Các nhân tố ảnh hưởng đến chi đầu tư và tình hình kích cầu đầu tư ở việt nam - Pdf 33

Các nhân tố ảnh hưởng đến chi đầu tư và tình hình kích cầu đầu tư ở Việt Nam
Các nhân tố ảnh hưởng đến chi tiêu đầu tư
1. Lợi nhuận kì vọng
1.1 Lí thuyết của Keynes
- Lợi nhuận kỳ vọng là khoản lợi nhuận mà chủ đầu tư mong muốn, hi vọng sẽ
thu được trong tương lai khi đưa ra quyết định đầu tư. Theo lí thuyết của Keynes, lợi
nhuận kì vọng là 1 trong 2 nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến quyết đầu tư của doanh nghiệp.
Nếu lợi nhuận kì vọng lớn, nhà đầu tư sẵn sàng bỏ vốn để kinh doanh. Lợi nhuận cao sẽ
kích thích nhu cầu đầu tư, ngược lại nếu lợi nhuận kì vọng thấp và nhỏ hơn tiền lãi thu
được khi gửi tiền vào các ngân hàng thì các nhà đầu tư sẽ không bỏ tiền vào sản xuất kinh
doanh mà thay vào đó, họ gửi tiền vào ngân hàng.
- Mặt khác, theo ông thì hiệu quả biên của vốn đầu tư phụ thuộc vào tỷ suất đầu tư
của số tiền đầu tư mới. Do đó vốn đầu tư càng tăng thì hiệu quả biên của vốn giảm dần.
Điều này có thể giải thích do các nguyên nhân sau:
Trước hết, khi tăng chi tiêu đầu tư, nhu cầu vốn đầu tư sẽ tăng. Cầu về vốn tăng
dẫn đến sự gia tăng của lãi suất cho vay (giá của đồng vốn). Nếu các yếu tố khác không
đổi thì khi đó, lợi nhuận giảm nên tỷ suất lợi nhuận biên giảm.
Thứ hai, xuất phát từ phương diện cung sản phẩm cho thị trường. Khi gia tăng đầu
tư và kết quả đầu tư đã đi vào hoạt động, phát huy kết quả trong thực tiễn thì cung sản
phẩm sẽ tăng, nghĩa là có nhiều sản phẩm được cung ứng vào nền kinh tế. Cung tăng, giá
sản phẩm sẽ giảm, chi phí sản xuất xem như ổn định, lúc đó tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư
giảm.
Thứ ba, xuất phát từ năng suất lao động. Khi gia tăng vốn đầu tư vào sản xuất thì
sự gia tăng về kĩ thuật, công nghệ, trang thiết bị, cơ sở vật chất cho mỗi lao động cũng
giảm dần, nghĩa là khi lượng vốn còn ít thì mỗi sự gia tăng của 1 đơn vị vốn sẽ làm cho
năng suất lao động gia tăng nhiều hơn
so với khi lượng vốn nhiều. Năng suất lao động biên giảm dần dẫn đến lợi nhuận biên của
vốn cũng giảm dần.
Thứ 4, khi quy mô vốn đầu tư tăng, hiệu quả biên của vốn giảm dần nên các nhà
đầu tư chỉ tiếp tục đầu tư cho tới khi hiệu quả biên của vốn còn lớn hơn mữ lãi suất vốn


vọng. Phạm vi ảnh hưởng của rủi ro là rất rộng, ví dụ như những thay đổi không lường
trước được của giá cả, công nghệ,… Vấn đề là khả năng quản trị rủi ro của doanh nghiệp
như thế nào, mức độ phát triển của các dịch vụ hạn chế rủi ro (bảo hiểm, tín dung,..) và
quan trọng nhất là sự ổn định của môi trường đầu tư cả về kinh tế, xã hội và chính trị.

