Thưc trạng pháp luật về bảo trợ xã hôi đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt từ thực tiễn quận ngô quyền, thành phố hải phòng phong - Pdf 61

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO TRỢ XÃ HỘI
ĐỐI VỚI TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT
TỪ THỰC TIỄN QUẬN NGÔ QUYỀN,
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
LÊ THỊ THÙY TRANG
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 8380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN HUY KHOA

Hà Nội – 2018


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ này là công trình nghiên cứu độc lập
của tôi; các số liệu sử dụng và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn
toàn trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ cho bất cứ một học vị nào.
Trong luận văn đã sử dụng nhiều nguồn thông tin khác nhau để phục vụ
cho quá trình nghiên cứu, các nguồn thông tin đã được xử lý và trích dẫn rõ
nguồn tài liệu tham khảo theo quy định./.
Hà Nội, tháng

năm 2018

Tác giả


MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài ...................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài ............................................... 4
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................... 6
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu .................................................................... 7
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ............................................ 8
6. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của công trình nghiên cứu ................................ 8
7. Cơ cấu của luận văn ...................................................................................... 9
Chương 1 ........................................................................................................ 10
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO TRỢ XÃ HỘI TRẺ EM CÓ HOÀN
CẢNH ĐẶC BIỆT VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI
CHẾ ĐỘ BẢO TRỢ XÃ HỘI TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT 10
1.1. Một số khái niệm cơ bản .......................................................................... 10
1.1.1. Khái niệm trẻ em và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ....................... 10
1.1.2. Khái niệm về bảo trợ xã hội .......................................................... 14
1.1.3. Khái niệm về pháp luật bảo trợ xã hội và chế độ bảo trợ xã hội đối
với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ..................................................................... 16
1.2. Sự điều chỉnh của pháp luật về bảo trợ xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh
đặc biệt ............................................................................................................ 17
1.2.1. Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật về bảo trợ xã hội đối
với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ..................................................................... 17
1.2.2. Quy định của pháp luật Việt Nam về bảo trợ xã hội đối với trẻ em
có hoàn cảnh đặc biệt ...................................................................................... 19


1.3. Ý nghĩa của pháp luật bảo trợ xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
......................................................................................................................... 35
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 .............................................................................. 39
Chương 2 ........................................................................................................ 40
THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BẢO TRỢ XÃ HỘI ĐỐI VỚI

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG ........................................................................ 70
3.1. Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bảo trợ xã hội đối với trẻ em có hoàn
cảnh đặc biệt. ................................................................................................... 70
3.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo trợ xã hội đối với trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt. ............................................................................... 75
3.3. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật bảo trợ xã
hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt Quận Ngô Quyền, thành phố Hải
Phòng. .............................................................................................................. 78
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 .............................................................................. 82
KẾT LUẬN .................................................................................................... 83
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 85


DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu bảng
Bảng 2.1
Bảng 2.2

Tên bảng
Tình hình trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt

Trang
45

Quận Ngô Quyền 6 tháng đầu năm 2018
Bảng tổng hợp số đối tượng bảo trợ xã hội

54


47

đặc biệt trên địa bàn thành phố Hải Phòng
Biểu 2.3

So sánh số trẻ em thuộc đối tượng được

51

hưởng trợ cấp xã hội thường xuyên và số trẻ
em thuộc đối tượng đã được hưởng chính
sách trợ giúp của Nhà nước
Biểu 2.4

Tỷ lệ hộ gia đình, cá nhân nhận chăm sóc,
nuôi dưỡng tại cộng đồng được hưởng trợ
cấp hàng tháng theo quy định

