1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VŨ THỊ KHUYÊN TƢ TƢỞNG DÂN CHỦ CỦA ROUSSEAU
TRONG TÁC PHẨM “BÀN VỀ KHẾ ƢỚC XÃ HỘI”
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2012
2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
03
PHẦN NỘI DUNG……………………………………………………
10
Chƣơng 1: BỐI CẢNH VÀ TIỀN ĐỀ RA ĐỜI TƢ TƢỞNG DÂN
CHỦ CỦA JEAN JACQUES ROUSSEAU TRONG TÁC PHẨM
“BÀN VỀ KHẾ ƯỚC XÃ HỘI”…………………… …………… 10
1.1. Bối cảnh kinh tế - xã hội ra đời tƣ tƣởng dân chủ của J.
J. Rousseau trong tác phẩm “Bàn về khế ước xã hội”……….
10
1.1.1. Tình hình kinh tế nước Pháp trước cách mạng……
10
1.1.2. Bối cảnh chính trị - xã hội…………………………
14
1.2. Tiền đề lý luận cho sự ra đời tƣ tƣởng dân chủ của J. J.
Rousseau………………………………………………………
16
1.2.1. Tư tưởng dân chủ trước J. J. Rousseau……………
16
1.2.2. Tư tưởng dân chủ của phong trào Khai sáng……….
23
1.3. Khái quát về cuộc đời và tác phẩm “Bàn về khế ước xã
hội” của J. J. Rousseau
29
1.3.1. Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp của J. J. Rousseau
luật pháp……………………………………………………
54
2.2.3. Lập pháp là đỉnh cao nhất của sức mạnh toàn dân…
57
2.3. Biện pháp ngăn chặn nguy cơ chính phủ lạm quyền và
cƣớp quyền
61
2.4. Đánh giá tƣ tƣởng dân chủ của J. J. Rousseau trong tác
phẩm “Bàn về khế ước xã hội”
67
KẾT LUẬN.…… …
73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………….
76
7
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong dòng chảy của lịch sử triết học, triết học Khai sáng thế kỷ XVIII
là sự kế thừa và phát triển các khuynh hƣớng tƣ tƣởng triết học thế kỷ XVII.
Ý tƣởng chung của các nhà Khai sáng là lý tuởng về sự tiến bộ xã hội. Những
tác phẩm của họ là vũ khí lý luận của giai cấp tƣ sản trong thời kỳ chuẩn bị
cách mạng. Họ đòi hỏi phải thay chế độ cũ bằng một chế độ xã hội mới tốt đẹp
hơn. Chính vì vậy, trào lƣu tƣ tƣởng tiến bộ và cách mạng đó đã không chỉ ảnh
hƣởng ở Pháp mà còn ảnh hƣởng khá rộng đến châu Âu lúc bấy giờ. Điều đó
đã tạo ra khởi nguồn và sức mạnh tinh thần cho các cuộc cách mạng tƣ sản
diễn ra mạnh mẽ kể từ thế kỷ XVIII.
“Bàn về khế ước xã hội” là tác phẩm chính trị nổi bật nhất trong số các
tác phẩm của Rousseau, thể hiện nội dung chính trong toàn bộ tƣ tƣởng dân
chủ của ông. Cho đến ngày nay, nhiều nội dung tƣ tƣởng triết học trong tác
phẩm này vẫn đƣợc kế thừa và đƣợc nhắc đến trong các văn kiện chính trị
quan trọng nhƣ là biểu hiện của một tinh thần cách mạng mang tính nhân loại.
Ở Việt Nam, tƣ tƣởng triết học chính trị nói chung và tƣ tƣởng dân chủ
nói riêng của Rousseau trong tác phẩm “Bàn về khế ước xã hội” đƣợc nhắc đến
không ít lần trong các Tân văn, Tân thƣ cũng nhƣ trong các tƣ liệu sách báo du
nhập vào Việt Nam dƣới thời Pháp thuộc, đặc biệt vào nửa đầu thế kỷ XX.
Những nội dung trong tƣ tƣởng dân chủ của ông vẫn là những gợi mở quý giá
cho việc xây dựng nhà nƣớc của dân, do dân và vì dân ở Việt Nam hiện nay.
