTTC là một đòi hỏi cấp thiết, đang đặt ra cho các trường ĐH cần được đáp ứng đòi hỏi
của phương thức đào tạo tiên tiến này.
- Các biện pháp quản lý được đề xuất trong luận án hướng vào việc bồi dưỡng năng
lực chuyên môn và nghiệp vụ cho cán bộ quản lý (CBQL) và giảng viên (GV) về
ĐGKQHT trong đào tạo theo HTTC, thiết lập các cơ chế phối hợp, các điều kiện, quy
trình để triển khai ĐGKQHT đồng bộ với hoạt động đào tạo theo phương thức HTTC sẽ
mang lại hiệu quả cho ĐGKQHT và hoạt động đào tạo ở các trường ĐH hiện nay.
9. Đóng góp mới của luận án
- Luận án đã hệ thống hóa và mở rộng, làm sâu sắc thêm lý luận về quản lý ĐGKQHT
trong đào tạo theo HTTC; góp phần phát triển lý luận cơ bản về quản lý ĐGKQHT trong
đào tạo theo HTTC ở trường đại học. Xác định vai trò và vị trí của ĐGKQHT trong đào
tạo theo HTTC;
- Luận án đã đánh giá được thực trạng về quản lý ĐGKQHT của SV tại các trường ĐH
hiện nay; chỉ ra những vấn đề cần được đổi mới trong quản lý ĐGKQHT đáp ứng yêu
cầu phương thức đào tạo theo HTTC trong GDĐH.
- Đã đề xuất được năm biện pháp quản lý góp phần đáp ứng yêu cầu về quản lý
ĐGKQHT trong đào tạo theo phương thức HTTC và phù hợp với thực tiễn GDĐH Việt
Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
10. Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, danh mục các bài báo của tác giả, tài liệu
tham khảo và phụ lục, nội dung luận án được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý ĐGKQHT của SV trong đào tạo theo HTTC.
Chương 2: Cơ sở thực tiễn của quản lý ĐGKQHT trong đào tạo theo HTTC tại các
trường đại học.
Chương 3: Biện pháp quản lý ĐGKQHT của SV trong đào tạo theo HTTC tại các
trường đại học.


6


thực trạng ĐG kết quả giáo dục ở Việt Nam, đề xuất cách sử dụng kết quả đánh giá để


7

điều chỉnh hoạt động dạy và học, xác nhận sự tiến bộ của SV, điều chỉnh chính sách giáo
dục,…
1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1. Đánh giá và đánh giá kết quả học tập
1.2.1.1. Đánh giá
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về đánh giá, mỗi khái niệm nhấn mạnh đến một
khía cạnh cần đánh giá; Theo chúng tôi, Đánh giá là đưa ra những nhận định, những
phán xét về giá trị mà sinh viên tích lũy được trên cơ sở xử lý những thông tin, minh
chứng thu thập được đối chiếu với mục tiêu đã đề ra.
1.2.1.2. Kết quả học tập
Kết quả học tập là bằng chứng xác nhận người học đã tích lũy được kiến thức, kĩ
năng, năng lực, thái độ đối với một môn học, ngành học hay một bậc học.
1.2.1.3. Đánh giá kết quả học tập
ĐGKQHT có thể coi là phép đo dựa trên những thông tin thu được từ kiểm tra
nhằm xác định mức độ nắm vững từng nội dung học tập của người học, cho điểm và xếp
hạng người học sau khi hoàn thành một môn học, một khoá học, từ đó đưa ra kết luận về
thành tích và khả năng của người học.
Đánh giá kết quả học tập của sinh viên là đánh giá mức độ nắm được và vận dụng
kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của họ vào giải quyết các vấn đề của thực tiễn cuộc sống
(đánh giá năng lực); làm cơ sở để phân loại thành tích học tập của sinh viên; từ đó đưa ra
các giải pháp điều chỉnh phương pháp dạy của giảng viên và phương pháp học của sinh
viên và các khuyến nghị góp phần thay đổi các chính sách đào tạo.
1.2.2. Quản lý và quản lý đánh giá kết quả học tập
1.2.2.1. Quản lý
Quản lý được hiểu là sự tác động có mục đích mang tính khoa học, tính nghệ

