phßng gi¸o dôc & ®µo t¹o vÜnh têng
Trêng THCS ChÊn Hng
............0o0............
SỬ DỤNG HỢP LÝ, LINH HOẠT PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
BỘ MÔN ĐỂ TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP
VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
MÔN LỊCH SỬ LỚP 9
Giáo viên viết chuyên đề:
…………………..
Giáo viên dạy minh họa:
…………………….
Tổ:
Khoa học xã hội
MỤC LỤC
Phần thứ nhất
Mở đầu
Trang
Các chữ cái viết tắt
3
7
VII. Ý nghĩa nghiên cứu
7
Phần thứ hai
Nội dung
8
I. Cơ sở lý luận và thực trạng của vấn đề nghiên cứu
8
1. Cơ sở lý luận
8
2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu
9
II. Một số phương pháp đặc trưng của bộ môn Lịch Sử
11
1. Khái niệm phương pháp dạy học
11
21
1.4. Tổ chức cho học sinh tự học lịch sử
30
1.5. Dạy học nêu và giải quyết vấn đề
33
1
2. Một số hình thức dạy học thường được sử dụng trong môn Lịch sử
35
3. Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Lịch sử
42
IV. kết quả qua thực tiễn vào giảng dạy
47
Phần thứ ba
Kết luận và kiến nghị
48
TƯ:
CNTB:
NVGQVĐ:
KHTN
KHXH:
HLM:
GDCD:
BĐTD :
ĐBP:
Ban chấp hành trung ương
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Trung học cơ sở
Trung học phổ thông
Lịch sử
Giáo viên
Ví dụ
Học sinh
Sách giáo khoa
Trung ương
Chủ nghĩa tư bản
Nêu và giải quyết vấn đề
Khoa học tự nhiên
Khoa học xã hội
Học liên môn
Giáo dục công dân
Bản đồ tư duy:
Điện Biên Phủ
3
1.Cơ sở lý luận.
Hiện nay đất nước ta đang trên con đường phát triển hội nhập. Ngành giáo
dục có vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển đất nước về mọi mặt, vì
giáo dục là ngành tạo ra những con người làm chủ xã hội , đất nước. Vì vậy
Đảng cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc
“Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau” BCHTW Đảng xác định mục tiêu
giáo dục và đào tạo nhằm “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân
tài, hình thành đội ngũ lao động trí thức, có tay nghề, có năng lực thực hành chủ
động sáng tạo, có đạo đức cách mạng, tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội”.
4
Xuất phát từ mục tiêu đó, Đại hội lần VIII của Đảng đã khẳng đinh “ Giáo dục là
quốc sách hàng đầu”. Quốc hội khóa X, Nước CHXHCN Việt Nam đã ra nghị
quyết 04/2000 về vấn đề đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, và đặc biệt là
triển khai nghị quyết 04 của Quốc hội. Bộ giáo dục đã ban hành văn bản số 3668
ngày 15/5/2001 về việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh. Đây là
phương hướng quan trọng chỉ đạo thế hệ trẻ thực hiện sự nghiệp cách mạng vẻ
vang mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn.
Mục tiêu giáo dục của Đảng ta từ trước đến nay luôn nhấn mạnh đến việc
đào tạo thế hệ trẻ phát triển toàn diện, có lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, có
phẩm chất, đạo đức, hiểu biết khoa học, có năng lực tư duy và thực hành…Mọi
môn học đều “bình đẳng” trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo. Việc học tập môn
Lịch sử cũng đòi hỏi, yêu cầu như học tập bất cứ môn nào khác.
Báo cáo chính trị của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX của Đảng cộng sản
Việt Nam đã nêu rõ định hướng: “ Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện,
đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học…Phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và
sáng tạo của học sinh, đề cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học vấn”
Điều 4 luật giáo dục cũng khẳng định “ Phương pháp giáo dục phải phát huy
tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học. Bồi dưỡng năng lực
Người giáo viên trong dạy học lịch sử đa số làm nhiệm vụ nói lại nội dung
sách giáo khoa, càng khó khăn hơn trong việc phát triển bài giảng được soạn trên
cơ sở sách giáo khoa. Như vậy bài giảng không gây hứng thú học tập cho học sinh
mà gây nhàm chán trong tâm lý dạy học của cả giáo viên và học sinh.
Về phía học sinh đa số các em coi lịch sử là môn phụ nên các em ít chú ý
nghe giảng, ghi chép máy móc, chỉ học thuộc lòng những gì ghi trong vở, không
biết kết hợp với sách giáo khoa và tài liệu tham khảo lại không biết làm nảy sinh
những vấn đề lịch sử cần được giải quyết. Các em lười suy nghĩ, không biết phân
tích vấn đề, hay nhớ lầm giữa nội dung này với nội dung khác, sự kiện này với sự
kiện khác càng không biết nêu vấn đề để thảo luận tìm hiểu.