Với mong muốn tìm hiểu về tƣ tƣởng dân chủ của Rousseau để thêm
một lần nữa khẳng định giá trị tƣ tƣởng của ông trong thời đại hiện nay,
chúng tôi chọn: Tƣ tƣởng dân chủ của Rousseau trong tác phẩm “Bàn về
khế ước xã hội” làm đề tài nghiên cứu của mình.
9
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Thuộc trào lƣu Khai sáng, nên tƣ tƣởng triết học của Rousseau trong
một thời gian đã đƣợc xếp là lý luận tƣ sản. Vì vậy, trƣớc đây, việc nghiên
cứu về triết học của Rousseau nói chung và tƣ tƣởng dân chủ của ông trong
tác phẩm “Bàn về khế ước xã hội” nói riêng ở Việt Nam còn ở tình trạng
khá khiêm tốn.
Trong thời gian gần đây, ở Việt Nam, những công trình nghiên cứu về
các tƣ tƣởng triết học của Rousseau bắt đầu xuất hiện khá nhiều, đặc biệt là
nghiên cứu về quan niệm chính trị - xã hội. Tuy nhiên, việc nghiên cứu
chuyên sâu tƣ tƣởng dân chủ của ông vẫn còn chƣa nhiều. Thông thƣờng,
ngƣời đọc thƣờng rút ra những khía cạnh về tƣ tƣởng dân chủ từ những nội
các tư tưởng chính trị” (2001) của Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh,
cuốn “Triết học thời kỳ tiền tư bản chủ nghĩa, Triết học khai sáng từ thế kỷ
XVII đến đầu thế kỷ XIX” (1962) của Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô, cuốn
“Lịch sử triết học” (1998) do GS. Nguyễn Hữu Vui làm chủ biên, cuốn “Triết
học chính trị Môngtexkiơ với việc xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam”
(2006) của Lê Tuấn Huy, cuốn “Đại cương lịch sử triết học phương Tây”
(2006) của Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Thanh, cuốn “Lịch sử
các học thuyết chính trị trên thế giới” (1993) do Lƣu Kiểm Thanh, Phạm
Hồng Thái dịch, “Quan niệm về con người trong Triết học Khai sáng Pháp”
(2007), luận văn thạc sĩ triết học của Phạm Thị Thu Hƣơng,
Các tƣ liệu này chỉ dừng lại ở những thông tin khái quát chung về
phong trào Khai sáng Pháp và về các tƣ tƣởng triết học cơ bản của các đại
biểu của nó, chƣa phân tích một cách chuyên sâu và có tính hệ thống về tƣ
tƣởng triết học chính trị độc đáo của Rousseau, trong đó có các khía cạnh
trong tƣ tƣởng dân chủ của ông.
11
Thuộc về dạng (2) gồm các công trình và bài viết đề cập các bình diện
riêng lẻ có liên quan đến nội dung của luận văn có thể kể đến cuốn “Về đại
cách mạng Pháp 1789” (1989) của các tác giả Văn Tạo, Dƣơng Kinh Quốc,
Vũ Huy Phúc, cuốn “Tam quyền phân lập” (1992) của Đinh Ngọc Vƣợng, bài
viết của Hoàng Chí Bảo nhan đề “Quyền con người trong chủ nghĩa xã hội”,
Tạp chí Triết học, số 2 năm 1991, bài “Một số tư tưởng triết học chính trị của
Giôn Lốccơ: thực chất và ý nghĩa lịch sử” (2007) của Đinh Ngọc Thạch
trong: Tạp chí triết học, số 1, hay cuốn “Văn minh phương Tây - Lịch sử và
văn hoá” (2008) của tác giả Edward McNall Burns, trong tác phẩm này, khi
đề cập đến nguồn gốc tƣ tƣởng của cuộc đại cách mạng Pháp 1789, tác giả đã
coi Rousseau là ngƣời sáng lập chế độ dân chủ. Đồng thời, tác giả cũng đề cập
đến quan niệm của Rousseau về quyền tối thƣợng nhƣ điểm nhấn trong quan
niệm chính trị xã hội của ông và ảnh hƣởng thuyết chính trị của ông đến cách
của Rousseau trong tác phẩm “Bàn về khế ước xã hội”.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu: Tƣ tƣởng dân chủ của Rousseau trong tác
phẩm “Bàn về khế ước xã hội”.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung làm sáng tỏ một số nội dung cơ
bản nhất tƣ tƣởng dân chủ của Rousseau trong tác phẩm “Bàn về khế ước xã hội”.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
- Cơ sở lý luận và phương pháp luận:
Luận văn dựa trên cơ sở phƣơng pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin
về con ngƣời, xã hội và nhà nƣớc; đồng thời tham khảo có chọn lọc công trình
của các nhà nghiên cứu có liên quan đến đề tài.
- Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng các phƣơng pháp chủ yếu sau: phƣơng pháp thống
nhất lôgíc và lịch sử, phƣơng pháp phân tích, tổng hợp, so sánh…
13
6. Đóng góp của đề tài
Đề tài nghiên cứu chuyên sâu một số nội dung cơ bản tƣ tƣởng dân chủ
của Rousseau trong tác phẩm “Bàn về khế ước xã hội”.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Ý nghĩa lý luận
Với mục tiêu nghiên cứu chuyên sâu về tƣ tƣởng dân chủ của Rousseau
thể hiện trong một tác phẩm cụ thể nổi tiếng của ông là “Bàn về khế ước xã
hội”, luận văn góp phần khẳng định giá trị tƣ tƣởng dân chủ của Rousseau
trong thời đại ngày nay.
- Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên cao học
chuyên ngành Triết học trong việc học tập và nghiên cứu về triết học Khai
sáng Pháp nói chung và triết học Rousseau nói riêng.
8. Kết cấu
đánh vào đối tƣợng ngƣời dân lao động, còn những tầng lớp xã hội đƣợc thụ
15
hƣởng sự thịnh vƣợng lại không phải trả thuế theo lợi tức của họ. Do áp lực
chiến tranh, vua Louis XIV bắt ngƣời dân Pháp phải đóng thuế thân và thuế
10% tính trên lợi tức, nhƣng nhiều ngƣời đã tìm cách trốn tránh các loại thuế
này. Đến thời vua Louis XV, lên ngai vàng năm 1715 và trị vì tới năm 1774,
tiếp tục sống xa hoa trong cung điện Versailles và không quan tâm tới các vấn
đề hệ trọng của đất nƣớc. Nền quân chủ của nƣớc Pháp gặp nhiều khó khăn,
việc thu thuế cũng gặp thất bại vì việc trả thuế trực thu chứng tỏ ngƣời đóng
thuế thuộc đẳng cấp thấp kém trong xã hội. Các nhà quý tộc, giới tu sĩ, giới tƣ
sản cũng phản đối việc đóng thuế vì họ không có trách nhiệm và không có
quyền kiểm soát chính trị hay hành chính đối với xã hội mà họ đang sinh sống.
Tới thập niên 40 của thế kỷ XVIII, chính quyền Pháp còn phải chi cho
các phí tổn chiến tranh và duy trì quân đội, hải quân quốc gia. Nƣớc Pháp
mắc nợ 93 triệu quan tiền, tiền nợ quốc gia hàng năm tăng lên tới 300 triệu
quan tiền. Món nợ trở nên to lớn hơn do nƣớc Pháp giúp công giúp của vào
cuộc chiến tranh giành độc lập của Hoa Kỳ, đồng thời do việc miễn thuế, trốn
thuế của những ngƣời đƣợc ƣu đãi và sự phức tạp, thiếu hoàn hảo của hệ
thống thu thuế khiến cho các món tiền thu đƣợc đã không đƣợc nộp đầy đủ
vào ngân quỹ của đất nƣớc. Cho nên mặc dù nƣớc Pháp là một miền đất trù
phú nhƣng ngân quỹ của nƣớc Pháp lại trống rỗng. Chính phủ nƣớc này đã
nhìn thấy rõ việc cần phải đánh thuế vào các giai cấp đƣợc ƣu đãi. Ngay sau
đó, một loại thuế mới lại đƣợc ban hành, theo đó, mọi lợi tức từ mọi tài sản
phải chịu thuế 5%: đất đai, đầu tƣ thƣơng mại và các quyền lợi khác. Không
ai đƣợc miễn thuế cả, dù thuộc tầng lớp xã hội nào, dù trƣớc kia đã đƣợc miễn
thuế rồi, nhƣng trên thực tế, loại thuế 5% này chỉ đƣợc đánh vào đất đai.
