TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN
BÁO CÁO
THỰC TẬP NGHỀ
Đề tài:
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ SẢN XUẤT KEO
Ở XÃ THANH THỦY, HUYỆN THANH CHƯƠNG,
TỈNH NGHỆ AN
NHÓM 8: K43A KẾ HOẠCH ĐẦU TƯ
Huế, 09/2012
3
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN
BÁO CÁO
THỰC TẬP NGHỀ
Đề tài:
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ SẢN XUẤT KEO
Ở XÃ THANH THỦY, HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
GVHD:
Nhóm SV:
nông sản xuất khẩu của Việt Nam năm 2009 thì gỗ và sản phẩm gỗ đứng vị trí thứ 3. Kết
quả này cho thấy lâm sản là mặt hàng xuất khẩu quan trọng của Việt Nam. Tuy nhiên
bên cạnh việc tăng trưởng xuất khẩu mặt hàng gỗ và sản phẩm gỗ thì Việt Nam cũng
đang đứng trước tình trạng nhập gỗ nguyên liệu từ các nước khác tăng nhanh. Nguyên
nhân chủ yếu là do chất lượng và sản lượng gỗ rừng tự nhiên giảm, rừng trồng năng suất
thấp.
Theo thống kê của Tổng cục thống kê Việt Nam năm 2010 cả nước có 13.388,1
nghìn ha rừng, trong đó rừng tự nhiên 10.304,8 nghìn ha và rừng trồng là 3.083,3 nghìn
ha tỷ lệ che phủ rừng cả nước đạt 39,5% . Tại Nghệ An, tổng diện tích rừng là 874,5
nghìn ha chiếm 6,5% so với diện tích rừng cả nước, trong đó rừng sản xuất là 141,2
nghìn ha chiếm 16,2% , diện tích rừng trồng mới là 11,3 nghìn ha chiếm 8% diện tích.
Cũng như nhiều tỉnh khác, diện tích rừng trồng tại Nghệ An tăng nhanh trong những
năm qua 118,3 nghìn ha (2008), 136,3 nghìn ha (2009), 141,2 nghìn ha (2010). Trong đó
huyện Thanh Chương là một trong những huyện có diện tích rừng khá lớn và vốn là
huyện nổi tiếng về trồng cây chè công nghiệp, sắn nguyên liệu và keo... điển hình là xã
Thanh Thủy.
Thanh Thủy là một xã miền núi thuộc huyện Thanh Chương tỉnh Nghệ An có
tiềm năng lớn về đất lâm nghiệp để phát triển rừng trồng nói riêng và sản xuất lâm
nghiệp nói chung (chiếm 43,49% diện tích đất tự nhiên của toàn huyện - Nguồn niên
giám thống kê huyện Thanh Chương năm 2010). Vì vậy, các xã nói chung trên địa bàn
huyện cũng có tiềm năng để phát triển rừng trồng trong đó có xã Thanh Thủy - là một xã
trồng các loại cây để phát triển rừng sản xuất trên. Cây cho hiệu quả kinh tế khá cao đó
là cây keo nó đã góp phần tạo công ăn việc làm cho người dân trong xã và góp phần xoá
đói giảm nghèo. Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi chọn đề tài: “Đánh giá hiệu quả
6
đầu tư cây keo trên địa bàn xã Thanh Thủy - Huyện Thanh Chương - Tỉnh Nghệ
An” làm đề tài nghiên cứu.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
5. Hạn chế của đề tài.
Do thời gian ngiên cứu và trình độ hiểu biết còn hạn chế nên nội dung nghiên
cứu chắc chắn sẽ còn gặp nhiều thiếu sót, kính mong quý thầy cô và bạn đọc đóng góp ý
kiến tham khảo để nội dung nghiên cứu của chúng tôi được hoàn chỉnh hơn.