2


1.2.3 Các nguồn lực đầu vào của quá trình sản xuất
Với mỗi dự án, khi nhà đầu tư quyết định bỏ vốn đầu tư thì họ phải xác định được
các yêu tố đảm bảo cho quá trình thực hiện đầu tư cũng như vận hành khai thác kết quả
của dự án sau này, đó bao gồm các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất. Cụ thể là:
- Các điều kiện về nguồn nhân lực: bao gồm cả về chất lượng và số lượng. Khi
xem xét nguồn nhân lực ta cần chú ý về khả năng dự báo tốc độ tăng dân số, về tiền
lương, về trình độ học vấn và văn hóa của họ…
- Nguồn vốn cho hoạt động đtpt: đó chính là khả năng huy động vốn trên thị
trường tài chính và tỷ lệ phân bổ vốn cho hoạt động đầu tư.
- Về nguồn nguyên nhiên liệu đầu vào: phụ thuộc vào các chính sách bảo vệ tài
nguyên thiên nhiên, tốc độ đền bù giải phóng mặt bằng, các mối liên hệ giữa các ngành
kinh tế….
- Về trình độ công nghệ: phụ thuộc vào các quy định về chuyển giao công nghệ,
khả năng nghiên cứu ứng dụng của đội ngũ khoa học trong nước. Nếu là nhập công nghệ
từ nước ngoài thì còn phụ thuộc vào trình độ của đội ngũ cán bộ khoa học trong nước: họ
tiếp thu, triển khai công nghệ đó như thế nào?
- Về cơ sở hạ tầng: phần lớn được đầu tư từ ngân sách nhà nước, do đó phụ thuộc
vào quy hoạch vùng và khả năng ngân sách.
1.2.4 Thuế
Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, vừa là công cụ tái phân phối
của cải xã hội vừa là công cụ điều tiết phân bổ vốn giữa các ngành, vùng miền. Thuế ảnh
hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của doanh nghiệp nên các ưu đãi về thuế thường được sử

mượn đó. Nếu giá vay tiền (giá của vốn) cao hơn tỉ suất lợi nhuận bình quân thì nhà đầu
tư sẽ cắt giảm quy mô đầu tư và ngược lại.
Cần phân biệt các loại lãi suất: lãi suất cơ bản (do ngân hàng nhà nước quy
định,các tổ chức tài chính không được cho vay với lãi suất lớn hơn 150% so với lãi suất
cơ bản); lãi suất cho vay sản xuất, cho vay tiêu dùng, cho vay đầu tư tài chính, lãi suất tái
cấp vốn. Sự chênh lệch giữa các loại lãi suất góp phần điều tiết sự phân bổ vốn trong nền
kinh tế.
Lãi suất danh nghĩa phụ thuộc trước hết vào cung – cầu vốn vay trên thị trường.
Cung vốn chính là tổng tiết kiệm quốc dân, được xác định bằng tổng thu nhập quốc dân
trừ đi tiêu dùng. Lãi suất được điều chỉnh để tạo ra sự cân bằng trên thị trường vốn.
Ngoài ra lãi suất cũng chịu ảnh hưởng của sự điều tiết của ngân hàng nhà nước thông qua
chính sách tiền tệ như lãi suất cơ bản, nghiệp vụ thị trường mở, lãi suất chiết khấu, tỉ lệ
dự trữ bắt buộc.

4


Lãi suất thực tế không chỉ phụ thuộc vào lãi suất danh nghĩa mà còn phụ thuộc
vào tỉ lệ lạm phát.

Trong đó r là lãi suất thực tế; i là lãi suất danh nghĩa; π là tỷ lệ lạm phát
Chủ đầu tư sẽ chỉ quyết định đầu tư khi IRR của dự án lớn hơn lãi suất thực tế. Do đó khi
lãi suất tăng sẽ có ít dự án đầu tư hơn, nhu cầu đầu tư sẽ giảm.
Đồ thị:

i

i1

i0

Khi tiêu dùng tăng thì tổng cầu cũng tăng; tiết kiệm tăng thì cung vốn tăng làm giảm lãi
suất, kích thích đầu tư.
Hơn nữa, khi toàn bộ nền kinh tế tăng trưởng sẽ tạo ra tâm lí hướng về đầu tư.
Quá trình này sẽ tạo ra hiệu ứng “số nhân”, tức là: một sự tăng thêm ban đầu trong sản
lượng sẽ làm đầu tư và sản lượng tiếp tục tăng thêm nhiều lần.
- Tốc độ tăng sản lượng và tốc độ tăng vốn đầu tư không giống nhau, vấn đề này
được đề cập trong lý thuyết gia tốc vốn đầu tư .Theo lý thuyết này, để sản xuất ra một
đơn vị đầu ra cho trước cần phải có một lượng vốn đầu tư nhất định. Tương quan giữa
sản lượng và vốn đầu tư có thể được biểu diễn theo công thức: x = K/Y

(*)