Đất nước đang trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tiến tới nền
kinh tế tri thức. Cùng với sự đổi mới của đất nước, ngành giáo dục cũng phải có đổi
mới mà sự đổi mới đầu tiên là về nội dung và chương trình sách giáo khoa.Sách
giáo khoa mới đã chú ý đến giải quyết hợp lý mối quan hệ gắn bó chặt chẽ, hữu cơ
giữa hai phần: kênh chữ và kênh hình do vậy giáo viên phải đổi mới phương pháp
dạy học.
Nhằm đổi mới phương pháp dạy học để phát huy tính tích cực chủ động của
học sinh, coi trọng vị trí vai trò của người học vừa là đối tượng-vừa là chủ thể.
Thông qua quá trình học tập dưới sự chỉ đạo của giáo viên, học sinh phải tích cực,
chủ động cải biến mình. Nếu giáo viên biết phát huy nội lực từ phía người học thì
sẽ nâng cao được chất lượng hiệu quả của quá trình dạy học.
Bản thân đã dạy lịch sử liên tục trong nhiều năm thấy được những khó khăn
trong quá trình giảng dạy (Những quan điểm lệch lạc, những hạn chế của người dạy
và người học). Tôi mong muốn làm thế nào để học sinh của mình năng động sáng
tạo hơn, luôn có hứng thú học tập để giờ học bớt căng thẳng, các em tiếp thu bài
được tốt hơn. Thông qua thực tế giảng dạy, dự giờ học hỏi đồng nghiệp, cùng với
các đợt tập huấn chuyên môn tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài “Vận dụng linh hoạt,
sáng tạo các phương pháp dạy học để tạo hứng thú học tập và nâng cao chất
lượng bộ môn Lịch sử 9” góp phần đổi mới phương pháp dạy học và thấy các em
yêu thích môn sử hơn. Đến giờ học, các em không còn căng thẳng nên kết quả học
-Tạo cơ hội cho người dạy và người học có một phương pháp mới
-Nâng cao hứng thú học tập, phát triển tư duy, củng cố niềm tin và ý thức
vươn lên cho học sinh để nâng cao chất lượng học tập bộ môn.
7
PHẦN THỨ HAI: NỘI DUNG
I. Cơ sở lý luận và thực trạng của vấn đề nghiên cứu
1. Cơ sở lý luận
Như ta đã biết lịch sử là những gì diễn ra trong quá khứ, đặc thù của môn
học lịch sử là phải tiếp cận nhiều sự kiện lịch sử, với những vị anh hùng, những
danh nhân lịch sử, không chỉ của dân tộc mà còn cả thế giới, từ cổ đại cho đến hiện
đại. Khi học lịch sử yêu cầu các em phải nhớ sự kiện và hiểu nội dung bài học một
cách chính xác, đầy đủ. Vì vậy, đòi hỏi các em phải cần cù, say mê, và chịu khó
lĩnh hội kiến thức thì mới đạt được kết quả cao. Vì thế mà bộ môn lịch sử khó gây
được hứng thú học tập ở học sinh.
Mặt khác dạy học lịch sử là một quá trình cung cấp cho học sinh những kiến
thức cơ bản về lịch sử thế giới và lịch sử dân tộc nhằm phục vụ cho việc giáo dục,
giáo dưỡng và phát triển tư duy của học sinh qua môn học. Trên cơ sở đó, giáo dục,
khơi dậy những tình cảm, tư tưởng, đạo đức làm chuẩn mực cho hành vi trong cuộc
sống, góp phần phát triển toàn diện học sinh.
Môn lịch sử có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc giáo dục thế hệ trẻ. Từ
những hiểu biết về quá khứ, học sinh hiểu rõ truyền thống của dân tộc, tự hào với
những thành tựu dựng nước và giữ nước của tổ tiên, xác định nhiệm vụ hiện tại có
thái độ đúng đắn đối với sự phát triển trong tương lai.
Những nhận thức, quan niệm sai lệch về ví trí, chức năng của khoa học lịch
sử và môn lịch sử trong đời sống xã hội, trong giáo dục đã dẫn tới phương pháp
nghiên cứu, học tập không đúng làm giảm sút chất lượng bộ môn trên nhiều mặt.
hành bước đi thích hợp hướng tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng dân chủ và văn minh”.
Vì thế, đối với chúng ta cần nhận thức một cách đúng đắn sâu sắc ý nghĩa bộ
môn lịch sử trong chương trình giáo dục hiện nay ở trường phổ thông, phấn đấu
làm tốt nhiệm vụ giáo dục của mình và kiên quyết đấu tranh chống những quan
niệm sai lệch về bộ môn Lịch sử.