8
PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Lý luận chung về hiệu quả kinh tế
1.1.1. Khái niệm và bản chất của hiệu quả kinh tế
Trong bối cảnh mọi nguồn lực của thế giới bị hạn chế đòi hỏi người sản xuất
phải khai thác có hiệu quả các nguồn lực để tạo ra một lượng hàng hóa có giá trị sử dụng
cao, với hao phí lao động xã hội thấp nhất. Bàn về khái niệm hiệu quả kinh tế các nhà
kinh tế ở nhiều nước, nhiều lĩnh vực có các quan điểm khác nhau, có thể tóm tắt thành
ba quan điểm sau:
-
Quan điểm thứ nhất cho rằng hiệu quả kinh tế được xác định bởi tỷ số giữa kết
quả đạt được và các chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó:
H= K/C
Trong đó:
H: hiệu quả kinh doanh
K: kết quả kinh doanh
C: hao phí nguồn lực cần thiết gắn với kết quả đó
Hiệu quả kinh tế là vấn đề trung tâm nhất của mọi quá trình kinh tế, có liên
quan tới tất cả các phạm trù và các quy luật kinh tế khác.
+
Hiệu quả kinh tế đi liền với nội dung tiết kiệm chi phí tài nguyên cho sản xuất,
tức làm giảm đến mức tối đa chi phí sản xuất trên một đơn vị sản phẩm tạo ra.
+
Bản chất của hiệu quả kinh tế xuất phát từ mục đích của sản phẩm và phát triển
kinh tế xã hội nhằm đáp ứng ngày càng cao nhu cầu về vật chất và tinh thần của mọi
thành viên trong xã hội…
1.1.2. Ý nghĩa của việc xác định hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp
- Biết được mức hiệu quả sử dụng nguồn lực trong sản xuất nông nghiệp, các nguyên
nhân ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế để có biện pháp thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả
kinh tế trong sản xuất nông nghiệp.
- Làm căn cứ để xác định phương hướng đạt tăng trưởng cao trong sản xuất nông
nghiệp. nếu hiệu quả kinh tế còn thấp thì có thể tăng sản lượng nông nghiệp bằng các
biện pháp nâng cao hiệu quả kinh tế, ngược lại nếu đạt được hiệu quả kinh tế cao thì
tăng sản lượng cần đổi mới công nghệ.
1.2. Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá kết quả, hiệu quả sản xuất keo
1.2.1. Các chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất
+ Giá trị sản xuất (GO): cho biết trong một năm hoặc một chu kỳ sản xuất đơn vị sản
xuất tạo ra một khối lượng sản phẩm có giá trị là bao nhiêu.
GO = Qi * Pi ( i = 1…n)
Trong đó: Qi: khối lượng sản phẩm thứ i
Pi: giá của sản phẩm thứ i
- Chi phí trung gian (IC): là toàn bộ chi phí vật chất được sử dụng trong quá trình tạo ra
sản phẩm. Bao gồm: cây giống, phân bón, lao động… Nói cách khác, IC là toàn bộ chi
phí vật chất và dịch vụ thuê ngoài của các hộ trong hoạt động sản xuất.
- Tổng chi phí(TC) : là toàn bộ các khoản chi để tạo ra khối lượng hàng hóa cuối cùng.
- Giá trị tăng thêm (VA): chính giá trị sản xuất vật chất dịch vụ mà các ngành sản xuất
NPV=
Trong đó
NPV:giá trị hiện tại của lợi nhuận ròng (đồng)
Bt: giá trị thu nhập tại năm t ( đồng )
Ct: giá trị chi phí tại năm t (đồng )
r: tỷ lệ lãi suất
t: thời gian thực hiện các hoạt động sản xuất ( năm )
tổng giá trị hiện tại của lợi nhuận ròng từ năm 0-1
NPV dùng để đánh giá hiệu quả các mô hình trồng keo có quy mô đầu tư, kết
cấu giống nhau, mô hình trồng keo nào có NPV lớn thì hiệu quả lớn.Nếu NPV>0 thì mô
hình có hiệu quả và ngược lại.