Trong đó
K: vốn đầu tư tại thời kỳ nghiên cứu
Y: sản lượng tại thời kì nghiên cứu
x: hệ số gia tốc đầu tư
Từ công thức thức trên ta suy ra: K = x * Y
Như vậy nếu x không đổi thì khi qui mô sản lượng sản xuất tăng dẫn đến nhu cầu
vốn đầu tư tăng theo và ngược lại. Theo công thức trên thì sản lượng phải tăng liên tục
mới làm cho đầu tư tăng cùng tốc độ hoặc không đổi so với thời kì trước.
Đặc điểm của lí thuyết gia tốc đầu tư:
- Phản ánh quan hệ giữa sản lượng với đầu tư. Nếu x không đổi trong kì kế hoạch thì có
thể sử dụng công thức để lập kế hoạch khá chính xác.
- Phản ánh sự tác động của tăng trưởng kinh tế đến đầu tứ. Khi kinh tế tăng trưởng cao,
sản lượng nền kinh tế tăng , cơ hội kinh doanh lớn, dẫn đến tiết kiệm tăng cao và đầu tư
tăng nhiều.
Tuy nhiên, nó còn có 1 số hạn chế :
Thứ nhất, ở đây giả định quan hệ giữa sản lượng và đầu tư là cố định. Thực tế đại
lượng này (x) luôn biến động do sự tác động của nhiều nhân tố khác.


Do đó, lí thuyết gia tốc đầu tư tiếp tục được hoàn thiện qua thời gian. Theo lí thuyết đầu
tư sau này thì vốn đầu tư mong muốn được xác định như là một hàm của mức sản lượng
hiện tại và quá khứ, nghĩa là quy mô đầu tư mong muốn được xác định trong thời gian
dài hạn.
4. Chu kì kinh doanh
- Thế nào là chu kì kinh doanh? Đó là những dao động của nền kinh tế xung quanh
xu thế tăng trưởng dài hạn, bao gồm cả những thời kì tăng trưởng nhanh xen kẽ với
những thời kì suy thoái của nền kinh tế.
- Ở mỗi thời kỳ khác nhau của chu kỳ kinh doanh sẽ phản ánh các mức chi tiêu
đầu tư khác nhau.

7


0

Hình I.5. Chu kỳ kinh
doanh

t

Khi nền kinh tế đang đi lên thì đầu tư tăng, vì sao?

Theo lý thuyết tính kinh tế của quy mô, trong những điều kiện nhất định thì việc gia
tăng quy mô sản lượng sản xuất ra có thể giúp cho chủ đầu tư tiết kiệm chi phí sản xuất,
gia tăng đầu tư.
Mặt khác, khi chu kỳ kinh doanh ở vào thời kỳ đi lên, quy mô của nền kinh tế mở
rộng, nhu cầu đầu tư của toàn bộ nền kinh tế cũng như của các doanh nghiệp tư nhân gia
tăng. Ngược lại, khi chu kì kinh doanh ở vào thời kì đi xuống, qui mô nền kinh tế thu
hẹp, nhu cầu đầu tư của nền kinh tế và các doanh nghiệp tư nhân thu hẹp lại.

các thủ tục khi sử dụng vốn nhà nước.
6. Môi trường đầu tư
Có thể nói môi trường đầu tư như một chất xúc tác ban đầu cho quyết định bỏ vốn
của nhà đầu tư, sự cải thiện môi trường đầu tư có ảnh hưởng vô cùng quan trọng và tác
động tích cực đến nền kinh tế, làm tăng nguồn vốn đầu tư và tăng chi tiêu đầu tư toàn xã
hội.
Môi trường đầu tư bao gồm nhiều yếu tố, tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến hiệu
quả đầu tư. Có thể nói đến hai khái niệm:
- Môi trường cứng: bao gồm các yếu tố liên quan đến cơ sở hạ tầng kĩ thuật phục
vụ cho sự phát triển kinh tế, ví dụ như hệ thống thông tin liên lạc, cơ sở hạ tầng giao
thông,…
- Môi trường mềm: bao gồm hệ thống thủ tục hành chính, dịch vụ pháp lý liên
quan đến hoạt động đầu tư, hệ thống tài chính – ngân hàng…
Cơ sở hạ tầng ở đây mang tính tiên phong, định hướng, xúc tác cho các hoạt động
đầu tư, nó mở đường cho các hoạt động kinh tế xã hội phát triển. Vì vậy cần chú ý đến
công tác đầu tư chuẩn bị hệ thống cơ sở hạ tầng để thu hút các nhà đầu tư, tạo cho họ sự
tin cậy để bỏ vốn đầu tư.