một kiểu giờ tín chỉ bao gồm cả giờ tín chỉ lý thuyết, giờ tín chỉ thực hành thí nghiệm và
giờ tín chỉ tự học tập nghiên cứu của SV.
1.2.3.2. Đào tạo
Đào tạo là việc huấn luyện, giảng dạy, tập huấn cho một nhóm người, một tổ chức,
một xã hội về một vấn đề và nhằm đạt đến một mục tiêu nhất định; Là các hoạt động
truyền tải thông tin và dữ liệu từ người này (huấn luyện viên hoặc giảng viên) sang người
khác (học viên); Kết quả là có sự thay đổi về kiến thức, kĩ năng và thái độ của người học
từ mức độ thấp đến mức độ cao.
1.2.3.3. Đào tạo theo HTTC
Đào tạo theo HTTC là phương thức đào tạo đòi hỏi tính tích cực, chủ động của GV
và SV rất rõ rệt. Đào tạo theo HTTC lấy hoạt động học của SV làm trung tâm, đây chính
là phương pháp sư phạm tích cực. Khi sử dụng phương pháp này, chúng ta đã biến quá
trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo; GV không những là người truyền thụ kiến thức


9

cho SV mà còn phải là người tổ chức, hướng dẫn, điều khiển giúp SV chủ động trong
việc chiếm lĩnh tri thức, biết cách tìm đọc tài liệu, phát hiện và giải quyết các vấn đề, biết
cách khai thác, chọn nhập và xử lý thông tin trong thời đại nguồn thông tin phong phú
đến vô tận.
1.3. Những vấn đề cơ bản về ĐGKQHT của SV trong GDĐH
1.3.1. Vị trí, vai trò của ĐGKQHT trong đào tạo ở trường ĐH
ĐGQKHT có vị trí, vai trò quan trọng trong chương trình đào tạo tại các trường
ĐH; ĐGKQHT có các vai trò xác nhận, tạo động lực, định hướng, phản hồi- điều chỉnh,
hình thành nhu cầu và kỹ năng tự đánh giá đối với người học; đồng thời ĐGKQHT là
công cụ của các nhà quản lý giáo dục;
1.3.2. Các thành tố của quá trình ĐGKQHT
Các thành tố của ĐGKQHT trong đào tạo theo HTTC là mục đích, phương pháp, nội
dung, hình thức và quy trình đánh giá;

hoạt động của GV chiếm tỷ lệ lớn trong hoạt động dạy học. Tuy nhiên trong phương thức
đào tạo theo HTTC, vai trò của SV đặc biệt được coi trọng; chính vì vậy, tỷ lệ hoạt động
của GV đã có sự thay đổi. GV không giảng giải, phân tích, trình bày, diễn đạt toàn bộ nội
dung kiến thức trong giáo trình mà chủ yếu là hướng dẫn SV tự chiếm lĩnh kiến thức, kỹ
năng và nâng cao hứng thú học tập. Tùy theo từng buổi lên lớp, GV có thể chọn các hoạt
động phù hợp như: giảng giải những vấn đề mà SV có thể gặp khó khăn khi tự học, nhấn
mạnh những vấn đề trọng tâm, hướng dẫn và tổ chức cho SV thảo luận, hướng dẫn làm
bài tập, thực hành, thực tế, giải thích những vấn đề SV hiểu chưa đúng, giới thiệu những
nhà khoa học đã nghiên cứu những vấn đề mà SV đang học tập, đánh giá kết quả học tập
trên lớp và kết quả tự học ở nhà của SV.
Thứ ba, trao quyền chủ động cho người học: Trong đào tạo theo HTTC, người
học được quyền chủ động nắm bắt chương trình, lịch trình giảng dạy, chủ động đăng ký
GV và các môn học; chủ động về nội dung, chương trình, kiểm tra; chủ động lên kế
hoạch và thực hiện nhiệm vụ học tập dựa vào năng lực, điều kiện thời gian và công việc
của mình; người học có thể chuyển đổi từ khóa học này sang khóa học khác trong cùng
một hệ thống; nâng cao năng lực tự học của người học, …
Thứ tư, thể hiện sự mềm dẻo, linh hoạt trong giảng dạy: GV không nhất thiết phải
cứng nhắc giảng giải, trình bày toàn bộ bài dạy theo quy trình các bước lên lớp như trong
dạy học theo niên chế mà căn cứ theo trình độ của SV, vào điều kiện dạy học thực tế,…
GV có thể lựa chọn và thực hiện một số hình thức và phương pháp dạy học nào đó để đạt
mục đích môn học. Do đó, dạy học trong đào tạo theo HTTC đòi hỏi SV phải có tính tự
giác cao, có khả năng tư duy nhạy bén, độc lập và sáng tạo thì mới thực hiện được các
nhiệm vụ học tập theo HTTC.
Thứ năm, có sự đa dạng các hình thức kiểm tra, đánh giá và tiến hành kiểm tra,
đánh giá thường xuyên kết quả học tập về kiến thức, thái độ và kỹ năng của người học