- Tỷ suất thu nhập và chi phí (BCR)
11
BCR =
Trong đó :
BCR :là tỷ suất lợi nhuận và chi phí
BPV: giá trị hiện tại của thu nhập
CPV: giá trị hiện tại của chi phí
Nếu BCR>1 thì mô hình có hiệu quả kinh tế, BCR càng lớn càng có hiệu quả và ngược
lại.
- Tỷ suất thu hồi nội bộ (IRR)
IRR=r1+( r2-r1 )
Trong đó
IRR: hệ số hoàn vốn nội bộ
r 1:Tỷ suất chiết khấu thấp hơn tại đó NPV1>0
Trồng thâm canh rừng kinh tế phải căn cứ vào vùng sinh thái, điều kiện đất đai,
khí hậu tại nơi trồng rừng để chọn loại cây trồng đáp ứng từng mục tiêu kinh doanh cụ
thể. Rừng kinh tế có chu kỳ tối đa là 15 năm.
1.3.4. Mô hình trồng keo.
Trong chiến lược phát triển ngành lâm nghiệp, keo được coi là một trong những
cây trồng chính trong phát triển rừng ở nước ta. Giống keo hầu hết có năng suất cao, đã
được Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn công nhận.
Cây keo gieo trồng phù hợp trên nhiều loại đất ( đất đồi, đất bồi tụ, đất phù sa,
…) kỹ thuật trồng tương đối đơn giản, cây dễ sinh trưởng và phát triển nhanh. Thời vụ
trồng thường vào khoảng tháng 9-12, thời tiết mưa nhỏ, độ ẩm khá thích hợp cho việc
trồng cây.
Bảng 1.1 : Cơ sở chọn đất trồng
Loại đất
1. Rất
thuận lợi
Độ dày tầng Độ dốc
Thành phần cơ giới Thực bì
đất.
và đá mẹ.
>50 cm
nhẹ .
xấu đến trung bình.
Thịt pha cát xốp ẩm Tế guột dày đặc, sinh trưởn
hay sét pha cát hơi trung bình.
chặt.
Lau, chít, chè và mọc xen cây
Đá mẹ: phấn sa.
bụi, nứa tép mọc thành bụi rải
rác, sinh trưởng xấu đến trung
bình.
Độ che phủ của cây bụi cỏ cao
3. Ít thuận
Cỏ tranh, lau lách, dây gai mọc
Sét pha thịt chặt
rải rác.
khô.
Có rất ít thực vật sinh trưởng
Cát di động
xấu.
Trơ sỏi đá
Độ che phủ của cây bụi cỏ cao
Đá mẹ: phiến thạch dưới 30 cm
sét, sa thạch, cuội
kết.
Bảng 1.2. Tóm tắt các biện pháp kỹ thuật áp dụng xây dựng mô hình trồng keo.
STT
Kỹ thuật
1
Lập địa trồng rừng
-
phương pháp
Dùng dao phát sát gốc và dọn sạch thực
bì
Giống cây trồng
Thuần loài
-
Phương thức
Cây con có bầu
-
Phương pháp
1600-2000 cây/ha
-
Mật độ trồng
Tháng 9,10,11,12
-
Thời vụ trồng
Phát dọn, xăm xới, vun gốc, kết hợp bón phân
6
K
K
K
K
K
K
K
K
K
K
K
K
K
K
K
K
K
K
K
K
Trong thời gian qua diện tích trồng rừng trong cả nước tăng giảm thất thường, trong khi
đó nhu cầu thị trường trong và ngoài nước không ngừng tăng cao, gây sức ép khai thác
lên rừng tự nhiên.
Trong chiến lược phát triển lâm ngiệp giai đoạn 2010-2020 của bộ nông nghiệp phát
triển nông thôn, định hướng xây dựng và phát triển ba loại rừng cho đến năm 2020,
nước ta có khoảng 15,57 triệu ha đất rừng, trong đó rừng sản xuất đạt 8,4 triệu ha.