9


Một môi trường đầu tư ổn định cả về kinh tế, xã hội và chính trị sẽ thúc đẩy các
nhà đầu tư bỏ vốn để đầu tư phát triển. Trong đó, việc đưa ra các chính sách nhằm tăng
lòng tin cho các nhà đầu tư cần được chính phủ quan tâm. Chính sách và hành vi của
chính phủ có ảnh hưởng mạnh thông qua tác động của nó đến chi phí, rủi ro và các rào
cản cạnh tranh.
7. Thuế thu nhập doanh nghiệp(bỏ)
Đây là loại thuế đánh vào lợi nhuận của doanh nghiệp, doanh nghiệp sẽ phải chia
sẻ với chính phủ một phần lợi nhuận của mình, nhưng với họ đầu tư vẫn hợp lí, vẫn tiếp
tục tăng đầu tư khi giá thuê tư bản ( lãi suất thực tế của vay vốn tư bản đầu tư) cao hơn

hậu – năng suất thấp, và cần các biện pháp kích cầu đầu tư để phá vỡ nó, tạo điều kiện
thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội.
Có những biện pháp kích cầu đầu tư cụ thể và thích hợp sẽ làm tăng lượng vốn đầu
tư toàn xã hội, tăng nhu cầu đầu tư xây dựng và cải thiện mức sống của người dân. Đầu
tư tăng sẽ làm tăng tổng cung, kích cầu tiêu dùng. Đầu tư vừa là yếu tố duy trì sự ổn định,
vừa là yếu tố phá vỡ sự ổn định của nền kinh tế. Vốn đầu tư được sử dụng hiệu quả sẽ có
tác động đến tăng trưởng kinh tế, góp phần chuyển dịch cơ cấu theo ngành, vùng lãnh thổ
và theo thành phần kinh tế. Đầu tư nước ngoài còn thu hút khoa học công nghệ hiện đại,
làm thay đổi bộ mặt của toàn bộ nền kinh tế, cải thiện các vấn đề xã hội. Như vậy kích
cầu đầu tư có tác dụng rất quan trọng ở mỗi quốc gia, và mang tính tất yếu trong chiến
lươc phát triển kinh tế xã hội dài hạn.
3. Các biện pháp kích cầu đầu tư
Để có các biện pháp thu hút vốn đầu tư hiệu quả cần nhận thức sâu sắc và đầy đủ
các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu đầu tư đã trình bày ở phần trên, từ đó đề ra các mục
tiêu, quy hoạch phát triển kinh té xã hội và các biện pháp cụ thể.
Theo quan điểm của Keynes, để kích cầu đầu tư chính phủ có thể tác động vào nhân
tố ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu đầu tư là lãi suất và các nhân tố ảnh hưởng gián tiếp
song không kém phần quan trọng là thuế, chi phí sản xuất, môi trường đầu tư...
- Đối với yếu tố lãi suất, ngân hàng trung ương có thể thông qua các chính sách giảm tỷ
lệ dự trữ bắt buộc, giảm lãi suất cơ bản, lãi suất chiết khấu... nhằm giảm lãi suất tiết kiệm
và lãi suất tiền vay.
- Các biện pháp thu hút đầu tư dân doanh trong nước
- Các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ngân sách nhà nước
- Các biện pháp phát triển thị trường tài chính tạo ra nhiều kênh huy động vốn, chú trọng
công tác thẩm định và quản lí, sử dụng vốn nhằm đảm bảo hiệu quả của các dự án đầu tư.
- Kích thích tiêu dùng, khuyến khích các hoạt động xuất khẩu

