MỤC LỤC
A.
ĐẶT VẤN ĐỀ………………………………………………………………………..1
B.
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHÁNG CÁO, KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM
1.
Khái niệm kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm …………………………………………...1
2.
Ý nghĩa của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm …………………………………………2
3. Những quy định của BLTTHS về kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm
3.1. Đối tượng của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm………………………………………2
3.2. Chủ thể của quyền kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm………………………………....4
3.3. Căn cứ kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm……………………………………………..5
3.4. Thủ tục kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm……………………………………………..5
3.5. Thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm……………………………………………6
3.6. Thông báo kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm………………………………………….6
3.7. Hậu quả kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm…………………………………………….6
3.8. Bổ sung, thay đổi và rút kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm…………………………...7
II. THỰC TIỄN THI HÀNH NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA BLTTHS VỀ
KHÁNG CÁO, KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
NÂNG CAO HIỆU QUẢ KHÁNG CÁO, KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM
1. Thực tiễn thi hành những quy định của BLHS về kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm
chưa có hiệu lực pháp luật đó không đảm bảo tính có căn cứ và tính hợp pháp.
2.
Ý nghĩa của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm
Kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm là một chế định có vị trí và vai trò quan trọng
trong TTHS. Xét cả về mặt lý luận và thực tiễn, kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm không
thể thiếu được trong pháp luật TTHS Việt Nam. Nếu không quy định quyền kháng cáo,
kháng nghị phúc thẩm cho các chủ thể có quyền kháng cáo và Viện kiểm sát các cấp thì sẽ
có rất nhiều bản án, quyết định sơ thẩm thiếu căn cứ, vi phạm pháp luật được đem ra thi
hành, dẫn tới quyền và lợi ích của bị cáo và những người tham gia tố tụng bị xâm phạm.
Đồng thời, nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử không có cơ sở để thực hiện hoặc có
thực hiện được cũng không đạt được hiệu quả và mục đích của nó, pháp chế xã hội chủ
2
nghĩa khó được bảo đảm. Như vậy, kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm có ý nghĩa quan trọng
cả về mặt chính trị, pháp lý và xã hội.
3. Những quy định của BLTTHS về kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm
3.1. Đối tượng của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm
Đối tượng của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm là những bản án, quyết định sơ
thẩm chưa có hiệu lực pháp luật. Nhưng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật mà
phát hiện sai lầm không phải là đối tượng của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm mà là đối
tượng của kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.
3.2. Chủ thể của quyền kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm
- Chủ thể của quyền kháng cáo phúc thẩm
Chủ thể có quyền kháng cáo được quy định tại Điều 231 BLTTHS và được hướng dẫn tại
mục 1 phần I của Nghị quyết số 05/2005/NQ- HĐTP ngày 05 tháng 11 năm 2004 hướng
dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ tư “xét xử phúc thẩm” của Bộ luật Tố tụng
Nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự chỉ tham gia vụ án hình sự để giải quyết vấn đề
dân sự phát sinh trong vụ án hình sự nên quyền kháng cáo của họ hạn chế trong phạm vi
phần bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật liên quan đến việc bồi thường thiệt hại.
+Người có quyền lơi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người đại diện hợp pháp của họ
Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 54 và Điều 231 BLTTHS, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo
phần bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của
họ mà không được kháng cáo các phần khác như phần hình phạt, bồi thường thiệt hại…
+ Người bảo vệ quyền lợi của đương sự
Theo quy định tại Điều 59 BLTTHS, người bảo vệ quyền lợi của đương sự là người
chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất bao gồm: luật sư, bào
chữa viên nhân dân hoặc người khác được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án chấp
nhận bảo vệ quyền lợi cho mình. Đây là quyền kháng cáo độc lập của người bảo vệ quyền
lợi của đương sự, không phải do đương sự ủy quyền. Người bảo vệ quyền lợi của đương sự
chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất có quyền kháng cáo
phần bản án hoặc quyết định sơ thẩm có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của người mà
mình bảo vệ.