1.4.2. Thực trạng trồng rừng tại Nghệ An
Bảng 1.3: Thực trạng trồng rừng tại Nghệ An
Chỉ tiêu
ĐVT
TH 2009
TH 2010
Trồng
Ha
9.288
12.500
trung
Trong đó: Ha
8.000
TH 2011
trồng
16
Tỷ lệ che
%
50,0
53,0
55,0
60,0
phủ rừng
Nguồn: Dữ liệu cơ bản về môi trường đầu tư tỉnh Nghệ An 2011
Niên Giám thống kê tỉnh Nghệ An 2011
Qua bảng 1.3 ta thấy trong những năm gần đây kinh tế lâm nghiệp đặc biệt là
nghề trồng rừng có nhiều biến động.Diện tích đất trồng rừng trong cả nước tăng và
chiếm diện tích cao so với tổng diện tích lãnh thổ. Phần đất trồng rừng tăng nhẹ, song
nhu cầu thị trường trong và ngoài tỉnh lại tăng cao về mặt số lượng cũng như chất
lượng.Để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, cũng như giảm sức ép lên rừng tự nhiên tỉnh và
nhà nước đã, đang đẩy mạnh việc phát triển trồng rừng sản xuất thông qua việc hỗ trợ,
khuyến khích các doanh nghiệp, lâm trường, hộ nông dân làm kinh tế lâm nghiệp.
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG VỀ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA CÂY KEO TRÊN ĐỊA BÀN XÃ
THANH THỦY.
cao được dùng chủ yếu để trồng chè, keo, cây ăn quả và các cây công nghiệp khác.
+ Đất phù sa chiếm một tỷ lệ nhỏ trong tổng diện tích của xã, được bồi đắp hàng năm ở
hai bên con suối. Đất được dùng chủ yếu để trồng các loại cây hoa màu như ngô, khoai,
lạc…
+ Đất rồng lúa 108,08 ha hầu hết là lúa nước, được trồng ở các vùng trũng, đồng bằng
của xã.
2.1.1.3. Thời tiết khí hậu.
+ Nhiệt độ: Xã Thanh Thủy nằm trong khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa, thời tiết được
chia thành hai mùa: mùa mưa và mùa khô.Mùa khô thường kéo dài từ tháng 4 đến tháng
18
8, nhiệt độ trung bình vào khoảng 33,5°C. Mùa mưa (mùa lạnh) kéo dài từ tháng 10 tới
tháng 3 năm sau, nhiệt độ trung bình mùa này khoảng 15ºC.
+ Lượng mưa: Trung bình hàng năm khoảng 2150mm, số ngày mưa khoảng từ 145-15
ngày.Lượng mưa phân bố không đều trong năm, tập trung chủ yếu vào các tháng mùa
thu và mùa hè, lượng mưa vào mùa đông ít, làm cho thời tiết khô hanh.
+ Độ ẩm không khí: Độ ẩm trung bình năm trên địa bàn xã khá cao trên 70%, độ ẩm
thường cao nhất vào các tháng mùa xuân và mùa thu nhưng cao nhất vào các tháng 1,2,3
thấp nhất vào các tháng 6,7.
+ Thiên tai lũ lụt: Thanh Thủy nằm trong khu vực miền trung, khu vực không được ưu
ái của thiên nhiên.Khu vực chịu nhiệt đới ẩm gió mùa, và ảnh hưởng của bão lụt, hạn
hán, những năm qua bão lụt không ngừng tăng lên.Nhưng do địa bàn xã nằm sâu trong
đất liền nên ít ảnh hưởng của các cơn bão lụt.Hạn hán thường xuyên xảy ra trên địa bàn
xã, tập trung vào các tháng 5,6 do địa bàn cao nên ảnh hưởng rất nhiều đến năng suất
sản lượng của toàn xã.