11

(trong hệ thống niên chế: kiểm tra, đánh giá là khâu cuối cùng của quá trình dạy- học, kết

nẩy sinh trong quá trình thực hiện.


12

* Tiếp cận theo nội dung quản lý: ĐGKQHT được thực hiện theo các nội dung và có sự
ràng buộc của các quy chế, quy định một cách nghiêm ngặt nhằm đảm bảo tính chính
xác, khách quan và công bằng trong đánh giá; quản lý theo các nội dung tổ chức thực
hiện giúp nhà trường bám sát được chất lượng tại từng khâu trong quá trình ĐGKQHT
của SV.
1.5.2. Chức năng, nhiệm vụ của các chủ thể quản lý trong ĐGKQHT
Phòng khảo thí & ĐBCLGD là đơn vị chủ trì trong công tác ĐGKQHT của SV,
tham mưu cho hiệu trưởng ban hành các văn bản quy định, hướng dẫn thực hiện nhiệm
vụ về kiểm tra- đánh giá các môn học; xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện công tác
ĐGKQHT cho từng học kỳ và cả năm học của toàn trường. Để hoàn thành chức trách
nhiệm vụ của mình, phòng khảo thí & ĐBCLGD cần phối hợp chặt chẽ với các đơn vị
liên quan trong trường, đặc biệt là các khoa chuyên môn là lực lượng nòng cốt trong công
tác biên soạn, biên tập đề thi, chọn đề để tổ chức thi hay trong coi thi, chấm thi...
1.5.3. Các nội dung quản lý ĐGKQHT của SV đại học trong đào tạo theo HTTC
Để công tác ĐGKQHT của SV đạt hiệu quả cao trước hết phải xác định được mục
tiêu đánh giá. Mục tiêu đánh giá phải phù hợp với mục tiêu giáo dục và chuẩn đầu ra của
các ngành học mà nhà trường đã công bố. Mục tiêu đánh giá của từng môn học, ngành
học phải chỉ ra được các chuẩn mà người học phải nỗ lực học tập để vươn tới. Với mỗi
môn học, ngành học cần phải xác định được mục tiêu đánh giá mức độ đạt được của SV
về kiến thức, kỹ năng; muốn vậy nội dung kiểm tra- đánh giá phải bám sát nội dung môn
học, ngành học; giúp người học thể hiện năng lực vận dụng kiến thức, kỹ năng vào nghề
nghiệp tương lai trong từng bài thi/kiểm tra. Để đánh giá đúng năng lực của SV đòi hỏi
nội dung các bài thi/kiểm tra phải đa dạng, phong phú và được tổ chức thực hiện với
nhiều hình thức khác nhau, đặc biệt cần áp dụng các hình thức kiểm tra- đánh giá tiên
tiến, như thi trắc nghiệm khách quan bằng mạng máy tính, tổ chức đánh giá đa chiều,