11




12


điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; dự án tại các xã thuộc Chương trình 135,
mức lãi suất cho vay tín dụng đầu tư của Nhà nước sẽ thấp hơn 0,6%/năm cho cả đồng
Việt Nam và ngoại tệ. Riêng lãi suất cho vay kiên cố hóa kênh mương, hạ tầng nông
thôn, hạ tầng vượt lũ đồng bằng sông Cửu Long là 0%/năm.Từ đầu năm 2008 đến nay, lãi
suất thị trường liên tục tăng cao;có thời điểm lãi suất huy động trên thị trường trong
khoảng từ 17,5%/năm – 19%/năm. Như vậy, với các mức lãi suất cho vay nêu trên thì
ngay cả khi áp dụng lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn thì vẫn thấp hơn lãi
suất huy động trên thị trường rất nhiều.
Bộ Tài chính ban hành Quyết định số 22/2003/QĐ-BTC về cơ chế tài chính trong
việc sử dụng quỹ đất tạo vốn cho xây dựng kết cấu hạ tầng. Hiện nay, Bộ Tài chính đang
được giao giúp Chính phủ hoàn tất các công việc sửa đổi, bổ sung Nghị định 43/NĐ-CP
về tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước theo hướng xóa bỏ phân biệt đối xử trong việc
tiếp cận vốn vay ưu đãi, điều chỉnh mức lãi suất, đơn giản hóa các quy trình thủ tục, điều
chỉnh lại đối tượng được vay ưu đãi cho phù hợp với những quy định mới nhất của Nghị
định 35/2002/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung Nghị định 51/1999/NĐ-CP). Việc thành lập Quỹ
hỗ trợ phát triển như một tổ chức tài chính nhà nước phi lợi nhuận, thực hiện chính sách
hỗ trợ đầu tư phát triển của Nhà nước sẽ tăng cường mạnh mẽ các hình thức hỗ trợ lãi
suất sau đầu tư, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế tiếp cận tín dụng nhà nước trong
các lĩnh vực Nhà nước khuyến khích đầu tư. Ngoài ra, Bộ Tài chính cũng đã hoàn tất dự
thảo đề án thành lập Ngân hàng Hỗ trợ xuất khẩu và đã triển khai lấy ý kiến đóng góp của
các bộ, ngành trong cả nước
Hàng loạt các văn bản pháp quy, thông tư, hướng dẫn của các bộ, ngành liên
quan đến các vấn đề về đất đai, lao động, tiền lương, xúc tiến thương mại và đầu tư... đã
lần lượt được ban hành. Có thể nói, chưa bao giờ như trong một khoảng thời gian ngắn
vừa qua, nhiều văn bản pháp quy đã ra đời nhưng đều nhằm một mục đích thống nhất là
tháo gỡ những vướng mắc, cản trở để đẩy mạnh hơn nữa nhịp độ phát triển của khu vực

cho các làng nghề, các nhà đầu tư trong và ngoài tỉnh. Một số tỉnh như Long An, Quảng
Ngãi cũng có những giải pháp thích hợp đối với đất của tư nhân đã được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất đang được dùng làm mặt bằng sản xuất, kinh doanh.
Ngoài các biện pháp hỗ trợ xây dựng kết cấu hạ tầng, nhiều tỉnh, thành phố còn
thiết lập trang web site để giới thiệu, cung cấp thông tin thị trường trong nước và thế
giới cho doanh nghiệp. Thành phố Hồ Chí Minh đầu tư mới trên 310 tỉ đồng để xây
dựng mạng liên kết giữa các cơ quan, ban, ngành, doanh nghiệp và công dân phỏng theo
mô hình chính phủ điện tử, thực hiện đăng ký kinh doanh qua mạng, vừa rút ngắn được
thời gian, tiết kiệm chi phí, vừa hạn chế tối đa những hành vi sách nhiễu, gây phiền hà
của các quan chức chính quyền.

14


Nhiều tỉnh, thành phố tìm tòi những hình thức đa dạng, hiệu quả nhằm hỗ trợ
doanh nghiệp tổ chức đào tạo nghề, chuyển giao và áp dụng công nghệ, xúc tiến thương
mại, hỗ trợ xuất khẩu. Tỉnh Hòa Bình có nhiều sáng kiến trong việc khôi phục và phát
triển các làng nghề truyền thống, phát triển mạng lưới dạy nghề và giới thiệu việc làm,
hỗ trợ các tổ chức và cá nhân hình thành các trung tâm dạy nghề, tập huấn nghiệp vụ
triển khai thực hiện Luật Doanh nghiệp. Đến nay, có trên 500 lượt người là các nhà
doanh nghiệp và các cán bộ quản lý cấp cơ sở tham gia các khóa học như vậy. Ví dụ tỉnh
Hà Tây đã tổ chức đào tạo nghề cho hơn 35 ngàn lượt người trong một thời gian tương
đối ngắn.
Tuy vậy, bên cạnh nhiều tỉnh, thành phố rất năng động trong việc thực hiện
Chương trình hành động của Chính phủ, thậm chí còn cung cấp thêm nhiều ưu đãi khác
căn cứ vào điều kiện cụ thể của địa phương mình, thì vẫn còn không ít địa phương chưa
thực sự "bắt tay vào cuộc". Trong số đó, đáng chú ý nhất là nhận thức chưa đầy đủ, chưa
thấu đáo của một bộ phận cán bộ và nhà doanh nghiệp về đường lối, chủ trương, chính
sách của Đảng và Nhà nước trong việc khuyến khích đầu tư. Do đó, hành động còn cầm
chừng hoặc không đầy đủ, kém hiệu quả... Tất cả đã làm hạn chế kết quả việc thực hiện