Việc cho ra đời nhiều sắc thuế mới đánh vào công thƣơng và nông
nghiệp đƣa đến kết quả là sang thế kỷ thứ XVIII, thuế đã trở thành một vấn đề
đặc biệt nhạy cảm tại Pháp, một quốc gia tồn tại nhiều chế độ đặc quyền. Hậu
17
bị bỏ hoang, năng suất hàng năm thấp. Tình trạng sút kém đó là kết quả tất
nhiên của sự duy trì chế độ phong kiến, một chế độ ăn sâu vào nông thôn
nƣớc Pháp và ngày càng trở nên lỗi thời, phản động. Chế độ này đã đẻ ra hàng
loạt nghĩa vụ phong kiến vừa phi lý vừa bất công, hà khắc đè nặng lên ngƣời
nông dân. Đất đai trong toàn quốc thuộc về sở hữu của vua, nhà vua lấy ruộng
đất đó cấp cho quần thần và từ đó ruộng đất đƣợc chuyển lần lƣợt sang các
tay quý tộc, mỗi quý tộc đƣợc quyền sở hữu đất đai rộng lớn, có khi cả một
vùng. Còn ngƣời nông dân, về mặt pháp lý, họ đƣợc quyền tự do về thân
phận. Nhƣng thực tế, họ lại bị phụ thuộc vào các tầng lớp trên do đại bộ phận
nhân dân lại nhận từ quý tộc, chúa đất hay nhà thờ những mảnh ruộng nhỏ
theo hình thức phát canh, thu tô hoặc vĩnh điền nông nô. Dù là hình thức nào
thì sau khi thu hoạch và đóng đủ mọi thuế khóa, nông dân còn lại rất ít để duy
trì cuộc sống. Mà trong khi đó, ngƣời nông dân không có điều kiện cải tạo
phƣơng thức canh tác, một số nông dân sung túc, có diện tích đáng kể để có
thể hƣởng lợi từ nguồn thặng dƣ nông nghiệp thì lại rất ít. Sự bóc lột những
ngƣời sản xuất nhỏ nhƣ: nông dân lĩnh canh và nông dân vĩnh điền, là nguồn
sinh sống chủ yếu của quý tộc, tăng lữ và cung đình.
Khi chính sách tăng thuế đã trở nên tràn lan, chính quyền Pháp có thể
đặt ra thuế ở bất kỳ phƣơng diện nào để bù lại với những khoản nợ khổng lồ,
đã xuất hiện sự phản đối dữ dội từ các tầng lớp trong xã hội, ngay cả giới quý
tộc: Nghị viện Paris, nghị viện 11 tỉnh, từ miền Brittany và từ giáo hội. Tất cả
các tổ chức này đã mạnh hơn thời trƣớc và đều chuẩn bị tinh thần cho việc
chống lại các chính sách khắc nghiệt của triều đình lúc bấy giờ. Triều đình
Pháp rơi vào cảnh khó khăn và khốn đốn: các phí tổn vì chiến tranh, các món
nợ chồng chất, các dự án đánh thuế, sự chống đối từ các nghị viện và từ các
thành phần của dân chúng… Chính phủ Pháp đã đẩy áp lực lớn này lên những
ngƣời dân lao động, sự đàn áp, bóc lột càng tăng mạnh, cuộc sống của ngƣời
18
năng kinh tế cho những kẻ điều hành đƣợc thuê mƣớn. Giới quý tộc thôn quê
thì chẳng hề quan tâm đến việc tổ chức một cách hợp lý nền nông nghiệp hay
việc trang bị các công cụ lao động tốt hơn. Các bộ luật khi đó cấm đoán giới
quý tộc đƣợc tham gia các hoạt động thƣơng nghiệp và công nghiệp.