chuyên môn, nghiệp vụ của CBQL, GV; các quy chế, quy định trong kiểm tra- đánh giá;
cơ chế quản lý của các nhà trường cùng với việc áp dụng CNTT vào công tác quản lý và
cơ sở vật chất phục vụ công tác quản lý ĐGKQHT; ...
Chương 2
CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP TRONG
ĐÀO TẠO THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC
2.1. Khái quát về đào tạo theo HTTC và quản lý ĐGKQHT ở các trường ĐH hiện
nay
2.1.1. Đào tạo theo HTTC tại các trường ĐH hiện nay
2.1.1.1. Chủ trương của Đảng và Nhà nước về triển khai đào tạo theo HTTC trong các
trường ĐH


14

2.1.1.2. Thực trạng về việc tổ chức triển khai đào tạo theo HTTC tại các trường ĐH
trong thời gian vừa qua
Chủ trương áp dụng HTTC trong đào tạo ĐH ở nước ta chưa nhằm vào mục đích
đại chúng hoá GDĐH. Công tác tín chỉ hoá các chương trình đào tạo được bắt đầu bằng
việc chuyển đổi cơ học từ số lượng đơn vị học trình sang số lượng tín chỉ, trong khi đội
ngũ GV chưa được đào tạo và bồi dưỡng một cách có hệ thống và hiệu quả về triết lý
giáo dục và các phương pháp dạy học mới phù hợp với phương châm giáo dục “lấy người
học làm trung tâm”.
2.1.2. Quản lý ĐGKQHT trong đào tạo theo HTTC hiện nay
Quản lý ĐGKQHT của SV là khâu hết sức quan trọng trong đào tạo theo HTTC đã
được Đảng, Nhà nước và Ngành Giáo dục- Đào tạo rất quan tâm chỉ đạo và tổ chức thực
hiện. Đại hội Đảng IX đã chỉ đạo “cải tiến chế độ thi cử,..., ngăn chặn những tiêu cực
trong giáo dục. Quản lý chặt chẽ việc cấp bằng, công nhận học hàm, học vị” .
Do điều kiện hạn chế về các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tin lực, ... ), hiện nay các
trường ĐH ở Việt Nam triển khai đào tạo theo HTTC còn ở các cấp độ khác nhau; tùy

- Nhiều trường đã triển khai xây dựng ngân hàng đề thi hết học phần cho các môn học.
- Các môn học chung và một số môn học cơ sở ngành tổ chức thi trắc nghiệm trực tuyến
trên máy tính đưa lại hiệu quả cao.
- Bước đầu hình thành kỹ năng tự ĐG của SV trong quá trình học tập tích lũy kiến thức.
- Một số phương pháp đánh giá tiên tiến được đưa vào áp dụng trong tổ chức thi hết học
phần; số bài thi/kiểm tra bằng thực hành, thí nghiệm được tăng lên.
- Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của CBQL và GV về công tác khảo thí còn hạn chế,
chưa theo kịp với GDĐH các nước trong khu vực và quốc tế.
- Kỹ năng biên soạn, biên tập ngân hàng đề thi, nhất là đề thi trắc nghiệm các môn học
còn gặp nhiều khó khăn.
- Tổ chức quản lý coi thi, chấm thi còn nhiều hạn chế, chưa có sự thống nhất, thực hiện
thủ công, làm mất nhiều thời gian và công sức của GV và SV.
- Kế hoạch kiểm tra- đánh giá các môn học chưa được thực hiện nền nếp, chưa có sự đôn
đốc, kiểm tra giám sát của các bộ phận liên quan.
- Sự phối hợp của các đơn vị trong tổ chức, thực hiện ĐGKQHT của SV chưa nhịp nhàng
và hợp lý.
- Ứng dụng CNTT vào quản lý ĐGKQHT còn hạn chế.
- Cơ sở vật chất phục vụ ĐGKQHT và quản lý ĐGKQHT chưa đáp ứng phương thức đào
tạo theo HTTC.
- Các trường chưa khuyến khích, tạo điều kiện để GV đổi mới các phương pháp đánh giá
tiên tiến, chưa đa dạng các hình thức kiểm tra- đánh giá.


