Nét bản sắc Việt trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên - Pdf 33

I.

MỞ BÀI:
Nếu coi tín ngưỡng văn hóa dân gian là một nét đẹp truyền đời của dân
tộc Việt Nam, thì tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên có lẽ là nét văn hóa mang
đậm nét nhất về quan niệm sống, cách đối nhân xử thế của con người Việt
Nam. Là người Việt Nam, hẳn ai cũng thờ cúng tổ tiên và ông bà. Tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên rất giản dị: chúng ta tin tưởng rằng tổ tiên mình
là thiêng liêng, dù đã đi vào cõi vĩnh hằng nhưng họ vẫn phù hộ cho con
cháu vượt qua gian khó, vui mừng cho con cháu khi gặp may mắn, nhưng
cũng quở trách con cháu khi làm điều tội lỗi. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
nhắc nhở thế hệ những người đang sống phải nhớ đến nguồn, “ăn quả nhớ
người trồng cây”, biết kính trọng, phụng dưỡng ông bà, cha mẹ lúc sinh
thời và thờ phụng khi mất. Sự thanh cao, tinh khiết của nó đã trở thành
đạo lý, lẽ sống, trở thành một tập tục truyền thống, có vị trí hết sức đặc biệt
trong đời sống tinh thần của dân tộc Việt Nam, là một trong các thành tố
tạo nên bản sắc văn hóa Việt Nam.
Từ những ý nghĩa trên, tôi chọn đề tài: “Tại sao tín ngưỡng thờ cúng tổ
tiên lại trở thành bản sắc của người Việt Nam”, với hy vọng làm nổi bật
hơn những giá trị tiêu biểu của tín ngưỡng này đối với văn hóa xã hội và
con người dân tộc Việt Nam.

II.

NỘI DUNG CHÍNH:
1.

Cơ sở hình thành tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên:
Đầu tiên, để thấy rõ được bản sắc của người Việt Nam tồn tại trong tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên, chúng ta sẽ tìm hiểu về cơ sở hình thành – nguồn
gốc của tín ngưỡng này.

huyết thống lại càng gắn bó hơn. Trong vòng hai, ba đời thì đó còn là
những kỷ niệm rất cụ thể và sâu sắc. Ông bà, cha mẹ dù qua đời nhưng vẫn
luôn hiện diện trong tâm tưởng của con cháu, và con cháu luôn cảm thấy
trách nhiệm cả về vật chất lẫn tinh thần đối với họ. Niềm tin vào cái chết
chẳng qua là một cuộc trở về gặp tổ tiên, ông bà và tổ tiên có thể sẽ dõi
theo, phù hộ độ trì cho con cháu. Đó chính là cơ sở nền tảng cốt lõi để hình
thành tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên.
Ngoài quan niệm dân gian, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ra đời và duy
trì còn phải dựa trên những cơ sở điều kiện nhất định về kinh tế - xã hội.
Trước hết, trong xã hội cổ truyền Việt Nam, nền kinh tế chủ yếu là nền
kinh tế tiểu nông tự cung tự cấp, các gia đình cư trú quần tụ theo họ, và
2


nhiều họ tập hợp thành làng xã - gần như là một đơn vị kinh tế độc lập.
Trước làng, con người không tồn tại với tư cách cá nhân, mà tồn tại dưới
danh nghĩa dòng họ - một đơn vị huyết thống. Có thể nói, nền kinh tế tiểu
nông là môi trường thuận lợi cho việc củng cố và phát triển ý thức dân tộc,
ý thức thờ cúng tổ tiên ở làng xã. Mặc dù vậy, khác với tín ngưỡng thờ
cúng tổ tiên ở Trung Quốc, ở Việt Nam chúng ta hầu như nhà nào cũng có
bàn thờ gia tiên nhưng không phải nhà nào cũng có từ đường của dòng họ:
do đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa nên người Việt Nam sản xuất lúa
nước theo truyền thống tiểu canh kết hợp chăn nuôi gia súc, không đòi hỏi
tập trung nhân công lớn như ở Trung Quốc, do đó người Việt gắn bó với
gia đình hạt nhân hơn gắn bó với dòng họ. Đây là một nét đặc trưng riêng
chỉ có ở người Việt Nam, khác biệt với Trung Quốc, nhưng lại là nét thống
nhất của toàn dân tộc.
Về cơ sở xã hội, ở giai đoạn thị tộc phụ quyền của xã hội phong kiến
Việt Nam, quyền hành trong gia đình hoàn toàn thuộc về người đàn ông là
người có vai trò quan trọng trong hoạt động kinh tế; vợ và con trong gia