Sự tồn tại của tầng lớp quý tộc phong kiến thống trị ăn bám đƣợc đảm
bảo không chỉ bằng quyền hành và những đặc quyền đặc lợi phong kiến, mà
còn bởi những khoản tiền lớn đƣợc nhà nƣớc bao cấp. Họ còn đƣợc miễn mọi
khoản thuế. Triều đình phong kiến Pháp loại bỏ quyền bình đẳng của con
ngƣời trƣớc luật. Mọi thứ quyền và tự do về chính trị chỉ dành riêng cho tầng
lớp thống trị. Càng thua thiệt trong đời sống kinh tế, tầng lớp quý tộc phong
kiến càng cố tìm cách duy trì các quyền lực chính trị và kiên quyết chống lại
mọi tƣ tƣởng “nổi loạn” đòi bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trƣớc pháp luật.
Phong trào phản phong ngày càng lớn mạnh nhằm mục tiêu thủ tiêu
quan hệ sản xuất phong kiến và thiết lập chế độ xã hội mới tƣ bản chủ nghĩa.
Để duy trì tòa nhà cũ nát của chế độ phong kiến, chế độ quân chủ đã thẳng tay
đàn áp nhiều cuộc nổi dậy của nông dân, ra lệnh đốt các sách báo “phản
loạn”, tống giam các tác giả của chúng. Các chính sách đối nội và đối ngoại
đƣợc đƣa ra dƣới thời của vua Louis XIV, XV trên thực tế đã thúc đẩy nhanh
chóng sự suy vong của nền chuyên chế phong kiến.
Nhƣ vậy, vào thế kỷ XVIII, chế độ chuyên chế phong kiến đã trở thành
lực lƣợng phản động, kìm hãm sự phát triển và tiến bộ xã hội. Sự phát triển
của của nghĩa tƣ bản ở Pháp cũng nhƣ ở châu Âu đòi hỏi xóa bỏ lực lƣợng
này. Bối cảnh lịch sử xã hội Pháp thế kỷ XVIII là những điều kiện khách quan
cho phép giai cấp tƣ sản trở thành ngƣời lãnh đạo có khả năng tập hợp xung
quanh mình đông đảo quần chúng nông dân, công nhân, thợ thủ công trong
20
cuộc đấu tranh chống chế độ phong kiến. Giai cấp tƣ sản đã trở thành lực lƣợng
có thể đại diện cho lợi ích của những ngƣời bị áp bức bởi chế độ phong kiến.
Cuộc đấu tranh giữa những ngƣời bảo vệ và những ngƣời phản kháng
nghiệp phát triển.
Tiếp đến là Cleisthen, ông quan niệm: quyền của nhân dân biểu hiện
qua việc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân có nhiệm kỳ tuỳ theo tỷ lệ số
dân. Ông cũng đặt ra Luật bỏ phiếu bằng vỏ sò: Trong phiên họp đầu tiên của
Hội nghị công dân, yêu cầu tất cả công dân Athena có đủ điều kiện tham gia.
Trong vỏ sò ghi tên kẻ chống phá nền dân chủ, nếu có 6000 vỏ sò thì kẻ đó bị
kết tội là chống đối lại nền dân chủ và bị trục xuất khỏi Athena trong thời gian
là 10 năm. Tƣ tƣởng mang tinh thần dân chủ, tiến bộ của ông đã góp phần đƣa
đến sự ra đời của chính thể cộng hoà dân chủ chủ nô. Trong chính thể này,
quý tộc chủ nô mới nắm giữ hầu hết các vị trí quan trọng, công dân tự do
đƣợc tham gia chính trị môt cách rộng rãi, cuộc cải cách này tạo điều kiện cho
sự lớn mạnh của nhà nƣớc Athena.
Tƣ tƣởng dân chủ của ông còn đƣợc thể hiện qua một số chủ trƣơng
nhƣ: quyền ngƣời dân làm chủ đất nƣớc; thể chế hoá tƣ tƣởng dân chủ, vấn đề
vai trò, trách nhiệm nhà nƣớc đối với nhân dân Ông cũng là ngƣời khởi
xƣớng ra cuộc cải cách của Cleisthen.