16

2.3. Kinh nghiệm của một số nước về ĐGKQHT và quản lý ĐGKQHT trong đào tạo
theo HTTC
2.3.1. Kinh nghiệm của Australia
2.3.2. Kinh nghiệm của Vương quốc Anh
2.3.3. Kinh nghiệm của Hoa Kỳ

3.2.3. Biện pháp 3: Hoàn thiện quy trình quản lý các hình thức ĐGKQHT phù hợp với
đào tạo theo HTTC
3.2.4. Biện pháp 4: Xây dựng cơ chế phối hợp giữa các đơn vị quản lý ĐGKQHT để triển
khai hệ thống phần mềm chuyên dụng đáp ứng yêu cầu đào tạo theo HTTC
3.2.5. Biện pháp 5: Thiết lập các điều kiện về vật chất và môi trường hỗ trợ cho hoạt
động ĐGKQHT của SV trong đào tạo theo HTTC
3.3. Mối liên hệ giữa các biện pháp
Các biện pháp quản lý chính là sự tác động của chủ thể quản lý lên khách thể quản
lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý. Hệ thống các biện pháp nêu trên được xác lập từ cơ
sở lý luận và thực tiễn thể hiện rõ mục tiêu nghiên cứu của đề tài: Quản lý ĐGKQHT của
SV trong đào tạo theo HTTC ở trường đại học. Mỗi biện pháp quản lý đã trình bày đều
có vai trò quan trọng và phù hợp với từng nhiệm vụ cụ thể của công tác quản lý nhằm tác
động đến quá trình ĐGKQHT của SV; đồng thời các biện pháp quản lý này có mối liên
hệ, tác động qua lại lẫn nhau và tạo thành một chỉnh thể thống nhất để thúc đẩy nhau phát
triển; thực hiện biện pháp quản lý này là điều kiện và cơ sở để thực hiện biện pháp quản
lý kia và ngược lại. Vì vậy, quản lý ĐGKQHT của SV không thể thực hiện các biện pháp
riêng lẻ mà cần thực hiện một cách đồng bộ, nhất quán nhằm phát huy tác dụng tổng hợp
của chúng.
3.4. Khảo sát ý kiến đánh giá về các biện pháp quản lý ĐGKQHT của SV trong đào
tạo theo HTTC
Qua số liệu khảo sát cho thấy tính cấp thiết của các biện pháp được đề xuất nhằm
nâng cao chất lượng quản lý ĐGKQHT của SV trong đào tạo theo HTTC được đánh giá
cao; trong đó Biện pháp 4: Xây dựng cơ chế phối hợp giữa các đơn vị quản lý ĐGKQHT
để triển khai hệ thống phần mềm chuyên dụng đáp ứng yêu cầu đào tạo theo HTTC
(ĐTB=2.75) được đánh giá cao hơn; hệ thống phần mềm hỗ trợ quản lý ĐGKQHT giúp
cho các đơn vị có sự gắn kết và phối hợp chặt chẽ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ đưa
lại hiệu quả cao, thay đổi phương thức làm việc trong quản lý kiểm tra- đánh giá; tiếp đến
là Biện pháp 5 Thiết lập các điều kiện về vật chất và môi trường hỗ trợ cho hoạt động
ĐGKQHT của SV trong đào tạo theo HTTC (ĐTB=2.73).
Số liệu khảo sát ý kiến của CBQL và GV về tính cấp thiết, tính khả thi của 5 biện

giả định từ tháng 6/2013.
- Giai đoạn 2: Từ tháng 8/2013 đến tháng 1/2014: triển khai thực hiện hệ thống phần
mềm quản lý ĐGKQHT của SV tại Khoa Cơ khí và Khoa Quản trị kinh doanh; nhờ các
quy trình đã xây dựng ở giai đoạn 1 sát với thực tế và phù hợp với công nghệ nên trong
quá trình triển khai không để xẩy ra sai sót.
- Giai đoạn 3: Triển khai thực hiện đại trà cho tất cả các đơn vị đào tạo trong toàn trường
từ tháng 1/2014 đến nay; thực hiện Hệ thống phần mềm đã tạo nên sự thống nhất trong
toàn trường về quy trình, thủ tục triển khai công tác kiểm tra- đánh giá; đổi mới được