2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu
2.1 Thuận lợi
- Trong những năm qua, bộ môn Lịch sử được các cấp, các ngành quan tâm
hơn như tổ chức thi tuyển sinh lớp 10 THPT chuyên, thi học sinh giỏi cấp huyệntỉnh, thi tốt nghiệp THPT.
- Được sự chỉ đạo quan tâm sâu sắc của các cấp, ban ngành, đặc biệt là Sở
Giáo dục & đào tạo, Phòng Giáo dục& đào tạo , Ban giám hiệu nhà trường, tổ
chuyên môn và các anh chị đồng nghiệp có nhiều kinh nghiệm.
- Giáo viên có đủ sách giáo khoa, sách giáo viên, chuẩn kiến thức kĩ năng,
máy vi tính, đèn chiếu phục vụ cho việc giảng dạy.
- Nhà trường có kết nối internet nên việc truy cập thông tin về chuyên môn
cũng có nhiều thuận lợi.
- Bản thân giáo viên luôn có nhu cầu nghiên cứu, tìm tòi cái mới, cái hay
trong bài giảng.
- Học sinh có đầy đủ sách giáo khoa và một số em có sách tham khảo đó là
điều cần thiết cho các em học tập ở trường và ở nhà. Mặc dù mới học lớp 9 nhưng
một số em đã biết truy cập vào trang web để lấy thông tin, kiến thức phục vụ cho
môn học khi cần thiết.
2.2 Khó khăn
Cùng với những thuận lợi như đã nói ở trên, thì trong công tác giảng dạy tôi
cũng nhận thấy nhiều khó khăn-bất cập, nguyên nhân dẫn đến chất lượng của bộ
môn Lịch sử ngày càng sa sút. Tuy nhiên, trong đề tài này tôi chỉ trình bày một
cách ngắn gọn một số nguyên nhân cơ bản nhất dẫn đến tình trạng đó.
9
phút như hiện nay, nếu không chuẩn bị, sắp xếp chu đáo sẽ không đạt được yêu cầu
về hai phía cả thầy lẫn trò bởi vì bài quá dài, kiến thức rất nặng.
Qua thực tế khi chưa áp dụng chuyên đề, tôi đã đưa ra một số câu hỏi trắc
nghiệm về thái độ của học sinh đối với học môn lịch sử. Đồng thời yêu cầu các
em làm một bài kiểm tra về kiến thức . Kết quả như sau:
+ Kết quả điều tra về thái độ của học sinh đối với việc học lịch sử :
Số HS
được điều tra
84
Thích
Không thích
Bình thường
TS
(%)
TS
(%)
TS
(%)
17
%
TS
%
TS
%
10
11,9
15
17,9
48
57,2
11
13
+Kết quả xếp loại trung bình môn học kỳ I năm học 2012 - 2013.
TS
84
23,8
47
56,0
2
2,3
Tuy còn nhiều khó khăn, song với trách nhiệm của người giáo viên đứng lớp
tôi luôn luôn mong muốn học sinh mình yêu thích môn Lịch Sử, có hứng thú học
tập, tiếp thu bài tốt, đạt kết quả cao. Vì vậy, tôi đã cố gắng nghiên cứu thực hiện đề
tài của mình.
II. Một số phương pháp đặc trưng của bộ môn Lịch Sử
1. Khái niệm phương pháp dạy học: Phương pháp dạy học là con đường, cách
thức hoạt động thống nhất của thầy và trò, trong đó thầy tổ chức, hướng dẫn học
sinh học tập nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học.
Phương pháp dạy học lịch sử trong thực tiễn cũng như trong lý luận là một
hoạt động phức tạp, đòi hỏi sự sáng tạo, cải tiến không ngừng lao động của cả thầy
và trò.Vì vậy xét về một mặt nào đó, phương pháp dạy học không chỉ là một khoa
học mà còn là nghệ thuật với những yêu cầu cao về thủ pháp sư phạm.
2. Một số phương pháp đặc trưng của bộ môn Lịch sử
1. Trình bày miệng
2. Sử dụng đồ dùng trực quan
3. Sử dụng sách giáo khoa và các tài liệu học tập khác
4. Dạy học nêu vấn đề
5. Tổ chức việc tự học lịch sử cho học sinh…
3. Một số hình thức dạy học thường được sử dụng trong môn Lịch sử
1. Dạy học liên môn
căng thẳng GV nên dừng lại vài giây đặt câu hỏi đưa các em vào tình huống: Nếu
đặt mình trong đó mình sẽ phải giải quyết như thế nào? Tường thuật thường kết
hợp với miêu tả, giải thích, đồ dùng trực quan…
1.1.3. Miêu tả :
Là trình bày những đặc trưng của một sự vật, một sự kiện lịch sử để nêu lên
những nét bản chất chủ yếu, cấu tạo bên trong cũng như hình dáng bên ngoài của
chúng.