57


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trẻ em là những mầm non, những người chủ tương lai của đất nước.
Bác Hồ từng nói: “Cái mầm có xanh thì cây mới vững, cái búp có xanh thì lá
mới tươi, quả mới tốt, con trẻ có được nuôi dưỡng, giáo dục hẳn hoi thì dân
tộc mới tự cường tự lập”[1]. Đảng và Nhà nước ta luôn có quan điểm nhất
quán về quyền trẻ em cũng như tầm quan trọng của việc đầu tư cho trẻ em.
Theo đó, công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em được coi là nhiệm vụ
chính trị quan trọng, là vấn đề được ưu tiên, có tính chiến lược, lâu dài, có ý

cấp bách ảnh hưởng đến an sinh của con người, đặc biệt là trẻ em. Thực tiễn
cho thấy, bên cạnh những trẻ em bình thường còn có một nhóm trẻ em cần có
sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước và cộng đồng xã hội, đó là trẻ em có hoàn
cảnh đặc biệt. Trong những năm gần đây, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt có xu
hướng gia tăng, nhất là khi bạo hành, xâm hại trẻ em đang trở thành một vấn
nạn, gióng lên hồi chuông cảnh báo của cả cộng đồng. Theo báo cáo của Bộ
Lao động – Thương binh và Xã hội cho biết, tính đến cuối tháng 12 năm
2017, cả nước có 26.285.632 trẻ em, trong đó có 1.450.749 trẻ em có hoàn
cảnh đặc biệt và khoảng 2,1 triệu trẻ em có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc
biệt[2].
Trong những năm qua, Việt nam đã đạt một số kết quả đáng ghi nhận
trong lĩnh vực chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Tuy nhiên,
không phải tất cả trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt đều thoát khỏi hoàn cảnh của
chính mình để vươn lên hòa nhập với cộng đồng. Hiện nay, tình trạng phân
tầng xã hội, phân hóa giàu nghèo và sự bất bình đẳng về cơ hội phát triển giữa
nhóm trẻ em đang dẫn đến nguy cơ gia tăng trẻ em lao động, trẻ em lang
thang, tai nạn thương tích trẻ em và tình trạng trẻ em vi phạm pháp luật. Xã
2


hội càng phát triển, quá trình hội nhập quốc tế càng sâu, càng dẫn đến sự thay
đổi trong các chuẩn mực giá trị sống và đạo đức xã hội. Các hình mẫu gia
đình hạt nhân dần thay thế cho hình mẫu gia đình truyền thống đã làm tăng
nguy cơ sao nhãng, ngược đãi, bạo lực và xâm hại trẻ em. Trong tình hình
hiện nay, công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em trong những năm tới sẽ gặp những
khó khăn, thách thức mới. Vì vậy, nhằm nâng cao hoạt động hỗ trợ xã hội cho
các nhóm đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, Thủ tướng Chính phủ đã ký
Quyết định số 647/QĐ-TTg ngày 26/4/2013 phê duyệt Đề án Chăm sóc trẻ
em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em nhiễm HIV/AIDS,
trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học, trẻ em khuyết tật nặng và trẻ em bị

- Luận án tiến sĩ luật học với đề tài: “Quyền trẻ em có hoàn cảnh đặc
biệt ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Tăng Thị Thu Trang, Học viện Khoa
học xã hội, năm 2016[4].
- Luận văn thạc sĩ công tác xã hội với đề tài: “Công tác xã hội đối với
trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt từ thực tiễn các trung tâm bảo trợ xã hội trên
địa bàn tỉnh Bình Định” của tác giả Võ Thị Diệu Quế, Học viện Khoa học xã
hội, năm 2014[5].
- Bài viết về “Kinh nghiệm của một số nước về hệ thống bảo vệ trẻ em”
của TS. Nguyễn Hải Hữu, Cục Bảo vệ, chăm sóc trẻ em, năm 2015[6].
- Bài báo cáo “Xây dựng môi trường bảo vệ trẻ em Việt Nam: Đánh giá
pháp luật và chính sách bảo vệ trẻ em, đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh đặc
biệt ở Việt Nam” do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội được sự hỗ trợ
của UNICEF tổ chức biên soạn năm 2009[7]. Bài báo cáo đã nêu ra tổng quan
về tình hình trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ dễ bị tổn thương trên thế giới và
4