19

phương thức làm việc trong công tác quản lý ĐGKQHT của SV chuyển dần từ các giao
dịch trực tiếp sang giao dich trực tuyến thông qua mạng internet; rút ngắn được thời gian
tổ chức thực hiện trong kiểm tra- đánh giá; sắp xếp phòng thi, ca thi trở nên hợp lý hơn;
đảm bảo chính xác, kịp thời trong kiểm tra- đánh giá; đạt hiệu quả kinh tế cao.
* Tiêu chí và thang đo
Đánh giá tính hiệu quả của việc áp dụng hệ thống phần mềm hỗ trợ quản lý
ĐGKQHT của SV trong đào tạo theo HTTC tại trường ĐH Điện lực theo các tiêu chí:
1. Thống nhất được quy trình tổ chức, quản lý thi hết học phần các môn học trong trường;
rút ngắn được thời gian thực hiện trong các khâu của quá trình tổ chức ĐGKQHT; đưa lại
hiệu quả kinh tế cao.
2. Đảm bảo chính xác, khách quan, công bằng trong ĐGKQHT
3. Tạo nên sự gắn kết, phối hợp của các đơn vị trong quá trình thực hiện ĐGKQHT,
chuyển từ giao dịch trực tiếp sang giao dịch trực tuyến trong quản lý ĐGKQHT.
3.5.2. Kết quả thực nghiệm
3.5.2.1. Đánh giá trước thực nghiệm
Để thấy được hiệu quả của hệ thống phần mềm hỗ trợ quản lý ĐGKQHT, trước
khi thực nghiệm chúng tôi đã tiến hành đánh giá mức độ phối hợp giữa các đơn vị và
hiệu quả thực hiện công tác quản lý ĐGKQHT bằng cách khảo sát ý kiến của 35CBQL,

công chấm thi cũng được Hệ thống chuyển vào tài khoản cá nhân của GV những thông
tin cần thiết từ túi bài thi, ngày giờ nhận bài, thời gian hoàn thành, quá thời gian quy định
thì phải xử lý như thế nào, ai là người chịu trách nhiệm. Phần mềm quản lý ĐGKQHT
triển khai tại Trường ĐH Điện lực đã thực sự làm thay đổi cách làm trong hoạt động
ĐGKQHT của SV, nó trở nên chuyên nghiệp và đồng bộ; đảm bảo tính chính xác, khách
quan, công bằng trong thi cử tại trường, đáp ứng yêu cầu đánh giá theo quá trình của đào
tạo theo HTTC.
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận
Qua tìm hiểu cơ sở lý luận về quản lý ĐGKQHT trong đào tạo theo HTTC, phân
tích cơ sở thực tiễn về quản lý ĐGKQHT của SV tại các trường ĐH hiện nay, tìm hiểu
kinh nghiệm một số nước có nền GDĐH phát triển để đề xuất năm biện pháp quản lý
ĐGKQHT của SV trong đào tạo theo HTTC ở trường ĐH Việt Nam, tác giả có một số
kết luận sau đây:
1.1. ĐGKQHT có vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong đào tạo- xác nhận trình độ, năng
lực nguồn nhân lực chất lượng cao của nền kinh tế tri thức, do đó ĐGKQHT được nhiều
nhà khoa học trên thế giới quan tâm nghiên cứu, phát triển và đã đạt được những thành tựu to
lớn. ĐGKQHT không chỉ xác nhận KQHT của người học mà còn tạo động lực để nâng cao
chất lượng học tập của người học. Các nghiên cứu đổi mới ĐGKQHT và quản lý ĐGKQHT
đều tập trung hướng tới mục tiêu đánh giá chính xác, khách quan, công bằng kết quả học tập