-Chủ thể của quyền kháng nghị phúc thẩm
4
Điều 232 BLTTHS năm 2003 quy định: “Viện kiểm sát cùng cấp và Viện kiểm sát
cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị những bản án hoặc quyết định sơ thẩm”. Viện kiểm
sát kháng nghị nhằm yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định
sơ thẩm không đảm bảo tính căn cứ, tính hợp pháp. Xuất phát từ trách nhiệm của Viện kiểm
sát cấp trên tại Điều 8 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 2, Điều 232 BLTTHS
năm 2003 không chỉ quy định cho Viện kiểm sát cùng cấp mà Viện kiểm sát cấp trên trực
tiếp cũng có quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự. Thẩm quyền quyết định việc kháng nghị
thuộc về Viện trưởng viện kiểm sát. Khi được phân công thực hành quyền công tố và kiểm
sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với vụ án hình sự, phó viện trưởng
phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng được quy định tại mục 4.4 Phần I của Nghị quyết số
04/2004/NĐ-HĐTP ngày 15/11/2004 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn thi
hành một số quy định trong phần thứ ba “Xét xử sơ thẩm” của BLTTHS năm 2003. 4
3.4. Thủ tục kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm
- Thủ tục kháng cáo phúc thẩm
Thủ tục kháng cáo được quy định tại khoản 1 Điều 233 BLTTHS: “Người kháng cáo
phải gửi đơn đến Tòa đã xử sơ thẩm hoặc Tòa án cấp phúc thẩm. Trong trường hợp bị cáo
đang bị tạm giam, Ban giám thị trại giam phải bảo đảm cho bị cáo thực hiện quyền kháng
cáo. Người kháng cáo cũng có thể trình bày trực tiếp với Tòa án đã xử sơ thẩm về việc
kháng cáo. Tòa án phải lập biên bản về việc kháng cáo đó theo quy định tại Điều 95 của
Bộ luật này”.
-Thủ tục kháng nghị phúc thẩm
Khoản 2 Điều 233 BLTTHS quy định: “Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát
cấp trên trực tiếp kháng nghị bằng văn bản , có nêu rõ lý do. Kháng nghị phải được gửi
đến Tòa án đã xử sơ thẩm.”
3.5. Thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm
Thời hạn kháng cáo, kháng nghị là thời hạn mà pháp luật quy định cho các chủ thể
thực hiện quyền kháng cáo, kháng nghị.
-Thời hạn kháng cáo phúc thẩm:
4 Nội dung của quy định này xem tại mục 4 của Phụ lục
6
Theo quy định của pháp luật hiện hành, thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm và
kháng cáo quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật được quy định không giống nhau:
+ Trường hợp kháng cáo đối với bản án sơ thẩm:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 234 BLTTHS: “Thời hạn kháng cáo là mười lăm
ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với bị cáo, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn
hạn 7 ngày kể từ ngày nhận được kháng cáo, kháng nghị. Việc thông báo là để những người
này biết được việc vụ án sẽ được xét xử phúc thẩm, qua đó họ sẽ chuẩn bị cho việc tham gia
và bảo vệ quyền lợi của mình tại phiên tòa, cung cấp thêm những chứng cứ, tài liệu mới.
Riêng đối với bị cáo, việc thông báo còn đảm bảo cho họ có điều kiện thực hiện tốt quyền
bào chữa tại phiên tòa phúc thẩm. Người được thông báo về việc kháng cáo, kháng nghị có
quyền gửi ý kiến của mình cho tòa án cấp phúc thẩm.