kinh doanh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Điều này thể hiện từ nhận thức của
các công chức và có cả trong một bộ phận dân cư đến hành vi đối xử trong từng vụ việc,
từng hoạt động cụ thể và trong một số văn bản pháp quy điều chỉnh các quan hệ kinh tế tài chính, nhất là trong chính sách về đất đai và tín dụng, trong thực tế thi hành các chính
sách và pháp luật.
Bên cạnh đó,liên quan đến kích cầu đầu tư, Thủ tướng nêu lên sự cần thiết của các
hình thức phát hành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công trình, huy động tối đa các
nguồn vốn, bảo đảm vốn đối ứng cho ODA, vốn cho công trình giao thông và thủy lợi
miền núi, vốn cho các doanh nghiệp đổi mới thiết bị, xây dựng các cơ sở sản xuất các mặt
hàng công nghiệp thiết yếu….
2.Kích cầu đầu tư nước ngoài:
Sự ra đời của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 đã tạo môi trường
pháp lý cao hơn để thu hút vốn ĐTNN vào Việt Nam Nhằm cải thiện môi trường đầu tư
kinh doanh, môi trường pháp lý, tạo sự thống nhất trong hệ thống pháp luật về đầu tư và
tạo "một sân chơi" bình đẳng, không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư; đơn giản hoá
thủ tục đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn đầu
tư; đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế; tăng cường sự quản lý của nhà nước đối với
hoạt động đầu tư, năm 2005 Quốc hội đã ban hành Luật Đầu tư có hiệu lực từ ngày
01/7/2006 và thay thế Luật Đầu tư nước ngoài và Luật Khuyến khích đầu tư trong
nước.Luật Đầu tư nước ngoài đã thực sự trở thành “đòn bẩy” quan trọng trong việc thu

16


hút ĐTNN vào Việt Nam trong 20 năm qua, đảm bảo cho việc thực hiện chủ trương thu
hút ĐTNN của Đảng và Nhà nước để phát triển kinh tế-xã hội đất nước ta vừa qua.
Cho tới nay, công tác quản lý hoạt động ĐTNN ở địa phương, nhất là các địa
phương có nhiều doanh nghiệp ĐTNN đã đi vào nề nếp, theo trình tự hợp lý, đã được đơn
giản hóa,…được cộng đồng doanh nghiệp đánh giá có nhiều đổi mới, góp phần cải thiện
môi trường đầu tư-kinh doanh của địa phương.
Bên cạnh đó, các Bộ, ngành và UBND cấp tỉnh đã phối hợp chặt chẽ trong quá