2.1.1.4. Thủy văn nguồn nước.
Do nằm xa con sông lớn (Sông Lam) nên nguồn nước sinh hoạt chủ yếu của
người dân nơi đây là nguồn nước ngầm, chất lượng nước ngầm rất tốt, còn nguồn nước
phục vụ cho sản xuất chủ yếu lấy từ các khe suối lớn nhỏ, hồ đập chứa nước nằm trên
và phát triển kinh tế toàn xã. Đường mòn Hồ Chí Minh và đường cửa khẩu Việt-Lào là
hai huyết mạch giao thông chính của xã.Việc hai con đường giao thông quan trọng này
đi qua địa bàn xã đã tạo ra rất nhiều thuận lợi cả về mặt kinh tế và xã hội cho xã.
Về hệ thống điện: tính đến năm 2010 trên địa bàn xã Thanh Thủy có 7 trạm
điện hạ thế, tổng công suất đạt 730kw tới thời điểm hiện tại có 99% số hộ trên địa bàn
xã dùng điện, trong đó có 50% số hộ dùng điện sinh hoạt, 40% số hộ dùng điện sản xuất,
10% số hộ còn lại dùng điện kinh doanh dịch vụ.
Về thủy lợi : chính quyền xã đã có nhiều chủ trương chính sách xây dựng hệ
thống kênh mương thủy lợi phục vụ sản xuất, với tổng chiều dài kênh mương tưới nước
là 8,8km trong đó kênh mương cấp 1 chiếm 2,1km còn lại là cấp 3.
2.2. Đặc điểm của các hộ điều tra
Bảng2.2: Đặc điểm chung của hộ điều tra
1.
2.
3.
4.
Chỉ tiêu
Số hộ điều tra
Bq nhân khẩu/hộ
Bq lao động/hộ
Bq diện tích trồng rừng/hộ
ĐVT
SL/Giá trị
Hộ
60
Khẩu/hộ
6
2.3.1. Kết quả đầu tư sản xuất keo của các hộ điều tra
Chi phí đầu tư năm đầu của các hộ dao động trong khoảng 11 – 17 triệu đồng,
trung bình cho 1ha là 6.260.807 đồng, cao nhất là 8.446.667 đồng/ha, thấp nhất là
4.667.000 đồng/ha. Chủ yếu bao gồm chi cho mua và vận chuyển cây giống (500 – 1200
đồng/cây giống), phân bón (chủ yếu sử dụng phân bón tổng hợp NPK với giá 1600-2000
đồng/kg). Các công việc như : làm cỏ, đào lấp hố, bảo vệ cây con, người dân cần phải
thuê lao động với giá 2 – 3 triệu đồng/ha. Ở xã Thanh Thủy, rừng trồng keo thường có
mật độ trung bình là 1600 – 2500 cây/ha, mức phân bón là 1 – 2 tạ/ha.
Chi phí đầu tư năm đầu tiên chiếm hơn 50% tổng vốn đầu tư với chu kỳ 5 năm.
Năm tiếp theo, người trồng keo chỉ đầu tư thuê lao động làm cỏ, bón phân và công tác
bảo vệ. Nhưng đa số, người dân chỉ tiến hành làm cỏ chứ không bón phân. Đến năm thứ
4,5, cây ra tán rộng và rễ đã ăn sâu thì chỉ cần bảo vệ rừng khỏi sự phá hoại, thực hiện
công tác phòng cháy chữa cháy.
Tùy vào độ dốc và loại đất nơi trồng mà dộ dài chu kỳ khai thác khác nhau.
Những nơi đất thịt giàu dinh dưỡng thì chỉ cần 3-4 năm người nông dân đã có thể thu
hoạch, những nơi đất đồi bạc màu cây khó sinh trưởng thì chu kỳ khai thác có thể kéo
21
dài từ 5-7 năm. Mật độ trồng cây cũng không giống nhau, những nơi điều kiện phù hợp,
cây có thể phát triển nhanh với đường kính thân lớn thì keo được trồng thưa ra, bớt công
tỉa cây, tạo điều kiện phát triển đường kính thân gỗ. Ngược lại, những nơi điều kiện khó
khăn, mật độ trồng lớn hơn, trung bình là 2200-2500 cây/ha.