3.7. Hậu quả kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm
Kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm là cơ sở để phiên tòa phúc thẩm được mở ra và
Tòa án cấp trên trực tiếp của Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ
thẩm. Do vậy, sau khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án hay quyết định sơ thẩm thì bản án,
quyết định đó chưa có hiệu lực pháp luật ngay. Khi thời hạn kháng cáo, kháng nghị hết mà
có đơn kháng cáo, kháng nghị thì những phần của bản án bị kháng cáo, kháng nghị chưa có
hiệu lực pháp luật nên chưa được đưa ra thi hành, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều
255 BLTTHS: “ Trong trường hợp bị cáo đang bị tạm giam mà Tòa án cấp sơ thẩm quyết
định đình chỉ vụ án, không kết tội, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt cho bị cáo,
hình phạt không phải là tù giam hoặc phạt tù bằng hoặc ngắn hơn thời hạn đã tạm giam thì
bản án hay quyết định của Tòa án được thi hành ngay, mặc dù vẫn có thể bị kháng nghị,
kháng cáo”. Khi có kháng cáo, kháng nghị, tòa án cấp sơ thẩm phải gửi hồ sơ vụ án cùng
với đơn kháng cáo, kháng nghị cho tòa án cấp phúc thẩm trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày
hết hạn kháng cáo, kháng nghị để tòa án cấp phúc thẩm chuẩn bị cho việc xét xử.
3.8. Bổ sung, thay đổi và rút kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm
-Về việc bổ sung, thay đổi kháng cáo, kháng nghị:
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 238 BLTTHS thì sau khi có kháng cáo, kháng nghị,
người đã kháng cáo, viện kiểm sát đã có kháng nghị có quyền bổ sung, thay đổi kháng cáo,
kháng nghị của mình trước khi bắt đầu hoặc tại phiên tòa phúc thẩm nhưng không được bổ
sung, thay đổi theo hướng làm xấu đi tình trạng của bị cáo. Người đã kháng cáo hoặc viện
8
kiểm sát đã kháng nghị về tội nào thì có quyền bổ sung hoặc thay đổi kháng cáo, kháng
kháng cáo đúng thời hạn, thực hiện tốt việc thông báo kháng cáo đến những chủ thể có liên
quan đầy đủ và kịp thời.
-
Những vướng mắc, tồn tại trong việc thực hiện quyền kháng cáo phúc thẩm
Thứ nhất, qua thực tiễn xét xử phúc thẩm cho thấy, số lượng kháng cáo đối với một bản
án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật ngày càng nhiều. Những vụ án đơn giản
và ít bị cáo thì không gây nhiều ảnh hưởng, tuy nhiên khi mà tính chất vụ án phức tạp và
nhiều bị cáo và người tham gia tố tụng trong một vụ án cụ thể thì thực tế này gây ra rất
nhiều khó khăn cho cơ quan tiến hành tố tụng. Việc thực hiện kháng cáo tràn lan và mang
tính chất cầu may dẫn đến tố tụng kéo dài vô ích và thậm chí là không có căn cứ, điều đó
thể hiện ở chỗ rất nhiều phiên tòa phúc thẩm được mở nhưng kết quả là xử y án sơ thẩm.
Thứ hai, trường hợp kháng cáo không hợp pháp vẫn còn tồn tại phổ biến. Thực tiễn
công tác xét xử, thụ lý kháng cáo cho thấy các đơn kháng cáo không hợp pháp và không
được chap nhận tập trung ở các trường hợp như: kháng cáo quá hạn mà không đưa ra được
lý do chính đáng, người kháng cáo không thuộc những trường hợp quy định tại Điều 231
BLTTHS, kháng cáo vượt quá phạm vi, giới hạn mà pháp luật cho phép, người có quyền
kháng cáo nhờ người khác ký hộ đơn kháng cáo hoặc kháng cáo gửi đúng hạn nhưng không
có chữ ký, địa chỉ hoặc kháng cáo của bị cáo đang bị tạm giam không có xác nhận của Ban
giám thị trại giam, đơn kháng cáo của người tham gia tố tụng mà tư cách tố tụng của họ bị
Tòa án đã xét xử sơ thẩm xác định sai.
Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế thiếu sót trên có thể kể đến:
Một là, do sự bất cập của một số quy định pháp luật hiện hành và thiếu các văn bản
hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Hai là, những hạn chế nhất định về trình độ, năng lực cũng như đạo đức nghề nghiệp
của cán bộ các cơ quan có liên quan mà trực tiếp là đội ngũ cán bộ thụ lý kháng cáo, cán bộ
Ban giám thị trại giam.