21

của người học và tạo động lực thúc đẩy nâng cao chất lượng dạy- học của cả người dạy và
người học.
Đổi mới quản lý ĐGKQHT là một yêu cầu cấp thiết cần được thực hiện nhằm đáp
ứng phương thức đào tạo theo HTTC; khác với đào tạo theo niên chế, đào tạo theo HTTC
đòi hỏi công tác ĐGKQHT phải được thực hiện theo quá trình dạy- học với các hình thức đa
dạng, nội dung phong phú và được quy định cụ thể trong quy chế đào tạo, coi đánh giá là

thế phát triển của GDĐH là cơ sở thực tiễn quan trọng để tác giả đề xuất các biện pháp
quản lý ĐGKQHT trong đào tạo theo HTTC tại các trường ĐH hiện nay.
1.3. Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, luận án đã xây dựng các nguyên tắc làm cơ sở đề
xuất năm biện pháp quản lý ĐGKQHT của SV trong đào tạo theo HTTC tại trường ĐH:
1. Bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho CBQL và GV về ĐGKQHT trong đào tạo theo
HTTC.
2. Lập kế hoạch ĐGKQHT phù hợp với phương thức đào tạo theo HTTC.
3. Hoàn thiện các quy trình quản lý các hình thức ĐGKQHT phù hợp với đào tạo theo
HTTC.
4. Xây dựng cơ chế phối hợp giữa các đơn vị quản lý ĐGKQHT để triển khai hệ thống
phần mềm chuyên dụng đáp ứng yêu cầu đào tạo theo HTTC.
5. Thiết lập các điều kiện về vật chất và môi trường hỗ trợ cho hoạt động ĐGKQHT của
SV trong đào tạo theo HTTC.
Số liệu khảo sát ý kiến của CBQL và GV về tính cấp thiết, tính khả thi của 5 biện
pháp tác giả đề xuất lần nữa khảng định tính thực tiễn của các biện pháp và khả năng áp
dụng thành công là rất lớn. Để minh chứng cho nhận định này chúng tôi đã và đang triển
khai hệ thống phần mềm hỗ trợ quản lý ĐGKQHT của SV chính quy tại Trường ĐH
Điện lực.
Kết quả thực nghiệm của Biện pháp 4 đã thực sự làm đổi mới cơ chế phối hợp
giữa các đơn vị trong quản lý ĐGKQHT tại Trường ĐH Điện lực; giúp cho nhà trường
đạt được hiệu quả cao trong quản lý ĐGKQHT của SV hệ chính quy: Tất cả các nghiệp
vụ ĐGKQHT được tương tác thông qua mạng internet làm giảm thiểu thời gian, công sức
cho CBQL, GV và SV; làm tăng thêm tính chính xác, khách quan, công bằng, minh bạch
trong ĐGKQHT, đổi mới công tác quản lý ĐGKQHT trong đào tạo theo HTTC- từng
bước chuyển các giao dịch trực tiếp sang giao dịch trực tuyến thông qua hệ thống phần
mềm, tạo nên sự gắn kết và phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị trong quá trình thực hiện
nhiệm vụ.
2. Khuyến nghị
2.1. Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo
Tiếp tục triển khai thực hiện Nghị quyết số 44/NQ-CP ngày 09/6/2014 về Chương

thức đào tạo theo HTTC các trường ĐH cần phân công nhiệm vụ cụ thể trong từng khâu
của ĐGKQHT cho các đơn vị trong trường, tạo cơ chế phối hợp nhịp nhàng giữa các đơn
vị để ĐGKQHT được thực hiện theo đúng quy chế, quy đinh. Tăng cường năng lực
chuyên môn cho đơn vị chuyên trách về công tác khảo thí và đảm bảo chất lượng giáo
dục, hình thành hệ thống kiểm tra- đánh giá độc lập với quá trình dạy- học, hướng tới
đánh giá năng lực người học vận dụng kiến thức, kỹ năng vào giải quyết các vấn đề thực
tiễn cuộc sống; coi trọng năng lực tự đánh giá của người học. Kết quả của ĐGKQHT phải
được phân tích tổng hợp để có những kết luận xác đáng về chất lượng đào tạo, thực sự là



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status