với năm 2001, năm 2003 (đạt 3,1 tỷ USD), tăng 6% so với năm 2002. Và có xu hướng
tăng nhanh từ năm 2004 (đạt 4,5 tỷ USD) tăng 45,1% so với năm trước; năm 2005 tăng
50,8%; năm 2006 tăng 75,4% và năm 2007 đạt mức kỷ lục trong 20 năm qua 20,3 tỷ
USD, tăng 69% so với năm 2006, và tăng hơn gấp đôi so với năm 1996, năm cao nhất
của thời kỳ trước khủng hoảng.
Vốn tăng thêm chủ yếu tập trung vào các dự án thuộc lĩnh vực sản xuất công
nghiệp và xây dựng, đạt khoảng 40,6% trong giai đoạn 1991-1995 ; 65,7% trong giai
đoạn 1996-2000, khoảng 77,3% trong thời kỳ 2001-2005. Trong 2 năm 2006 và 2007 tỷ
lệ tương ứng là 80,17% và 79,1% tổng vốn tăng
Việc tăng vốn đầu tư mở rộng sản xuất thực hiện chủ yếu tại các vùng kinh tế
trọng điểm nơi tập trung nhiều dự án có vốn ĐTNN: Vùng trọng điểm phía Nam chiếm
55,5% trong giai đoạn 1991-1995 ; đạt 68,1% trong thời kỳ 1996-2000 và 71,5% trong
giai đoạn 2001-2005. Trong 2 năm 2006 và 2007 tỷ lệ tương ứng là 71% và 65%. Vùng
trọng điểm phía Bắc có tỷ lệ tương ứng là 36,7%; 20,4% ; 21,1% ; 24% và 20%.
Qua khảo sát của Tổ chức Xúc tiến thương mại Nhật Bản -JETRO tại Việt Nam
có trên 70% doanh nghiệp ĐTNN được điều tra có kế hoạch tăng vốn, mở rộng sản xuất
tại Việt Nam. Điều này chứng tỏ sự tin tưởng và an tâm của nhà ĐTNN vào môi trường
đầu tư-kinh doanh tại Việt Nam.
Từ mức quy mô vốn đăng ký bình quân của một dự án cũng tăng lên.Quy mô vốn
đăng ký trên 3,4 triệu USD/dự án trong thời kỳ 2001-2005. Điều này cho thấy đa phần
các dự án cấp mới trong giai đoạn 2001-2005 thuộc dự án có quy mô vừa và nhỏ. Trong 2
năm 2006 và 2007, quy mô vốn đầu tư trung bình của một dự án đều ở mức 14,4 triệu
USD, cho thấy số dự án có quy mô lớn đã tăng lên so với thời kỳ trước, thể hiện qua sự
quan tâm của một số tập đoàn đa quốc gia đầu tư vào một số dự án lớn (Intel, Panasonic,
Honhai, Compal, Piaggio....).
Cả nước hiện có 154 KCN được thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên gần
33.000 ha, phân bổ trên 55 địa phương.Các dự án đầu tư công nghiệp đang có xu hướng

18


tiếp tục diễn ra ngày càng gay gắt.

19


- Định hướng chiến lược thu hút vốn ĐTNN hướng chủ yếu vào lĩnh vực công
nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu nhưng sự liên kết, phối hợp giữa các doanh nghiệp
ĐTNN với doanh nghiệp trong nước còn yếu nên giá trị gia tăng trong một số sản phẩm
xuất khẩu (hàng điện tử dân dụng, dệt may) còn thấp. Nhiều tập đoàn công nghiệp định
hướng xuất khẩu đầu tư tại Việt Nam buộc phải nhập khẩu phần lớn nguyên liệu đầu vào
vì thiếu nguồn cung cấp ngay tại Việt Nam.
- Công tác quy hoạch còn có những bất hợp lý, nhất là quy hoạch ngành còn nặng
về xu hướng bảo hộ sả n xuất trong nước, chưa kịp thời điều chỉnh để phù hợp với các
cam kết quốc tế.
-Nước ta có xuất phát điểm của nền kinh tế thấp, quy mô nền kinh tế nhỏ bé; kết
cấu hạ tầng kinh tế, xã hội yếu kém; các ngành công nghiệp bổ trợ chưa phát triển; trình
độ công nghệ và năng suất lao động thấp, chi phí sản xuất cao. Chính sách, biện pháp để
khuyến khích huy động tốt nguồn lực trong nước và ngoài nước vào phát triển kinh tế, xã
hội còn nhiều hạn chế.
- Sự phối hợp trong quản lý hoạt động ĐTNN giữa các Bộ, ngành, địa phương chưa
chặt chẽ. Đánh giá tình hình ĐTNN vẫn nặng về số lượng, chưa coi trọng về chất lượng,
còn bệnh thành tích trong cơ quan quản lý các cấp.
- Tổ chức bộ máy, công tác cán bộ và cải cách hành chính chưa đáp ứng yêu cầu
phát triển trong tình hình mới. Năng lực của một bộ phận cán bộ, công chức làm công tác
kinh tế đối ngoại còn hạn chế về chuyên môn, ngoại ngữ, không loại trừ một số yếu kém
về phẩm chất, đạo đức, gây phiền hà cho doanh nghiệp, làm ảnh hưởng xấu đến môI
trường đầu tư-kinh doanh

20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status