Những vướng mắc, tồn tại và nguyên nhân của những vướng mắc, tồn tại trong việc thực
hiện quyền kháng nghị phúc thẩm
Thứ nhất, số vụ án và số bị cáo bị Viện kiểm sát các cấp kháng nghị phúc thẩm còn
chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng số các vụ án và số bị cáo đã xét xử sơ thẩm 7 .
7 Các số liệu cụ thể được trình bày tại mục 7 của Phụ lục
11
Tuy nhiên, vẫn còn một số lượng vụ án đã xét xử sơ thẩm bị kháng nghị theo thr tục giám
đốc thẩm, điều này chững tỏ công tác thực hiện quyền kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm
sát các cấp vẫn còn chưa triệt để, vẫn còn những bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu
lực pháp luật không đảm bảo tính có căn cứ và tính hợp pháp không bị kháng nghị phúc
thẩm và được đưa ra thi hành khi nó có hiệu lực pháp luật.
Thứ hai, vẫn còn tồn tại những kháng nghị phúc thẩm chưa phù hợp với quy định
của pháp luật, nội dung của kháng nghị chưa bám sát vào các căn cứ kháng nghị phúc thẩm
được quy định trong Quy chế thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự.
Nhiều kháng nghị phúc thẩm vẫn chưa xác định được chính xác những vi phạm pháp luật
trong bản án hoặc quyết định sơ thẩm, chưa xác định các vi phạm trong thủ tục tố tụng,
chưa bám sát vào các căn cứ kháng nghị phúc thẩm theo khoản 1 Điều 33 Quy chế thực
hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự.
Thứ ba, khi thực hiện quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát các
cấp còn tồn tại tình trạng kháng nghị ban hành quá hạn, còn tồn tại nhưng sai sót về hình
thức kháng nghị.
Thứ tư, sự phối, kết hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc thực hiện
quyền kháng nghị phúc thẩm còn chưa được thực hiện tốt, đặc biệt là công tác phối hợp
giữa Tòa án và Viện kiểm sát, giữa Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp với Viện kiểm sát cấp
dưới. Chính vì vậy, công tác thực hiện quyền kháng nghị phúc thẩm còn gặp những khó
khăn nhất định Tòa án gửi bản án cho Viện kiểm sát không đúng thời hạn luật định hoặc quá
quyết 05 hướng dẫn quy định tại Điều 231 BLTTHS như sau: “ Người bị hại, người đại
diện hợp pháp của họ (đại diện theo pháp luật) có quyền kháng cáo toàn bộ bản án hoặc
quyết định sơ thẩm theo hướng có lợi cho bị cáo hoặc theo chiều hướng làm xấu đi tình
trạng của bị cáo”. Quy định này lại là quá rộng và và không hợp lý vì nếu cho phép họ
kháng cáo toàn bộ bản án thì vô hình chung cho họ kháng cáo cả nhưng quyết định không
liên quan gì đến họ như quyết định xử lý vật chứng, quyết định về án phí…Khoản 3 Điều
249 BLTTHS quy định: “Trong trường hợp… người bị hại kháng cáo yêu cầu thì Tòa án
cấp phúc thẩm có thể tăng hình phạt, áp dụng điều khoản BLHS về tội nặng hơn…” Theo
quy định này, có thể hiểu người bị hại được pháp luật cho phép kháng cáo cả phần tội danh
chứ không chỉ là những trường hợp đã nêu ở trên. Như vậy, để thống nhất và mang tính khái
13
quát cao hơn về phạm vi kháng cáo của người bị hại, có thể quy định tại Điều 231 như sau:
“Người bị hại hoặc người đại diện của họ có quyền kháng cáo bản án, quyết định sơ thẩm
cả về phần hình sự và phần bồi thường thiệt hại”. Cùng với đó thì Điều 51 cũng được sửa
đổi như sau: “Người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền… kháng cáo
bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm theo quy định tại Điều 231 của Bộ luật này”.