Pericles tiếp tục phát triển đƣờng lối dân chủ của Cleisthen, đề cao bình
đẳng, dân quyền, dân sinh, hoàn thiện chế độ bầu cử để bảo vệ quyền lợi dân
nghèo. Ông đã hiện thực hoá tƣ tƣởng của mình bằng cuộc Cải cách của
Pericles. Các cuộc cải cách này đã hình thành nên Nhà nƣớc Athena, đƣợc
đánh giá là hình thức dân chủ sơ khai nhất trong lịch sử từ khi có nhà nƣớc và
pháp luật. Tính chất dân chủ của nó đặt cơ sở cho nền văn minh Hy Lạp – La
Mã cổ đại và cho toàn bộ nền văn minh Châu Âu thời kỳ cận hiện đại sau này.
22
Đến thời kỳ cận đại, vào thế kỷ XVI, ở Đức xảy ra cuộc chiến tranh
nông dân, Thomas Munzer (1489 - 1525) là một trong những nhà chủ nghĩa
xã hội không tƣởng đầu tiên và là lãnh tụ của phong trào này. Ông đã đấu
tranh chống lại hệ tƣ tƣởng phong kiến cũng nhƣ cuộc Cải cách tôn giáo của
thị dân. Munzer đòi hỏi phải thiết lập tình hữu ái chung và sự bình đẳng
dân chủ sau này. Từ đây, chủ nghĩa Calvin đƣợc truyền bá rộng rãi khắp nƣớc
Anh và ảnh hƣởng sang những quốc gia khác.
Tại Pháp, khoảng giữa thế kỷ thứ XVI đã nổi lên tên tuổi của một sứ
giả của “tự do” và “bình đẳng” với những bản luận văn đƣợc viết trƣớc
ngƣỡng cửa của cuộc chiến tranh tôn giáo ở Pháp: “Etienne de la Boetie”,
“Luận về chế độ nô lệ tự nguyện”. Đó là những tác phẩm của Etienne de la
Boetie (1530 – 1563). Những tác phẩm này của Boetie không chỉ là sự phản
kháng cuồng nhiệt chống lại nền bạo chính mà còn là sự ca ngợi tự do tự
nhiên của con ngƣời. Trong phần đầu của bản luận văn, ngƣời viết không có ý
định bàn luận xem hình thức nhà nƣớc nào tốt nhất. Chỉ có một điều rõ ràng
là: hình thức nhà nƣớc quân chủ, hình thức nhà nƣớc kế vị đầu phiếu hay
chiếm đoạt hoàn toàn không thích hợp. Boetie không chỉ đơn thuần chống lại
chế độ chuyên chế mà còn chống lại nguyên tắc quân chủ nói chung. Theo
ông, đây là chế độ phản xã hội.
Boetie cho rằng: về mặt tự nhiên, con ngƣời đƣợc tự do. Tƣ tƣởng tự
do trƣớc hết là tự do chính trị, là tƣ tƣởng trung tâm trong tác phẩm. Sự ca
ngợi tự do chiếm nhiều chỗ trong đó. Tự do, bình đẳng, đó là trạng thái tự
nhiên của con ngƣời. Đây là hai nguyên tắc chính trị đƣợc Boetie đem đối
lập với chế độ quân chủ chuyên chế.
Con ngƣời đã bị mất tự do và bình đẳng nhƣ thế nào? Boetie cho rằng
nguyên nhân có thể do bị ép buộc hoặc bị lừa bịp. Dần dần con ngƣời quen
24
dần với hoàn cảnh của mình và thôi không đấu tranh để tự giải phóng mình
nữa. Ngoài ra, những tên bạo chúa tìm mọi cách làm tha hóa quần chúng để
họ lãng quên cuộc đấu tranh giành tự do cho mình.
Theo Boetie, con ngƣời vốn sinh ra không chỉ có tính tự do mà còn có
khuynh hƣớng bảo vệ nó. Ông hi vọng đặc biệt vào sự tăng cƣờng giáo dục,
vào sức mạnh của lý trí, đó là điều làm khơi dậy khát vọng tự do trong tim
mỗi con ngƣời. Thật đúng đắn khi mệnh danh cho Boetie là một trong những
vụ đều do nhân dân bầu ra, phải báo cáo trƣớc dân và hoạt động vì lợi ích của
nhân dân. Đứng đầu nhà nƣớc là một ngƣời đƣợc bầu ra gọi là quốc vƣơng
mà thực chất là tổng thống.