ở Việt Nam. Đồng thời, bản báo cáo còn cho chúng ta thấy các hoạt động
chăm sóc, bảo vệ trẻ em như trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em bị lạm
dụng và bóc lột tình dục, trẻ em đường phố….dựa trên luật pháp, chính sách
của Việt Nam.
- Bài viết của Dương Kim Hồng và Kenichi Ohno “Trẻ đường phố Việt
Nam những nguyên nhân truyền thống và nguyên nhân mới, mối quan hệ giữa
các nguyên nhân ngày trong nền kinh tế đang phát triền” trên diễn đàn phát
triển Việt Nam tháng 7 năm 2005[8]. Bài viết đã nêu lên khái niệm trẻ em
đường phố. Từ đó, tác giả đã phân loại trẻ em đường phố. Bên cạnh đó, tác
giả còn điểm lại những hoạt động nghiên cứu về trẻ em đường phố tại hai
thành phố lớn nhất nước là Hà Nội và Hồ Chí Minh. Qua bài viết, tác giả đã
cho chúng ta thấy được tình hình chung của trẻ em đường phố ở Hà Nội và
thành phố Hồ Chí Minh. Đồng thời, đề tài đã cung cấp khá cụ thể các định

Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng thì đến nay chưa có công trình nào
nghiên cứu về vấn đề này. Điều đó cho thấy việc nghiên cứu đề tài này là vấn
đề mới đang đặt ra, vừa khó khăn, vừa đòi hỏi phải nghiên cứu những điều
kiện đặc thù của quận để công tác thực hiện pháp luật bảo trợ xã hội đối với
trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt có hiệu quả hơn.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Đề tài tập trung đi sâu nghiên cứu, đánh giá đúng
thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo trợ xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh
đặc biệt trên địa bàn Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, từ đó đưa ra các
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chế độ bảo trợ xã hội cho trẻ em
có hoàn cảnh đặc biệt trên địa bàn Quận Ngô Quyền trong giai đoạn hiện nay
và những năm tiếp theo.
6


Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ cơ sở lý luận về bảo
trợ xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và sự điều chỉnh pháp luật về
bảo trợ xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; phân tích thực trạng thực
hiện chế độ bảo trợ xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trên địa bàn
Quận Ngô Quyền; đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện
chế độ bảo trợ xã hội cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trên địa bàn Quận Ngô
Quyền, thành phố Hải Phòng.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là pháp luật hiện hành về bảo trợ xã
hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và thực tiễn thực hiện pháp luật bảo
trợ xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trên địa bàn Quận Ngô Quyền,
thành phố Hải Phòng.
* Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn được xác định như sau:

với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.
Kết quả nghiên cứu của luận văn có tính ứng dụng thực tiễn. Một là,
luận văn đóng góp những căn cứ khoa học cho việc tiếp tục hoàn thiện pháp
luật về bảo trợ xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Hai là, xác định
được thực trạng pháp luật về bảo trợ xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc
biệt và thực tiễn thực hiện trên địa bàn Quận Ngô Quyền. Từ đó đưa ra một số
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật bảo trợ xã hội đối với
trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
8


7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận, các danh mục tài liệu tham khảo, các phụ lục,
nội dung của luận văn được kết cấu gồm có 03 chương:
Chương 1: Khái quát chung về bảo trợ xã hội trẻ em có hoàn cảnh đặc
biệt và sự điều chỉnh của pháp luật đối với chế độ bảo trợ xã hội trẻ em có
hoàn cảnh đặc biệt
Chương 2: Thực tiễn thực hiện pháp luật bảo trợ xã hội đối với trẻ em
có hoàn cảnh đặc biệt tại Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp
luật bảo trợ xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại Quận Ngô Quyền,
thành phố Hải Phòng.