Thứ hai, những kiến nghị về việc thông báo kháng cáo:
Điều 236 quy định thông báo kháng cáo cho tất cả “người tham gia tố tụng” là không
cần thiết, chỉ cần quy định thông báo cho “bị cáo và những người tham gia tố tụng có quyền
lợi và nghĩa vụ liên quan” là đủ và thiết thực trong những vụ án phức tạp, có nhiều người
tham gia tố tụng.
Thứ ba, vấn đề sửa đổi quy định về bổ sung, thay đổi, rút kháng cáo:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 238 BLTTHS, “trước khi bắt đầu hoặc tại phiên tòa
phúc thẩm, người kháng cáo có quyền… bổ sung, thay đổi kháng cáo nhưng không được
làm xấu hơn tình trạng của bị cáo, rút một phần hoặc toàn bộ kháng cáo”. Quy định này
chưa hợp lý, gây khó khăn cho việc thực hiện, hạn chế việc thực hiện đầy đủ quyền kháng
cáo. Như vậy, cần sửa đổi quy định này theo hướng chia làm hai trường hợp khác nhau:
trường hợp bổ sung, thay đổi trong thời gian từ khi phát sinh quyền kháng cáo cho đến hết
Thứ ba, thời hạn kháng nghị phúc thẩm hình sự:
Việc quy định thời hạn giao bản án ảnh hưởng rất lớn đến việc thực hiện quyền
kháng nghị của Viện kiểm sát và việc đảm bảo thời hạn kháng nghị phúc thẩm của Viện
kiểm sát. Do đó, để giải quyết vấn đề này có các hướng giải quyết sau: kéo dài thời hạn
kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp và của Viện kiểm sát cấp trên
trực tiếp, thay đổi quy định về cách tính thời điểm bắt đầu thời hạn kháng nghị phúc thẩm,
quy định thời điểm bắt đầu tính thời hạn kháng nghị là “kể từ ngày nhận được bản án” thay
vì “ kể từ ngày tuyên án”, rút ngắn thời hạn gửi bản án của Tòa án cấp sơ thẩm.
Thứ tư, về việc bổ sung, thay đổi, rút kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm:
Trong nhiều trường hợp tại phiên tòa phúc thẩm, việc bổ sung, thay đổi kháng nghị
phúc thẩm dẫn đến việc mở rộng phạm vi người liên quan đến kháng cáo, kháng nghị, vì
vậy, LTTHS cần có quy định về triệu tập thêm những người kháng cáo, kháng nghị phúc
thẩm mới được bổ sung đến phiên tòa phúc thẩm.
15
2.3. Một số kiến nghị khác nhằm nầng cao hiệu quả của việc kháng cáo, kháng
nghị phúc thẩm:
Thứ nhất, cần tăng cường trách nhiệm của Tòa án, đặc biệt là Tòa án cấp sơ thẩm và
Ban giám thị trại giam trong việc đảm bảo quyền kháng cáo của bị cáo và những người
tham gia tố tụng khác.
Thứ hai, không ngừng tăng cường các hoạt động phổ biến, giải thích và tuyên truyền
pháp luật, đặc biệt là các quy định của pháp luật TTHS về tất cả các vấn đề liên quan đến
quyền kháng cáo phúc thẩm của bị cáo và một số người tham gia tố tụng trong đó bao gồm
các vấn đề quan trọng như phạm vi quyền kháng cáo, thời hạn kháng cáo, cách tính thời
điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc thời hạn kháng cáo, thủ tục kháng cáo.
Thứ ba, cần tăng cường trách nhiệm của Viện kiểm sát các cấp trong việc thực hiện
quyền kháng nghị phúc thẩm đối với bản án hoặc quyết định sơ thẩm. Để nâng cao hiệu quả
kháng nghị phúc thẩm, Viện kiểm sát các cấp cần tập trung kháng nghị những vụ án mà bản
án hoặc quyết định sơ thẩm của Tòa án có vi phạm pháp luật, đối với những trường hợp Tòa
1.1. Bị cáo, người đại diện hợp pháp (đại diện theo pháp luật) của bị cáo là người chưa
thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất có quyền kháng cáo toàn bộ bản
án hoặc quyết định sơ thẩm.