Lý tƣởng xã hội chủ nghĩa của ông đã phản ánh một cách khách quan
quyền lợi, mơ ƣớc muôn đời của nhân dân lao động về một chế độ chính trị xã
hội mà ở đó không có áp bức bóc lột ngƣời. Tuy thế, toàn bộ học thuyết của
More là không tƣởng bởi điều kiện vật chất của xã hội lúc bấy giờ chƣa có.
Các ông cũng chƣa đề cập tới những tiền đề vật chất thiết yếu để xây dựng
một chế độ xã hội mới, đảm bảo đƣợc quyền tự do, dân chủ cho con ngƣời.
Bƣớc sang thế kỷ XVII – XVIII, xuất hiện các nhà tƣ tƣởng lên tiếng
mạnh mẽ về vấn đề quyền con ngƣời, yêu cầu sự tự do và bình đẳng trong xã
hội, từ đó, yêu cầu phải thiết lập một nhà nƣớc chân chính đảm bảo các quyền
cơ bản đó, nhƣ: John Locke (1632 - 1704), Voltaire (1694 - 1778), John
Lilburne (1614 - 1657), Montesquieu (1689 - 1755), Denis Diderot (1713 -
1784). Các nhà tƣ tƣởng này đã giành một sự quan tâm đặc biệt cho học
thuyết chính trị - xã hội, phản ánh nhu cầu của một xã hội đang đi vào kỷ
nguyên phát triển mới.
John Locke là một trong những nhà triết học chính trị lớn đã đặt nền
móng cho quan niệm về nhà nƣớc pháp quyền dựa trên nền tảng của xã hội
26
dân sự. Tƣ tƣởng đƣợc coi là xuất phát điểm trong hệ thống triết học chính trị
của Locke đó là: con ngƣời có đƣợc một cách tự nhiên các quyền lợi về đời
sống, tự do và tài sản. Khi ngƣời dân thiết lập ra một chính quyền, họ đã cho
những kẻ cai trị chính quyền đó các quyền lực để bảo vệ quyền lợi của họ.
Chính quyền phải giống nhƣ một thứ “khế ƣớc xã hội”. Khi nó không bảo vệ
đƣợc các quyền lợi của ngƣời dân thì theo ông, ngƣời dân có thể lập nên một
loại chính quyền mới. Tƣ tƣởng này đƣợc thể hiện sâu sắc trong tác phẩm
“Khảo luận thứ hai về chính quyền - chính quyền dân sự” (1689). Một mặt ông
phê phán quan niệm về nguồn gốc thánh thần của nhà nƣớc, mặt khác ông đã
về nhân dân”.
Theo cuốn “Từ điển triết học”: “Dân chủ là một trong những hình thức
chính quyền mà điều đặc trƣng là việc tuyên bố chính thức nguyên tắc thiểu số
phục tùng đa số và thừa nhận quyền tự do, bình đẳng của công dân” [63, tr.118].
Về bản chất, dân chủ là sự xác lập những quyền cơ bản của công dân.
Đó là phƣơng thức để các công dân có những quyền cấu trúc nên đời sống cá
nhân và đời sống chính trị của mình. Từ đó cộng đồng các cá nhân cấu tạo
nên quyền lực chính trị của mình. Hay có thể thấy các yếu tố ảnh hƣởng trực
tiếp đến sự ra đời của thuật ngữ dân chủ, từ góc độ lịch sử tƣ tƣởng chính trị
cũng nhƣ lịch sử của xã hội loài ngƣời, đó là: nhân dân, quyền lực công cộng
và mối quan hệ giữa chúng. Thực chất của việc tìm hiểu vấn đề dân chủ chính
là việc nghiên cứu về mối quan hệ giữa cộng đồng dân cƣ và nhà nƣớc.
1.2.2. Tư tưởng dân chủ của phong trào Khai sáng
Tƣ tƣởng dân chủ của Rousseau không chỉ kế thừa quan niệm của các
nhà tƣ tƣởng trong lịch sử mà nó ra đời và tiếp tục phát triển tƣ tƣởng của
chính trào lƣu Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII.