tư tưởng pháp quyền của Jean Jacques Rousseau trong tác phẩm Bàn về khế ước xã hội - Pdf 33

1

MỤC LỤC

PHẦN A. MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Trong dòng chảy của lịch sử triết học, triết học Khai sáng thế kỷ XVIII là
sự kế thừa và phát triển các khuynh hướng tư tưởng triết học thế kỷ XVII. Ý
tưởng chung của các nhà Khai sáng là lý tưởng xây dựng về sự tiến bộ xã hội.
Những tác phẩm của họ là những lý luận của giai cấp tư sản trong thời kỳ
chuẩn bị cách mạng. Họ mong muốn phải thay chế độ cũ bằng một chế độ xã
hội mới tốt đẹp hơn. Rousseau là một trong những đại diện tiêu biểu của triết
học Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII, đồng thời cũng là một trong những người
đã đặt nền móng tư tưởng cho cuộc đại cách mạng tư sản Pháp và cho cuộc
đấu tranh vì tự do, dân chủ ở khắp nơi trên thế giới. Với tinh thần đấu tranh
cho sự phát triển của xã hội, ông đã dành toàn bộ thời gian, sức lực viết
những tác phẩm để bênh vực quyền tự do, bình đẳng.
Tư tưởng đó của Rousseau là đóng góp vô cùng quan trọng trong học
thuyết triết học chính trị - xã hội của ông, là một trong những hiện tượng quan
trọng nhất của tư tưởng xã hội châu Âu thế kỷ XVIII. Ông đưa ra tư tưởng
xây dựng một xã hội mà trong đó con người có quyền tự do và bình đẳng – là
những quyền tất yếu, tự nhiên của con người. Tư tưởng đó của ông có một
tầm ảnh hưởng đáng kể đến lịch sử tư tưởng phương Tây từ thế kỷ XVIII đến


2

nay. Phạm vi ảnh hưởng của tư tưởng ấy không chỉ dừng lại ở nước Pháp, ở
châu Âu mà còn ở nhiều nước trên thế giới.
"Bàn về khế ước xã hội" là tác phẩm nổi bật nhất trong số các tác phẩm

Nền công nghiệp của Pháp phát triển tản mạn, sản xuất hàng hóa tiêu
dùng thông thường không phát triển. Còn nông nghiệp là lĩnh vực kinh tế
chính của Pháp thế kỷ XVIII, nhưng nhìn chung vẫn mang tính lạc hậu, công
cụ và phương thức canh tác rất lạc hậu, 1/3 đất đai bị bỏ hoang, năng suất
hàng năm thấp.
Tóm lại, đời sống kinh tế của nước Pháp đầu thế kỷ XVIII phản ánh sâu
sắc nhiều mâu thuẫn lợi ích giữa các giai cấp trong xã hội. Đây chính là một
trong những nguyên nhân dẫn đến sự bùng nổ của các cuộc đấu tranh, các
phong trào đòi quyền tự do, dân chủ cho con người.
Tình hình xã hội:
Nhờ sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, giai cấp tư
sản Pháp đã kịp trở thành một lực lượng nắm trong tay quyền lực kinh tế.
Trong khi đó, toàn bộ quyền lực chính trị vẫn tiếp tục nằm trong tay tầng lớp
phong kiến thống trị. Triều đình phong kiến Pháp loại bỏ quyền bình đẳng của
con người trước luật. Phong trào phản khán ngày càng lớn mạnh nhằm mục
tiêu thủ tiêu quan hệ sản xuất phong kiến và thiết lập của chế độ xã hội mới tư
bản chủ nghĩa.