1.2. Người bào chữa cho bị cáo là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm
thần hoặc thể chất có quyền kháng cáo để bảo vệ lợi ích cho bị cáo.
1.3. Người bị hại, người đại diện hợp pháp (đại diện theo pháp luật) của người bị hại trong
trường hợp người bị hại chết hoặc trong trường hợp người bị hại là người chưa thành niên,
người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất có quyền kháng cáo toàn bộ bản án hoặc
quyết định sơ thẩm theo hướng có lợi cho bị cáo hoặc theo hướng làm xấu hơn tình trạng
của bị cáo. Trong trường hợp người bị hại chỉ kháng cáo phần bản án hoặc quyết định sơ
thẩm có liên quan đến việc bồi thường thiệt hại, thì họ có thể uỷ quyền cho người khác.
Người được uỷ quyền có các quyền và nghĩa vụ như người đại diện hợp pháp của nguyên
đơn dân sự.
1.4. Trong trường hợp người bị hại chết mà có từ hai người trở lên đều là người đại diện hợp
pháp của người bị hại (ví dụ cha, mẹ, vợ và con thành niên của người bị hại) thì phân biệt như
sau:
17
a) Trường hợp trong quá trình điều tra, truy tố hoặc tại phiên toà sơ thẩm những người này đã
đồng ý cử một người trong số họ thay mặt họ tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện
hợp pháp của người bị hại (sự đồng ý này có thể được thể hiện trong văn bản riêng hoặc
trong lời khai của họ), thì sau khi xét xử sơ thẩm những người này vẫn có quyền kháng cáo
toàn bộ bản án hoặc quyết định sơ thẩm. Việc kháng cáo có thể do từng người thực hiện
hoặc có thể cử một người trong số họ thay mặt họ thực hiện.
b) Trường hợp trong quá trình điều tra, truy tố hoặc tại phiên toà sơ thẩm những người này
chưa cử ai trong số họ thay mặt họ làm người đại diện hợp pháp của người bị hại, mà người
đại diện hợp pháp của người bị hại chỉ do một hoặc một số người trong số họ tự nhận, nếu
sau khi xét xử sơ thẩm có người trong số những người chưa cử người đại diện có đơn với
nội dung khiếu nại bản án sơ thẩm hoặc xin xét xử phúc thẩm vụ án thì xử lý như sau:
nhận định Nguyễn Văn A có thực hiện hành vi trái pháp luật, nhưng chưa đến mức cấu thành
tội phạm (hoặc không cần truy cứu trách nhiệm hình sự). Trong trường hợp này Nguyễn Văn
A có quyền kháng cáo yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm sửa lại phần nhận định của bản án sơ
thẩm cho đúng với sự thật khách quan của vụ án.”
2. Điều 8 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 quy định:
“Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân do Viện trưởng lãnh đạo, Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp
trên; Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các địa phương, Viện trưởng Viện kiểm sát quân
sự các cấp chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Viện kiểm sát nhân dân cấp trên có trách nhiệm kiểm tra, phát hiện, khắc phục kịp
thời những và xử lý nghiêm vi phạm pháp luật của Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới. Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên có quyền rút đình chỉ hoặc hủy bỏ các quyết định
không có căn cứ và trái pháp luật của Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới…”
19
3.
Khoản 1 Điều 33 Quy chế thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình
sự quy định:
“Bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục
phúc thẩm khi có một trong các căn cứ sau:
a.
b.