Ví dụ như miêu tả địa thế Điện Biên Phủ...Có thể chia miêu tả làm hai loại :
Miêu tả toàn bộ bức tranh quá khứ và miêu tả khái quát có phân tích. Yêu cầu khi
miêu tả giáo viên phải đảm bảo tính khách quan khoa học đồng thời phải trình bày
rõ ràng, có thái độ đúng đắn với đối tượng được miêu tả
1.1.4. Nêu đặc điểm về sự kiện, nhân vật lịch sử:
Là một dạng của miêu tả nhằm làm sáng tỏ những nét bản chất, những đặc
trưng trong mối liên hệ bên trong của các hiện tượng lịch sử. Nêu đặc điểm thường
được dùng trong các trường hợp sau: Dùng xen vào tường thuật nhằm cụ thể hóa
một sự kiện, nhân vật lịch sử hoặc dùng để khái quát tính chất một hiện tượng lịch
12
sử dưới dạng một hình ảnh tượng trưng để giúp học sinh dễ tiếp thu nội dung bản
chất của hiện tượng
1.1.5. Giải thích
Được sử dụng trong việc tìm hiểu bản chất, ý nghĩa của những hiện tượng
phức tạp, những khái niệm, các qui luật, nhằm làm cho học sinh có quan điểm khoa
học về sự phát triển của xã hội loài người ,về những mối liên hệ nhân quả giữa các
hiện tượng
Giải thích được sử dụng khi trình bày sự kiện quan trọng, giáo viên cung cấp
cho học sinh những kiến thức cần thiết rồi dừng lại phân tích sự kiện ấy hoặc
hướng dẫn học sinh tự phân tích. VD: khi dạy về phong trào cách mạng 1930-1931
với đỉnh cao Xô viết Nghệ Tĩnh giáo viên hướng dẫn HS phân tích: Tại sao đó là
1.2.2 Các loại đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử.
Có nhiều cách phân loại đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử ở trường
phổ thông . Xong về cơ bản chúng ta có thể chia chúng thành 3 nhóm lớn:
1.2.2.1. Đồ dùng trực quan hiện vật
- Bao gồm:
+ Những di ích lịch sử cách mạng như: Kinh đô Huế, hang Pắc Pó…
+ Những di vật khảo cổ, các di vật thuộc các thời đại lịch sử như:
Trống đồng Đông Sơn, mũi tên đồng ở Cổ Loa, cọc gỗ Bạch Đằng, xe tăng
tiến vào dinh Độc Lập…
Đồ dùng trực quan hiện vật là một tài liệu gốc rất có giá trị, có ý nghĩa to lớn
về mặt nhận thức. Tuy nhiên việc sử dụng chúng còn bị hạn chế do nó không có
sẵn trong nhà trường, nó được lưu trữ trong các bảo tàng hoặc di tích không còn
nguyên vẹn, bị huỷ hoại theo thời gian.Trong những điều kiện thuận lợi, giáo viên
nên tổ chức giảng dạy ngay trong các viện bảo tàng ở TW, địa phương hoặc ở ngay
các địa điểm diễn ra các sự kiện lịch sử.
1.2.2.2. Đồ dùng trực quan tạo hình:
Gồm các loại phục chế, mô hình, sa bàn, tranh ảnh lịch sử… Nó có khả năng
khôi phục lại hình ảnh của những con người, đồ vật, biến cố, sự kiện lịch sử một
cách cụ thể, sinh động, khá xác thực.
Ví dụ:
- Sa bàn chiến dịch Điện Biên Phủ, chiến dịch Hồ Chí Minh
- Bức ảnh “Nguyễn Ái Quốc ở đại hội Tua năm 1920”; “Lễ thành lập
Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân 22/12/1944”
- Phim tài liệu về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch
1.2.2.3. Đồ dùng trực quan qui ước:
Bao gồm: Các loại bản đồ lịch sử. Sơ đồ, đồ thị, niên biểu… Các loại đồ
dùng này tạo cho học sinh những hình ảnh tượng trưng khi phản ánh những mặt
chất lượng và số lượng của quá trình lịch sử, đặc trưng, khuynh hướng phát triển
của hiện tượng kinh tế, chính trị, xã hội của đời sống. Nó không chỉ là phương tiện
Hình vẽ tranh ảnh không chỉ là nguồn kiến thức có tác dụng giáo dục tư
tưởng tính cách mà còn phát triển tư duy cho học sinh. Từ việc quan sát tranh ảnh
sẽ đến tư duy trìu tượng. Bản thân tranh ảnh không thể gây ra quan sát tích cực nếu
không được đặt trong những tình huống có vấn đề, trong những nhu cầu cần thiết
phải trả lời một vấn đề cụ thể. Thông qua quan sát miêu tả tranh ảnh học sinh được
rèn luyện kỹ năng diễn đạt, lựa chọn ngôn ngữ, từ đó rèn khả năng sử dụng ngôn
ngữ sử học của các em ngày càng phong phú. Từ việc quan sát, giáo viên luyện cho
học sinh cách xem xét phân tích, giải thích để rút ra kết luận. Nếu làm thường
xuyên các thao tác tư duy được rèn luyện, khả năng phát huy trí thông minh sáng
tạo của học sinh ngày càng nâng nên.
Ví dụ 1 : Bài 24.Cuộc đấu tranh bảo vệ và xây dựng chính quyền dân chủ
nhân dân 1945 – 1946.
Khi dạy phần diệt giặc dốt giáo viên cho học sinh quan sát bức tranh hình 43 “ lớp
bình dân học vụ”. Để giúp học sinh thấy được phong trào xóa nạn mù chữ diễn ra
rất sôi nổi, tích cực, thể hiện truyền thống hiếu học của nhân dân ta. Trước hết giáo
viên cho học sinh quan sát bức tranh và có những câu hỏi gợi mở:
- Qua bức tranh này em thấy nhân dân ta học tập trong điều kiện như thế
nào?
- Lớp học gồm những thành phần nào ?
- Gương mặt và thái độ học tập của mỗi người ra sao ? Thể hiện điều gì ?
- Sau khi học sinh trao đổi thảo luận, giáo viên sẽ sử dụng phương pháp trình
bày miệng kết hợp với đồ dùng trực quan để các em hiểu: “ Đây là một trong những
hình ảnh thực của lớp bình dân học vụ ban đêm ở miền Bắc, trước mặt mỗi người
có một đèn dầu nhỏ, mọi người đang chăm chỉ học tập để đẩy lùi bóng đêm ngu
dốt, nét mặt ai cũng lộ rõ vẻ quyết tâm học chữ. Truyền thống hiếu học lâu đời của
nhân dân ta bị chế độ thực dân phong kiến kìm hãm đến nay đã có dịp phát huy
mạnh mẽ. Mặc dù phải học trong những điều kiện thật khó khăn, gian khổ giữa bao
thiếu thốn và công việc bộn bề ngay sau Cách mạng tháng Tám thành công, nhưng
nhân dân ta đã vượt nên tất cả mọi khó khăn vẫn hăng hái đi học. Trong đêm tối,
dưới ngọn đèn dầu le lói mọi người đều chăm chú say xưa học tập. Bình dân học vụ
sau lưng địch
Ví dụ 3: Bài 27 Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược
kết thúc 1953-1954.
Khi dạy phần :Cuộc tiến công chiến lược Đông – Xuân 1953-1954 và chiến
dịch lịch sử Điện Biên Phủ 1954. Trong mục 2.Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ
1954 Giáo viên cho học sinh quan sát bức ảnh hình 55 SGK, rồi nêu vấn đề : Quan
sát bức ảnh em hiểu được điều gì? Kết hợp các phương pháp: Sử dụng đồ dùng trực
quan, nêu và giải quyết vấn đề, trình bày miệng, tích hợp với môn Âm nhạc, Văn
học, sử dụng câu chuyện về nhân vật lịch sử (Anh hùng Tô Vĩnh Diện- lấy thân
mình cứu pháo), ứng dụng công nghệ thông tin…GV cho HS hiểu được công việc
chuẩn bị cho chiến dịch Điện Biên Phủ của nhân dân ta: Trong ảnh các chiến sỹ
pháo binh đang gò lưng kéo pháo, cả người và pháo đều phải ngụy trang bằng lá
16
cây. Đường rừng thì hẹp, bề ngang chỉ vừa đủ bề ngang của khẩu pháo. Các chiến
sỹ đã buộc dây chão vào khẩu pháo và đứng thành hai hàng, người nọ đứng sát
người kia, pháo kéo đến đâu thì phải có người chèn pháo đến đấy, đề phòng pháo
trượt xuống dốc. Có một chiến sỹ đứng ngoài hàng hô: một, hai, ba, hò dô ta
nào…! Cứ thế, cứ thế, với lòng yêu nước, quyết tâm tiêu diệt giặc, các chiến sỹ
pháo binh của ta đã kéo được các khẩu pháo vào trận điạ, sẵn sàng nã những đòn
sấm sét xuống đầu quân thù.
Như vây việc khai thác nội dung tranh ảnh trong SGK kết hợp với phương
pháp: Sử dụng đồ dùng trực quan, nêu và giải quyết vấn đề, trình bày miệng, tích
hợp với môn Âm nhạc, Văn học, sử dụng câu chuyện về nhân vật lịch sử , ứng
dụng công nghệ thông tin… Vừa giúp giáo viên bổ sung kiến thức cho bài giảng,
vừa phát huy được năng lực tư duy cho học sinh, kích thích trí tưởng tượng phong
phú, giờ học nhẹ nhàng thoải mái, bớt căng thẳng, tạo hứng thú học tập để HS tiếp
thu bài tốt hơn.
1.2.3.2. Phương pháp sử dụng bản đồ trong dạy học Lịch sử.
rồi trả lời các câu hỏi gợi mở của GV để phát triển năng lực tư duy cho HS:
- Tại sao ta chọn Tây Nguyên làm chiến dịch mở màn cho cuộc tổng tiến
công?
- Tại sao ta chọn Buôn Ma Thuột làm trận đánh mở đầu?
- Mất Buôn Ma Thuột có ảnh hưởng như thế nào đến chính quyền Sài Gòn?
- Thắng lợi Tây Nguyên có ý nghĩa như thế nào?
Như vậy với loại bài kháng chiến, khởi nghĩa. GVnên vận dụng các phương
pháp: Trình bày miệng, trực quan, nêu và giải quyết vấn đề…để giúp học sinh tạo
biểu tượng lịch sử, gây hứng thú học tập, kích thích tư duy phát triển.
1.2.3.3. Sử dụng chân dung các nhân vật LS và kể các câu chuyện về
nhân vật LS
Học sinh rất thích xem tranh ảnh, nghe kể chuyện chân dung các nhà cách
mạng, các anh hùng dân tộc, các vị lãnh tụ… khi sử dụng GVcần chú ý đến mục
đích giáo dục, giáo dưỡng và phát triển tư duy. Phải làm nổi bật tính cách của nhân
vật thông qua miêu tả bên ngoài, hay nêu khái quát ngắn gọn tiểu sử để cho học
sinh hứng thú, kích thích óc tò mò, phát triển năng lực nhận thức. Qua việc sử dụng
chân dung các nhân vật LS, học sinh học tập được tài trí, đạo đức, lòng yêu nước,
tinh thần đấu tranh hy sinh vì độc lập tự do cho đất nước của họ qua đó các em tự
rèn mình qua các tấm gương đó.
Ngoài việc chọn hình dáng đặc điểm riêng của từng nhân vật LS để gây
hứng thú học tập cho HS thì GV còn phải biết chọn lọc những hoạt động tiêu biểu
hay sự nghiệp, những công lao của nhân vật ấy đối với đất nước hoặc nhân loại của
nhân vật đó để khắc sâu kiến thức cho các em: Một nhân vật lịch sử bao giờ cũng
có một sự nghiệp nhất định, có khi bao gồm nhiều mặt. Trong một thời gian ngắn
ngủi (45phút) trên lớp, người thầy giáo dạy sử không thể nào kể lại toàn bộ sự
nghiệp của nhân vật, mà chỉ có thể chọn lọc một trong hai hoạt động tiêu biểu nhất
trong cuộc sống hoặc những hoạt động điển hình nhất, cần phải chọn lọc tinh giản
cao độ nhưng phải đầy đủ chính xác, làm sao khi giảng mà không nông cạn, không
mơ hồ.
Để đạt được mục đích trên, người giáo viên phải mất nhiều công sức như sưu
tổng Bí thư của Đảng, sau đó về hoạt động ở Sài Gòn. Sau thời gian hoạt động
ngày 19/4/1931 ông bị địch bắt tra tấn và hy sinh lúc mới 27 tuổi. Sau khi HS nghe
xong GV đặt câu hỏi:
- Em có cảm nghĩ gì về đồng chí Trần Phú? Qua đó em học tập được gì?
Ví dụ 2: Bài 27 Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược
kết thúc 1953-1954.
Khi dạy phần : Cuộc tiến công chiến lược Đông – Xuân 1953-1954 và chiến
dịch lịch sử Điện Biên Phủ 1954. Khi khai thác hình 55 SGK. Bộ đội ta kéo pháo
vào Điện Biên Phủ giáo viên có thể tích hợp với môn Âm nhạc cho HS nghe giai
điệu Hò kéo pháo, tích hợp với môn Văn:
“Những đồng chí chèn lưng cứu pháo
Nát thân nhắm mắt còn ôm…”
Đặt vấn đề : Câu thơ trên nói về ai ? Sau khi HS trả lời, GV kể cho học sinh nghe
câu chuyện về : Anh hùng liệt sỹ Tô Vĩnh Diện: “ Tô Vĩnh Diện sinh năm 1924 ở
Nông Trường- Nông Cống- Thanh Hóa. Là tiểu đội trưởng pháo cao xạ thuộc Đại
đội 827, Tiểu đoàn 394, Trung đoàn 367. Được lệnh tham gia chiến dịch Điện Biên
Phủ: Kéo pháo lên trận địa. Tối ngày 25.1.1954 bắt đầu xuất phát, đến ngày
30.1.1954 đơn vị Tô Vĩnh Diện kéo pháo ra đến Dốc Chuối, một cái dốc nghiêng
70 độ đường hẹp và cong rất nguy hiểm, bộ đội ta đặt tên là “dốc ba tời” vì mỗi lần
vượt dốc, mỗi pháo phải mắc tới ba tời. Khẩu pháo nặng 2,5 tấn phải huy động 120
người kéo. Tô Vĩnh Diện xung phong cùng đồng chí Tỵ lái pháo, không may nửa
chừng dốc thì dây tời bị đứt, khẩu pháo cứ thế lao nhanh xuống dốc. Anh bình tĩnh
giữ càng, lái cho pháo xuống thẳng đường. Không may một trong bốn dây pháo lại
19
bị đứt, pháo càng lao nhanh hất đồng chí Tỵ xuống suối. Trước hoàn cảnh hiểm
nghèo đó Tô Vĩnh Diện hô anh em: “Thà hy sinh, quyết bảo vệ pháo” và buông tay
lái chạy lên trước lấy thân mình lao vào chèn bánh pháo. Khẩu pháo bị vướng,
nghiêng dựa vào sườn núi nhờ đó đơn vị kịp ghìm giữ được pháo dừng lại.
- Em có cảm nghĩ gì về đồng chí Phan Đình Giót? Qua đó em học tập được gì?
1.2.3.4 Sử dụng niên biểu, đồ thị, sơ đồ:
Đây là phương pháp hệ thống hóa các sự kiện quan trọng theo thứ tự thời gian,
đồng thời nêu lên mối liên hệ giữa các sự kiện cơ bản của một giai đoạn lịch sử.
Chúng ta có thể sử dụng các loại niên biểu sau:
- Niên biểu tổng hợp
20
- Niên biểu chuyên đề
- Niên biểu so sánh
Ngoài ra còn sử dụng: Đồ thị và sơ đồ
1.2.3.5. Yêu cầu chung khi sử dụng đồ dùng trực quan
- Phải có sự chuẩn bị chu đáo, nắm vững nội dung, ý nghĩa từng loại để lựa
chọn cho phù hợp với từng kiểu bài
- Xác định rõ mục đích trình bày trực quan. Khi sử dụng đưa ra khéo léo kịp
thời, đúng nội dung, treo đúng vị trí, dùng xong cất ngay để đảm bảo tính khoa học,
tránh sự phân tán của học sinh.
- Đồ dùng trực quan phải đảm bảo tính tư tưởng, tính khoa học, tính thẩm mĩ.
Tất cả học sinh được quan sát rõ ràng, đầy đủ. Khi sử dụng phải kiểm tra được
nhận thức của học sinh, chú ý phát triển óc quan sát, phân tích, so sánh, tổng hợp,
khái quát, nhận xét, rút ra kết luận.
Tóm lại, trong dạy học lịch sử ở trường Phổ thông, việc kết hợp lời nói sinh
động với sử dụng đồ dùng trực quan là một trong những điều kiện quan trọng nhất
để thực hiện nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển cho học sinh.
1.3. Sử dụng sách giáo khoa và các tài liệu học tập khác
1.3.1. Vị trí
- Sách giáo khoa là sự cụ thể hoá chương trình môn học do Nhà nước quy
định, được biên soạn theo chương trình và quán triệt mục tiêu đào tạo đã được xác
định , trong đó phải thể hiện mục đích, yêu cầu, nội dung và phương pháp dạy học.
Thường thường, đó là phần tài liệu ít có ý nghĩa, nhưng đôi khi rất quan trọng mà
không đưa vào được do thiếu thời gian.
Việc bổ sung sách giáo khoa và cụ thể hóa những luận điểm chung trong
SGK không những làm cho bài giảng thêm dễ hiểu hơn mà còn tạo cho nó có tính
hấp dẫn, cảm xúc và động viên được tính tư duy của học sinh. Bởi vì, “tài liệu học
tập tự nó đã chứa đựng nhiều yếu tố kích thích, động viên tính ham hiểu biết và
tính tích cực của học sinh. Đó là tính chất mới lạ của tư duy của khoa học, tính sáng
tỏ của sự kiện, tính độc đáo của các kết luận, phương pháp đặc sắc để phát hiện ra
những khái niệm đã được hình thành, sự xâm nhập sâu xa vào các bản chất của sự
kiện…”. Do đó, theo Dairi “nhiệm vụ đầu tiên trước khi chuẩn bị vào giờ học là
xác định xem nội dung nào của SGK sẽ đưa vào hay không đưa vào bài giảng? Nội
dung nào cần bổ sung và vì sao bổ sung cho quá trình lịch sử được miêu tả và giải
thích một cách đúng đắn, trọn vẹn. Chỉ với cách xử lý như vậy chúng ta mới đạt
được mục đích mở rộng thông tin và mới tập trung một cách đầy đủ vào những nội
dung quan trọng nhất”.
Tóm lại, việc sử dụng sơ đồ Dairi vừa có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn sâu
sắc, giúp GV khắc phục được mâu thuẫn trong quá trình dạy học, tránh được tình
trạng quá tải và tạo hứng thú cho HS trong dạy học, góp phần nâng cao chất lượng
dạy học. Tuy nhiên, GVcũng nên lưu ý rằng việc sử dụng sơ đồ Dairi cần linh hoạt,
không công thức, tùy theo nội dung bài giảng và trình độ cụ thể của HS cũng như
điều kiện cụ thể của dạy học.
Bằng lý luận dạy học và kinh nghiệm thực tế ở nhà trường phổ thông, chúng
ta có thể xác định cách sử dụng SGK như sau:
Đối với giáo viên, để sử dụng SGK lịch sử được tốt, đúng mục đích và yêu
cầu bài học lịch sử, người GV cần thực hiện các công việc sau : (1) xác định kiến
thức cơ bản trong bài giảng; (2) sử dụng tranh ảnh trong sách giáo khoa lịch sử và
(3) sử dụng hệ thống câu hỏi trong sách giáo khoa để phát huy tính tích cực, độc
lập nhận thức của học sinh. Chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu các công việc của GV
khi sử dụng SGK trong dạy học lịch sử.
- Xác định kiến thức cơ bản của bài giảng: Việc làm này có vai trò quan
của mình chứ không rập khuôn theo một khuôn mẫu nào cả. GVcó thể tự mình xác
định mục tiêu bài học dựa trên SGK và theo chuẩn kiến thức kỹ năng. Và tất nhiên,
mục tiêu bài học phải có 3 mục chính: kiến thức, kỹ năng và tư tưởng, trong đó
quan trọng nhất là phải nắm vững kiến thức cơ bản của bài học. Từ việc nắm vững
kiến thức bài học, giáo viên tiến hành các thao tác sư phạm để giảng giải kiến thức
ấy giúp HS nắm vững, khắc sâu kiến thức cơ bản của bài học, bồi dưỡng tình cảm
cho HS và đồng thời rèn luyện các kỹ năng cho HS như kỹ năng diễn đạt, kỹ năng
đọc bản đồ, tranh ảnh…
Ví dụ: Bài 27. Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp kết thúc
(1953 – 1954). Căn cứ vào vị trí của bài trong chương, ta cần xác định rõ mục tiêu
của bài học này là: Về phía địch, trong thời gian cuối của cuộc kháng chiến chống
Pháp của nhân dân ta, Pháp gặp nhiều khó khăn về binh lực cũng như trang thiết bị,
chiến lược, Mỹ ngày càng can thiệp sâu vào Việt Nam, cùng Pháp thực hiện âm
mưu mới thâm độc thể hiện trong kế hoạch Nava. Còn ở phía ta, trước âm mưu của
địch ta đã chuẩn bị sẵn thế và lực vững mạnh, đủ sức chống lại kế hoạch của Pháp
– Mỹ. Với mục tiêu bài học như vậy, khi dạy tiết 1 của bài, GVsẽ phải làm rõ các
kiến thức cơ bản: kế hoạch Nava để thấy rõ âm mưu thâm độc của Pháp – Mỹ, chủ
trương chiến lược của ta và thắng lợi to lớn của quân dân ta ở Điện Biên Phủ, đây
23
chính là kiến thức cơ bản cần nắm vững để qua đó HS hiểu được vì sao quân ta
đánh thắng được địch trong chiến dịch Điện Biên Phủ và trong cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp xâm lược ?.
Trong mục I. Kế hoạch Na-Va của Pháp-Mĩ và mục II: Cuộc tiến công chiến
lược Đông – Xuân 1953 – 1954 và chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, GVcần làm rõ
hoàn cảnh và nội dung kế hoạch Nava và khẳng định cho HS biết rằng, kế hoạch
Nava thực chất chính là âm mưu mới của Pháp và Mỹ ở chiến trường Đông Dương.
Với kế hoạch quân sự quan trọng này, Pháp – Mỹ hy vọng rằng, chiến tranh của
chúng chống lại quân dân ta sẽ giành một thắng lợi quyết định trong 18 tháng để
đoạn trích, hồi ký, những mẩu chuyện lịch sử có liên quan đến nội dung chính của
bài) để lồng vào bài giảng. Các ý cơ bản đó, thông thường giáo viên có 2 cách sử
dụng:
24