9


Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO TRỢ XÃ HỘI TRẺ EM CÓ
HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP
LUẬT ĐỐI VỚI CHẾ ĐỘ BẢO TRỢ XÃ HỘI TRẺ EM CÓ

Từ định nghĩa trên, ta có thể thấy trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt có
những đặc điểm sau: Thứ nhất, không đủ điều kiện thực hiện các quyền cơ
bản (quyền sống, quyền được bảo vệ, quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng,
quyền học tập). Thứ hai, cần có sự hỗ trợ, can thiệp đặc biệt của Nhà nước,
gia đình và xã hội để được an toàn, hòa nhập gia đình và cộng đồng.
Theo khoản 1, Điều 10 Luật Trẻ em 2016[14] thì trẻ em có hoàn cảnh
đặc biệt bao gồm 14 nhóm sau đây:
Một là, trẻ em mồ côi cả cha lẫn mẹ: Trẻ em mồ côi cả cha và mẹ
không có người chăm sóc; Trẻ em mồ côi cả cha và mẹ được nuôi dưỡng
trong cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em hoặc cơ sở trợ giúp xã hội; Trẻ em
mồ côi cả cha và mẹ sống với người thân thích; Trẻ em mồ côi cả cha và mẹ
được nhận chăm sóc thay thế bởi cá nhân, gia đình không phải người thân
thích, trừ trường hợp được nhận làm con nuôi.
Hai là, trẻ em bị bỏ rơi: Trẻ em bị bỏ rơi chưa được chăm sóc thay thế;
Trẻ em bị bỏ rơi được chăm sóc thay thế.
Ba là, trẻ em không nơi nương tựa: Trẻ em mồ côi cha hoặc mẹ và
người còn lại mất tích theo quy định của pháp luật; Trẻ em mồ côi cha hoặc
mẹ và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ
11


giúp xã hội hoặc không còn khả năng chăm sóc, nuôi dưỡng; Trẻ em mồ côi
cha hoặc mẹ và người còn lại đang chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc
đang chấp hành quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện
bắt buộc; Trẻ em có cả cha và mẹ mất tích theo quy định của pháp luật; Trẻ
em có cha hoặc mẹ mất tích theo quy định của pháp luật và người còn lại
đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội; Trẻ em có
cha hoặc mẹ mất tích theo quy định của pháp luật và người còn lại đang chấp
hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định đưa vào cơ sở
giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc; Trẻ em có cả cha và mẹ không

nghiện tại gia đình, cộng đồng.
Tám là, trẻ em phải bỏ học kiếm sống chưa hoàn thành phổ cập giáo
dục trung học cơ sở: Trẻ em phải bỏ học kiếm sống chưa hoàn thành phố cập
giáo dục trung học cơ sở không có người chăm sóc; Trẻ em phải bỏ học kiếm
sống chưa hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở sống cùng cha, mẹ
hoặc người chăm sóc.
Chín là, trẻ em bị tổn hại nghiêm trọng về thể chất và tinh thần do bị
bạo lực: Trẻ em bị bạo lực dẫn đến rối loạn tâm thần, hành vi, hạn chế khả
năng giao tiếp, học tập hoặc khả năng tự thực hiện một số việc phục vụ nhu
cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày theo kết luận của cơ quan giám định, cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh hoặc người có chuyên môn được cơ quan, tổ chức, cá
nhân có thẩm quyền yêu cầu kiểm tra, đánh giá mức độ tổn hại của trẻ em.
Mười là, trẻ em bị bóc lột: Trẻ em bị bắt buộc tham gia lao động trái
quy định của pháp luật về lao động; Trẻ em bị rủ rê, xúi giục, kích động, lợi
dụng, lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc tham gia các hoạt động trình diễn hoặc bị sử
dụng trong sản xuất các sản phẩm khiêu dâm; Trẻ em bị rủ rê, xúi giục, kích
13


động, lợi dụng, lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc tham gia hoạt động du lịch mà bị xâm
hại tình dục; bị cho, nhận hoặc cung cấp để hoạt động mại dâm; Trẻ em bị rủ
rê, xúi giục, kích động, lợi dụng, lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc tham gia hoạt động
vận chuyển, mua bán, sản xuất, tàng trữ chất gây nghiện và các hàng hóa khác
bị cấm giao dịch theo quy định của pháp luật; Trẻ em bị rủ rê, xúi giục, kích
động, lợi dụng, lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc tham gia các hoạt động trục lợi khác.
Mười một là, trẻ em bị xâm hại tình dục: Trẻ em bị hiếp dâm; Trẻ em bị
cưỡng dâm; Trẻ em bị giao cấu; Trẻ em bị dâm ô; Trẻ em bị sử dụng vào mục
đích mại dâm, khiêu dâm dưới mọi hình thức.
Mười hai là, trẻ em bị mua bán: Trẻ em bị mua bán trở về sống với cha,
mẹ; Trẻ em bị mua bán trở về được nhận chăm sóc thay thế.