nhân sinh của người Việt Nam: "sự tử như sự sinh, sự vong như sự tồn".
Với người Việt Nam, chết chưa phải là hết, tổ tiên lúc nào cũng ở bên cạnh
người sống, "như tại" trên bàn thờ mỗi gia đình, động viên, trợ giúp cho
con cháu trong cuộc sống thường ngày. Nếu như tôn giáo thường tuyệt đối
hóa đời sống tinh thần, hướng con người về thế giới siêu thoát, thì tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tuy có hướng con người về với quá khứ, song lại
rất coi trọng hiện tại và tương lai.
Nét bản sắc Việt Nam lớn nhất mà tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
mang lại chính là đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” - đạo lý biết ơn và
tiếp tục nối dõi truyền thống tổ tiên chỉ trở thành nội dung bên trong của
tín ngưỡng khi đạo lý được bộc lộ thông qua các nghi thức có tính chất
huyền bí, thiêng liêng. Các nghi thức thờ cúng tổ tiên ở nước ta tuy phần
lớn phỏng theo nghi lễ Nho giáo, nhưng lại có những yếu tố rất gần gũi với
Phật giáo hay Đạo giáo. Mặt khác với tính chất một tín ngưỡng dân dã, các
hành vi lễ thức thường được thực hiện theo tâm thức dân gian và cũng
không hoàn toàn thống nhất ở các gia đình, các địa phương.
Trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” là
nội dung nổi trội: Một mặt con cháu bày tỏ lòng biết ơn đối với các bậc sinh
4


thành, lúc họ đã chết cũng như khi còn sống; Mặt khác, nó cũng thể hiện
trách nhiệm liên tục và lâu dài của con cháu đối với nhu cầu của tổ tiên.
Trách nhiệm được biểu hiện không chỉ trong các hành vi sống (giữ gìn
danh dự và tiếp tục truyền thống của gia đình, dòng họ, đất nước) mà còn
ở trong các hành vi cúng tế cụ thể. Từ đạo lý “uống nước nhớ nguồn” mà
dần trở thành “đạo hiếu”: Đạo hiếu là cái gốc của mỗi con người. Công cha,
nghĩa mẹ như núi cao, nước nguồn cho nên phải hiếu thảo với cha, mẹ khi
còn sống, thành kính, biết ơn, tiếc thương khi cha, mẹ khuất núi về với tổ
tiên. Lòng hiếu thảo là giá trị đạo đức quý báu trong tín ngưỡng thờ cúng

họ thường đi thăm mộ, cúng tế sửa sang mồ mả vào dịp Tết Thanh minh
tháng ba. Việc cúng tế tại mộ thường diễn ra đơn giản hơn nhiều so với
cúng tại nhà, nhưng trước khi cúng trước mộ người thân người ta phải
khấn cáo xin phép thổ công. Thăm nom sang sửa mồ mả tổ tiên, một mặt là
hình thức thể hiện lòng hiếu thảo của con cháu, mặt khác bởi quan niệm
mồ mả vô cùng quan trọng đối với cuộc sống của cả gia đình, gia tộc.
Người Việt cho rằng, nếu vị trí đặt mồ mả không tốt, hướng không đúng thì
con cháu làm ăn sẽ lụi bại, không thể nào phát triển được.
Những đặc trưng trên của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là những nét
đặc trưng khác biệt so với tín ngưỡng này ở các nước khác cũng có chung
tín ngưỡng như Trung Quốc và các nước Đông Nam Á, nhưng đối với dân
tộc Việt Nam, đó là những đặc trưng thống nhất trên toàn dân tộc, được
mọi người hết lòng tôn trọng. Qua những đặc trưng trên, chúng ta có thể
thấy được nét bản sắc đặc trưng của dân tộc Việt Nam tồn tại trong tín
3.

ngưỡng thờ cúng tổ tiên đã có từ lâu đời này.
Vai trò của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong đời sống văn hóa xã
hội Việt Nam:
Thờ cúng tổ tiên là một hình thái tín ngưỡng có ý nghĩa lớn về mặt tổ
chức cộng đồng trong xã hội truyền thống. Sống trong xã hội, xét theo cả
trục dọc và trục ngang, con người không thể sống biệt lập, đơn độc. Theo
trục dọc phụ hệ, thờ cúng tổ tiên là sự nối tiếp liên tục các thế hệ: ông bà cha mẹ - bản thân. Mỗi con người phải có trách nhiệm thờ phụng bốn đời
trước: cao, tằng, tổ, khảo (kỵ, cụ, ông, bố) và họ cũng tin rằng sẽ được con
6


cháu bốn đời kế tiếp cúng giỗ. Theo trục ngang, thờ cúng tổ tiên đã gắn bó
con người trong mối liên kết dòng họ: họ cha, họ mẹ, họ vợ (hoặc chồng).
Với tư cách một tập thể - gồm cả người đang sống và người đã chết gắn bó

Vương.

III.

LỜI KẾT:
Trải qua hàng nghìn năm biến động của lịch sử dân tộc Việt Nam, tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên – một nét bản sắc đặc trưng của dân tộc vẫn luôn
tồn tại và ngày càng phát triển, nắm giữ một vị trí quan trọng trong đời
sống tinh thần, văn hóa, xã hội của người dân Việt Nam. Hy vọng rằng
trong tương lai, những thế hệ sau của vua Hùng, của “con Rồng cháu Tiên”
sẽ tiếp nối truyền thống, tiếp nối và gìn giữ những tín ngưỡng tiêu biểu này
để văn hóa nước nhà luôn được bảo tồn bền vững.

8




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status