6

Những năm 40 của thế kỷ XVIII, các triết gia theo chủ nghĩa duy vật
được hình thành, mở đầu cho sự xuất hiện phong trào khai sáng ở Pháp. Họ
đã dương cao ngọn cờ tư tưởng dân chủ, tư do, bình đẳng, bác ái. Đứng trước
hoàn cảnh đó, yêu cầu cấp thiết là phải xây dựng một xã hội, một chế độ bảo
vệ quyền lợi cho con người, đấu tranh chống lại các thế lực áp bức đó. Tư
tưởng pháp quyền của Rousseau đã ra đời trong hoàn cảnh và điều kiện như
thế.
7. Khái quát cuộc đời và tác phẩm "Bàn về khế ước xã hội"
Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp của Jean - Jacques Rousseau:

cuộc đấu tranh chính trị. Năm 1762, Rousseau viết “Bàn về khế ước xã hội’’.
Tác phẩm được đánh giá là một loại sách như Tuyên ngôn Đảng Cộng sản của
K. Marx, F. Engel ra đời năm 1848. Trong đó, Rousseau đã công khai tuyên
bố lập trường chính trị cấp tiến của ông - đấu tranh cho tự do, bình đẳng và
dân chủ, cho nền cộng hòa và chống lại chính thể quân chủ chuyên chế.
Có thể thấy, cuộc đời của Rousseau phần lớn thời gian ông sống trong
nghèo khó. Với tinh thần độc lập suy nghĩ, ông ôm ấp lý tưởng tự do, bình
đẳng và dành hết thời gian cho những áng văn chương bênh vực tự do, bình
đẳng.
Ông mất vào ngày 2 tháng 7 năm 1778.
Tác phẩm "Bàn về khế ước xã hội".
Tác phẩm “Bàn về khế ước xã hội’’ của Rousseau ra đời năm 1762, được
nhiều học giả đánh giá như Tuyên ngôn Đảng Cộng sản của Marx, Engel ra
đời năm 1848. Về nguồn gốc của tác phẩm, tác giả viết: “Luận văn nhỏ này
trích từ một công trình nghiên cứu rộng lớn mà trước kia tôi đã viết, nhưng vì
chưa lượng được sức mình nên phải bỏ đi từ lâu” (1). Tư tưởng của tác phẩm là
mọi quyền lực thuộc về nhân dân và một nền dân chủ trực tiếp. Đây là tư

1(1) Bàn về khế ước xã hội. Thanh Đạm dịch, 2004, Tr.10.


8

tưởng mấu chốt để cai trị một nền cai trị vững chắc để đối đãi con người như
con người.
Về mục đích cuốn sách, tác giả viết: “Tôi muốn tìm xem trong trật tự dân
sự có hay không một số quy tắc cai trị chính đáng, vững chắc, biết đối đãi với
con người như con người. Và có hay không luật pháp đúng với ý nghĩa chân
thực của nó”(2). Với luận văn này, Rousseau muốn “gắn liền cái mà luật pháp
cho phép làm với cái mà lợi ích thúc đẩy phải làm, khiến cho công lý và lợi

đảm bảo thực hiện được tự do chính trị.
Voltaire là một trong những nhân vật đại diện nổi tiếng trong phong trào
Khai sáng. Ông đề nghị phá tan những ưu quyền của giới quý tộc, giới giáo
quyền, và thay đổi hẳn các luật lệ đánh thuế. Ông đã kêu gọi cho quyền tự do
ngôn luận, báo chí, tín ngưỡng và sự công bình của mọi giai cấp trước luật
pháp.
Thì theo Rousseau, bản chất con người là tự do, nhưng “Người ta sinh ra
là tự do, nhưng rồi đâu đâu con người cũng sống trong xiềng xích, và mong
ước con người hất bỏ được cái ách áp bức đi và giành lại quyền tự do mà họ
được hưởng”(4).
Từ việc bênh vực quyền sống, quyền tự do, bình đẳng của con người,
Rousseau đi đến tìm hiểu tình trạng bất bình đẳng và lý giải vì sao con người
trong quá trình tồn tại lại sống trong cảnh bất bình đẳng, trái với quy luật tự
nhiên, với bản chất tự nhiên của họ như vậy.
Jean - Jacques Rousseau nhấn mạnh “tự do như bản tính tự nhiên của con
người, và do đó theo ông, từ bỏ tự do là từ bỏ phẩm chất của con người, từ bỏ
nghĩa vụ quyền làm người”(5). Theo ông trong "trạng thái tự nhiên", một trạng
thái ban đầu giả định, mọi người đều tự do và bình đẳng, trong trạng thái đó
4() Sđd, Tr.27.
5() Sđd, Tr.34.


10

chỉ có một dạng bất công là thể chất, xuất phát từ sức khỏe và tuổi tác khác
nhau của từng người. Đây là sự bất bình đẳng tự nhiên, dựa trên năng lực vốn
có của mỗi cá nhân, do tự nhiên đem lại. Sự bất bình đẳng thứ hai là sự bất
bình đẳng giữa người và người, Rousseau gắn bất bình đẳng xã hội với sự
xuất hiện tư hữu nảy sinh trong quá trình hoàn thiện công cụ sản xuất cũng
như với những lầm lạc của con người.

pháp quyền, con người tuy không đồng đều nhau về thân thể và trí tuệ vẫn
được hoàn toàn bình đẳng ngang nhau”(9). Có thể nói đây là điểm khác biệt cơ
bản giữa Rousseau va Hobbes trong cách hiểu về thực chất quá trình con
người chuyển từ trạng thái tự nhiên sang trạng thái công dân. Hobbes hạn chế
tự do, Rousseau thể chế hóa tự do. Rousseau lưu ý: “Cần phân biệt tự do thiên
nhiên chỉ hạn chế chật hẹp trong khả năng sức lực của một cá nhân với quyền
tự do công dân, mà giới hạn rộng rãi là ý chí chung của nhiều người” 10. Tư
tưởng dân chủ của Rousseau thể hiện ở việc khẳng định quyền lực thống nhất
của ý chí chung. Cơ sở của quan điểm này là “nếu không có một điểm chung
nào đó để cho các lợi ích hài hòa được với nhau thì không một xã hội nào có
thể tồn tại” . Vì “ý chí chung” luôn hướng tới lợi ích chung nên nó trở thành
luật cho tất cả, là cơ quan quyền lực tối cao, không thể từ bỏ. Quyền lực của
“ý chí chung”, do đó là tuyệt đối, không phân chia và bất khả xâm phạm. Các
cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp đều chịu sự kiểm soát và điều khiển
bởi “ý chí chung”, bởi lẽ mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân. Nguyên tắc
của “ý chí chung” là “mỗi người ràng buộc với tất cả vì tất cả ràng buộc với
mỗi người”. Hơn nữa, phương án khế ước xã hội của Rousseau khác với
Hobbes ở quan niệm về sự chuyển quyền từ trạng thái tự nhiên sang trạng thái
công dân. Đối với Hobbes ổn định xã hội là cơ sở hiện thực để đảm bảo hòa
bình và phát triển kinh tế, và ông hy sinh tự do tự nhiên để buộc các công dân
8() Sđd, Tr.46.
9() . Sđd, Tr.51.
10. Sđd, Tr.47.


12

tuân phục ý chí của Đấng chủ tể. Mô hình nhà nước hợp lý ở đây là quân chủ
chuyên chế. Ngược lại, đối với Rousseau tự do tự nhiên cần được đảm bảo
bằng luật pháp, để mỗi công dân sử dụng một cách có ý thức quyền thiêng