Việt, “bảo trợ” có nghĩa là giúp đỡ cho tổ chức hoặc cá nhân có khó khăn về
vật chất trong cuộc sống, còn “trợ giúp” có nghĩa giúp đỡ về vật chất cho đỡ
khó khăn, thiếu thốn. Các văn bản pháp luật về bảo trợ xã hội hiện hành đang
sử dụng cụm từ “trợ giúp xã hội” thay cho “bảo trợ xã hội”.
Bảo trợ xã hội được tiếp cận với nhiều góc độ khác nhau. Theo quan
điểm của Tổ chức Lao động quốc tế nói chung và ở Việt Nam nói riêng, ta có
thể hiểu bảo trợ xã hội là sự giúp đỡ của Nhà nước, xã hội, cộng đồng bằng
những biện pháp và các hình thức khác nhau đối với các đối tượng bị lâm vào
cảnh rủi ro, bất hạnh, nghèo đói, thiệt thòi, yếu thế vì nhiều nguyên nhân khác
nhau dẫn đến không đủ khả năng tự lo liệu được cho cuộc sống tối thiểu của
bản thân và gia đình, nhằm giúp họ tránh được mối đe dọa của cuộc sống
thường nhật hoặc giúp họ vượt qua những khó khăn, ổn định cuộc sống và
hòa nhập cộng đồng. Đây là hình thức tương trợ cộng đồng đơn giản, phổ
biến và giữ vai trò quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội của mỗi quốc gia.
15


1.1.3. Khái niệm về pháp luật bảo trợ xã hội và chế độ bảo trợ xã hội đối với
trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
Bảo trợ xã hội là sự giúp đỡ của Nhà nước, xã hội, cộng đồng bằng
những biện pháp và hình thức khác nhau đối với các đối tượng bị lâm vào
hoàn cảnh rủi ro, bất hạnh, nghèo đói,…vì nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn
đến không đủ khả năng tự lo liệu được cho cuộc sống tối thiểu của bản thân
và gia đình, nhằm giúp họ tránh được sự đe dọa của cuộc sống thường nhật
hoặc giúp họ vượt qua những khó khan, ổn định cuộc sống và hòa nhập cộng
đồng.
Có thể hiểu, pháp luật bảo trợ xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc
biệt là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do Nhà nước ban
hành hoặc thừa nhận để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong việc tổ
chức, thực hiện hoạt động bảo trợ xã hội, các chế tài xử lý các vi phạm liên

Trẻ em 2016 cũng như hàng loạt các văn bản dưới luật đã ghi nhận đầy đủ,
hài hòa các quyền và bổn phận của trẻ, bởi trẻ em không chỉ là lực lượng
đông đảo của hiện tại mà là nguồn nhân lực tương lai của đất nước. Tuy
nhiên, tính đến cuối tháng 12/2017, cả nước có 26.285.632 trẻ em, trong đó có
1.450.749 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt[2]. Để bảo đảm thực hiện quyền và
bổn phận cơ bản của trẻ em đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, Nhà nước
và xã hội cũng đã có nhiều sự quan tâm, chăm sóc đặc biệt, vấn đề đảm bảo
an sinh xã hội đối với đối tượng này ngày càng được quan tâm với nhiều
chính sách ưu đãi hơn. Nhưng bên cạnh những thành quả đã đạt được trên
thực tiễn thực hiện các chế độ bảo trợ còn gặp nhiều khó khăn như: việc thi
hành áp dụng các chính sách vào thực tế thực hiện còn nhiều bất cập, nhiều
quy định chưa hướng dẫn cụ thể, còn nhiều chồng chéo các đối tượng được
17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status