Việc điều tra, xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm phiến diện, không đầy đủ;
Kết luận của bản án hoặc quyết định hình sự sơ thẩm không phù hợp với các
tình tiết khách quan của vụ án;
kháng nghị nhưng sau đó có kháng cáo, kháng nghị lại mà vẫn còn trong thời hạn kháng
cáo, kháng nghị, thì vẫn được chấp nhận để xét xử phúc thẩm theo thủ tục chung.
b) Trong trường hợp đã hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định tại Điều 234 của
BLTTHS, thì trước khi bắt đầu hoặc tại phiên toà phúc thẩm, người kháng cáo, Viện kiểm
sát đã kháng nghị có quyền bổ sung, thay đổi nội dung kháng cáo, kháng nghị, nhưng không
được làm xấu hơn tình trạng của bị cáo.
7.2. Về việc rút kháng cáo, kháng nghị
a) Trong trường hợp người kháng cáo và Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng cáo, kháng nghị
trước khi bắt đầu hoặc tại phiên toà (trong vụ án không còn có kháng cáo và kháng nghị),
thì việc xét xử phúc thẩm phải được đình chỉ. Trước khi mở phiên toà việc ra quyết định
đình chỉ xét xử phúc thẩm do Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà thực hiện, còn
tại phiên toà do Hội đồng xét xử thực hiện. Bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày
Toà án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm.
b) Trong trường hợp người kháng cáo rút một phần trong kháng cáo của mình hoặc có nhiều
người kháng cáo, nhưng có người rút kháng cáo, có người không rút kháng cáo, Viện kiểm
sát rút một phần kháng nghị trong kháng nghị của mình, thì cần phân biệt như sau:
b.1) Trường hợp rút trước khi mở phiên toà, thì việc rút kháng cáo, kháng nghị đó phải
được làm thành văn bản. Trường hợp người kháng cáo trực tiếp đến Toà án rút kháng cáo,
thì Toà án cấp phúc thẩm yêu cầu người kháng cáo phải làm thành văn bản hoặc phải lập
biên bản về việc rút kháng cáo theo quy định tại Điều 95 của BLTTHS. Văn bản rút kháng
cáo, kháng nghị và biên bản về việc rút kháng cáo phải được lưu vào hồ sơ vụ án. Phần
21
kháng cáo, kháng nghị đã bị rút được coi như không có kháng cáo, kháng nghị. Toà án cấp
phúc thẩm thông báo bằng văn bản về việc rút kháng cáo, kháng nghị đó theo quy định tại
khoản 1 Điều 236 của BLTTHS và hướng dẫn tại tiểu mục 6.1 mục 6 Phần I của Nghị quyết
này, đồng thời tiến hành các công việc do BLTTHS quy định để mở phiên toà xét xử phúc
thẩm vụ án đối với phần kháng cáo, kháng nghị còn lại theo thủ tục chung.
b.2) Trường hợp rút tại phiên toà, thì việc rút kháng cáo, kháng nghị đó phải được ghi vào
th t ô xột x phỳc thm ằ ca B lut T tng hỡnh s.
3. Trng i hc Lut H Ni, Giỏo trỡnh lut t tng hỡnh s Vit Nam, Nxb. CAND,
H Ni, 2007, 2008.
4. Khoa lut - i hc Quc gia H Ni, Giỏo trỡnh lut t tng hỡnh s Vit Nam, Nxb.
5.
i hc quc gia H Ni, 2001.
Nguyn Th Thanh Tỳ, Khỏng ngh phỳc thm hỡnh s ca Vin kim sỏt nhõn dõn
trong quỏ trỡnh gii quyt v ỏn hỡnh s, Lun vn thc s lut hc, nm 2007.
6. Ngụ Thanh Xuyờn, Khỏng cỏo, khỏng ngh trong phỳc thm hỡnh s, Lun vn
tin s lut hc, nm 2011.
7. Trn Th Hoi Phng, Khỏng cỏo theo th tc phỳc thm trong t tng hỡnh s Vit
Nam, Khúa lun tt nghip, nm 2011.
8. H c Anh, Xỏc nh cỏc quyt nh s thm l i tng ca khỏng ngh phỳc
thm hỡnh s v mt s kin ngh nõng cao cht lng khỏng ngh, Tp chớ Kim sỏt
s 8 (4/2008).
23