viên. Mỗi thành viên trong khi khép mình vào tập thể, dùng sức mạnh tập thể,
vẫn được tự do đầy đủ như trước, vẫn chỉ tuân theo chính bản thân mình” (12).
Khế ước được coi là sự thỏa thuận giữa những chủ thể bình đẳng với nhau
chứ không phải giữa nhà cầm quyền và thần dân. Rousseau cho rằng, quyền
công dân của con người chỉ xuất hiện khi hình thành xã hội cho nên con
người phải trao quyền hành lại cho cộng đồng khi liên kết với nhau để tổ chức
thành xã hội. Toàn thể thành viên trong cộng đồng xã hội sẽ trở thành một tập
thể chính trị với quyền hành tối thượng. Khế ước bác bỏ những đặc quyền
đặc lợi của bất cứ cá nhân nào, qua đó chống lại tư tưởng phong kiến về đẳng
cấp quý tộc hay chế độ vua quan theo kiểu cha truyền con nối.
Con người liên kết qua khế ước và từ bỏ quyền tự do sống theo cảm xúc
cá nhân. Khế ước xã hội giúp con người chống lại những nguy cơ bị áp bức,
bóc lột bởi "những kẻ mạnh hơn". Nhà nước ra đời trên cơ sở khế ước xã hội
với mục đích, nhiệm vụ là bảo vệ và bảo đảm các quyền tự do, bình đẳng đó.
Bản chất quyền lực của nhà nước:
Quyền lực tối cao thể hiện cho bản chất của nhà nước:
Kẻ mạnh không phải lúc nào cũng đủ mạnh để mãi mãi làm người thống
trị, nếu như hắn ta không chuyển lực thành quyền và chuyển sự phục tùng
thành nghĩa vụ thì đối với Nhà nước được lập lên từ khế ước xã hội thực ra đó
cũng là quyền của kẻ mạnh nhưng được thiết lập trên những nguyên tắc và thể
hiện ý chí chúng, đó là quyền lực của tập thể giao lại cho nhóm người đại diện
nhằm đảm bảo trật tự xã hội.
Theo Rousseau, quyền lực tối cao hay chủ quyền tối cao chính là sự thực
hiện ý chí chung nhằm phục vụ lợi ích chung, tạo ra sự hài hòa về lợi ích và
12() Sđd, Tr.40.


14

đảm bảo cho sự tồn tại, phát triển của xã hội: “Quyền lực tối cao được thiết

ông quan toà sẽ có sức mạnh của kẻ đàn áp.


16

Nếu một người hay một tổ chức của quan chức, hoặc của quý tộc, hoặc
của dân chúng nắm luôn cả ba thứ quyền lực nói trên thì tất cả sẽ mất hết(14).
Montesquieu tiếp tục bàn về ba quyền đó như sau:
Bàn về quyền tư pháp: ông mong muốn sao cho người dân chỉ biết sợ cơ
chế cai trị mà không sợ các ông quan.
Bàn về quyền lập pháp: Ông yêu cầu mỗi công dân đều được bỏ phiếu cử
ra đại biểu của địa phương mình để tham gia vào nghị viện quốc gia. Các đại
biểu thay mặt cho một tập đoàn dân chúng phải báo cáo lại công việc đã bàn
với các cử tri đã bầu ra mình
Bàn về quyền hành pháp: Montesquieu cho rằng quyền hành pháp phải
nằm trong tay một vị vua chúa. Cơ quan hành pháp là nơi chấp hành luật do
cơ quan lập pháp ban hành, nhưng nó lại có quyền ngăn cản các dự định của
cơ quan lập pháp. Kỳ hạn họp cơ quan lập pháp do hành pháp quy định. Quân
đội không thể trao cho cơ quan lập pháp mà phải do cơ quan hành pháp quản
lý. Nhưng để cho người hành pháp không thể dùng quân đội đàn áp dân
chúng thì quân đội phải mang tính chất nhân dân.
Tuy tư tưởng theo thuyết "tam quyền phân lập" ông mang giá trị thời đại,
thiết lập một trật tự xã hội hẳn hoi, đặt quyền tự do của con người trong mối
quan hệ của pháp luật. Cũng như Montesquieu Rousseau cũng xây dựng nhà
nước với ba cơ quan với ba quyền cơ bản nhưng Rousseau đã không đồng
tình và ông chống lại quan điểm phân quyền của Montesquieu, theo ông một
nhà nước để đảm bảo quyền tự do và bình đẳng cho mọi người dân và thể
hiện cách thức tổ chức quyền lực nhà nước bao gồm:
o


do, bình đẳng của con người.
o

Hành pháp:

15() .Sđd,, Tr.71.


18

Rousseau nhấn mạnh:“Chớ lẫn lộn chính phủ với cơ quan quyền lực tối
cao. Chính phủ chỉ là các bộ của Nhà nước mà thôi”. Vậy chính phủ là gì?
Chính phủ là một cơ thể trung gian giữa các thần dân với cơ quan quyền lực
tối cao, để hai bên tương ứng với nhau, thi hành các luật, giữ gìn quyền tự do
dân sự cũng như tự do chính trị.
Cơ thể trung gian này chỉ là một ủy viên hội, một cơ quan thực hành,
trong đó các viên chức thực hiện những điều mà các cơ quan quyền lực tối
cao kia ủy thác, cơ quan quyền lực tối cao có thể hạn chế, hoặc thu hồi quyền
hành của các viên chức đó. Tên gọi sự thực hiện quyền hành pháp theo đúng
luật là “Chính phủ”, hoặc là “Cơ quan cai trị tối cao”. Con người hoặc tổ chức
được ủy thác làm việc cai trị ấy thì gọi là “vị nguyên thủ” hoặc “pháp quan”.
“Phải sắp xếp thế nào để luôn luôn có thể sẵn sàng hy sinh Chính phủ vì
nhân dân chứ không phải hy sinh nhân dân vì Chính phủ”.
“Chính phủ có thể được thành lập chỉ bằng một nghị định giản đơn theo
ý chí toàn dân, chính phủ lâm thời ra đời và được chấp nhận. sau đó cơ quan
quyền lực tối cao ban hành một đạo lực chính thức thành lập chính phủ. Mọi
điều trong quá trình này đều hợp với qui tắc”(16).
Theo ông, trong một mước, ý chí của toàn dân thể hiện ở cơ quan lập
pháp hay cơ quan quyền lực tối cao còn sức mạnh quốc gia thể hiện ở cơ quan
hành pháp tức là chính phủ. Chính phủ mạnh thể hiện quốc gia càng đông,

cao nhất ban hành và do chính phủ chấp hành có mối liên hệ mật thiết với
công luận của nhân dân.
o

Quan hệ giữa các cơ quan đó với nhau:
Theo Rousseau,các cơ quan này thồng nhất với nhau, tạo thành một

chính thể thống nhất không thể tách rời. Ông đã lấy cơ thể của một con người
để thấy được mối liên hệ đó. Ông nhấn mạnh:“Nguyên lí của cuộc sống chính
trị nằm trong quyền uy tối cao. Quyền lập pháp là trái tim của mỗi quốc gia,
quyền hành pháp là bộ não làm cho các bộ phận hoạt động. Bộ não có lúc bị

17() .Sđd, Tr.173.


20

tê liệt mà người vẫn còn sống được môt cách đần độn, nhưng khi trái tim
ngừng đập thì con người chết ngay lập tức”(18).
Nếu cơ quan quyền lực tối cao (vốn làm chức năng lập pháp) muốn trực
tiếp cai trị; hoặc các pháp quan (vốn làm chức năng hành pháp) lại muốn
đứng ra ban bố luật; hoặc các thần dân lại không muốn phục tùng, thì lập tức
nước nhà xảy ra lộn xộn; sức mạnh và ý chí không tác động hài hòa; đất nước
sẽ sa vào tình trạng chuyên chế hoặc vô chính phủ.
Bởi sự khác biệt chủ yếu giữa hai cơ thể nói trên mà quốc gia mới tồn tại
do tự bản thân nó, và chính phủ thì tồn tại do cơ quan quyền lực tối cao, cho
nên ý chí cao nhất của chính phủ phải là ý chí chung, phải là luật. Sức mạnh
của chính phủ chỉ là sức mạnh công cộng quy tụ vào nó. Nếu chính phủ
muốn tùy tiện xì ra một hành động chuyên quyền thì mối quan hệ toàn cục sẽ
bắt đầu lơi lỏng. Cuối cùng, nếu như chính phủ có ý chí riêng mạnh hơn cả ý

người sinh ra và tồn tại trong cộng đồng. Theo ông, mục tiêu của chính quyền
là bảo vệ tự do, bình đẳng và công lý cho mọi người trong nhà nước.
Rousseau yêu cầu phải xóa bỏ sự bất bình đẳng, thiết lập một chế độ xã hội
công bằng cho tất cả mọi người.
Rousseau đã lên tiếng bênh vực cho tư tưởng về một nhà nước dân chủ
đại diện cho ý chí chung của toàn thể nhân dân, tư tưởng về chủ quyền nhân
dân, về quyền lực tối cao thông qua quan niệm về khế ước xã hội, nhất là
quan niệm về nguồn gốc tự nhiên của nhà nước cho rằng, nhà nước là kết quả
thỏa thuận giữa con người với con người nhằm bảo đảm các quyền và hạnh
phúc của mình. Tất cả mọi mô hình, hình thức chính phủ đều phải đặt ý chí
chung này là tiêu chí đầu tiên và cao nhất, tức là phải đảm bảo được các
quyền tất yếu cho con người đồng thời bảo vệ cho các quyền đó.


22

PHẦN C. KẾT LUẬN
Rousseau chiếm một vị trí đặc biệt trong phong trào khai sáng Pháp thế
kỷ XVIII,là một nhà đại diện tiêu biểu cho chủ nghĩa suy tình Pháp của thế hệ
cách mạng nhất trong phong trào Khái sáng Pháp. Với chủ đề triết học của
Rousseau là số phận của cá nhân, số phận con người, bình dân từ nhân dân, ý
chí nghị lực và tự do của họ mà ông đã đưa ra một chủ nghĩa dân chủ của một
nhà tư tưởng luôn phản ánh lợi ích của bộ phận nghèo khó và bất hạnh nhất
trong xã hội Pháp thể kỷ XVIII. Với nguyên nhân chính là sự phân hóa xã hội
thành kẻ đi tước đoạt và người bị tướt đoạt, kẻ giàu và người nghèo là nguyên
nhân chính của tình trạng bất bình đẳng không bao giờ được sang lấp. Do đó
mà ông đã đưa ra quan điểm về khế ước xã hội thông qua tư tưởng dân chủ.
Tư tưởng dân chủ của Rousseau trong tác phẩm "Bàn về khế ước xã hội"
có ảnh hưởng và giá trị lịch sử lớn lao, thể hiện qua sự tác động đến thành
công của cuộc cách mạng tư sản Pháp năm 1789. Rousseau muốn cải tạo xã

của con người trong một nhà nước pháp quyền. Bởi vậy, việc nghiên cứu tư
tưởng dân chủ của Rousseau có vai trò to lớn trong việc xây dựng thể chế
chính trị của nhiều quốc gia trên thế giới.


24

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.

Hoàng Thanh Đạm: Bàn về khế ước xã hội. Nxb Đà Nẵng, 2004.

2.

Hoàng Thanh Đạm: Bàn về tinh thần pháp luật. Nxb Lý luận Chính trị, Hà
Nội, 2004.

3.

Nguyễn Hữu Vui, Lịch sử triết học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998.

4.

Ngô Thị Mỹ Dung: Triết học pháp quyền Tây Âu (Sách tham khảo), TP Hồ
Chí Minh, 2012.

5.

Nguyễn Tiến Dũng, Lịch sử triết học phương Tây, Nxb Tổng hợp, TP Hồ Chí


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status