Bảng 2.3: Chi phí trồng rừng keo theo từng năm của các hộ điều tra (Bq/ha)
ĐVT: đồng
Chỉ tiêu
1. Khai hoang
Năm 1
3. Giống
1.177.947
0
0
0
0
1.177.947
325.371
0
0
0
0
325.371
1.328.032
2.180.523
đồng/ha. Việc bán sản phẩm của người nông dân còn khá thô sơ, chủ yếu dựa vào trực
quan, không tiến hành đo đạc nên chưa có sự phân cấp rõ rệt trong việc đánh giá chất
lượng cây đứng.
Hình thức thu mua của lái thương là chặt trắng, khai thác toàn bộ, tỉa cành, bóc
vỏ ngay tại vườn, sau đó vận chuyển phần gỗ đã qua sơ chế đến nơi tập kết, chọn những
cây đường kính lớn có thể dùng làm mộc bán theo giá gỗ tròn, còn lại làm gỗ nguyên
liệu bán cho nhà máy chế biến giấy hay ván dăm.
Qua một quá trình đầu tư trồng keo, các hộ điều tra đã thu được những kết quả nhất
định, cụ thể:
Bảng 2.4: Kết quả đầu tư sản xuất keo của các hộ điều tra
ĐVT: Đồng
Chỉ tiêu
1. Tổng giá trị sản xuất (GO)
2. Chi phí trung gian (IC)
Tính trên một hộ
129.989.610
12.814.819
Tính trên một ha
39.252.021
3.869.598
22
3. Chi phí tự có
4. Giá trị gia tăng( VA)
5. Thu nhập hỗn hợp (MI)
14.005.100
Chỉ tiêu
GO/IC
VA/IC
Giá trị (lần)
10,14
9,13
Nguồn: Số liệu điều tra năm 2011
Ta thấy GO/IC = 10,14 lần, cho biết cứ 1 đồng chi phí trung gian bỏ ra mang lại
10,14 đồng giá trị sản xuất. Chỉ tiêu VA/IC = 9,13 cho biết khi đầu tư 1 đồng chi phí
trung gian sẽ mang lại 9,13 đồng giá trị tăng thêm.
2.3.2.2. Hiệu quả đầu tư
Khi việc trồng rừng kinh tế có hiệu quả sẽ kéo theo các lĩnh vực kinh doanh
khác cũng như nền kinh tế địa phương phát triển hơn. Trước hết, xã đã tận dụng được
quỹ đất lâm nghiệp mà người dân đã lãng quên không sử dụng đến hoặc sử dụng không
23
có hiệu quả. Sự phát triển của việc trồng keo đã làm cho những diện tích đất lâm nghiệp
của xã có giá trị thực sự, biểu hiện ở chỗ thị trường đất lâm nghiệp có sự biến động theo
chiều hướng ngày càng tăng lên rõ rệt trong những năm gần đây.
Ngày nay, rừng trồng đã mang lại một nguồn thu đáng kể cho người dân, bên
cạnh việc bù đắp chi phí đã bỏ ra, người đầu tư đã thu được lợi nhuận, đây chính là
nguồn động lực khuyến khích người dân trồng keo. Đây cũng là cơ hội giúp nhiều hộ
gia đình xóa đói giảm nghèo, vươn lên làm giàu từ nghề trồng keo.
Hiệu quả và lợi nhuận thu được từ trồng keo được người sản xuất chấp nhận,
việc trồng keo giải quyết việc làm cho một số lao động tại chỗ từ khâu sản xuất cây
giống đến khâu trồng keo, chăm sóc, bảo vệ, và thu hoạch, tạo thêm nguồn thu nhập
đáng kể cho người dân.
Các chỉ tiêu về đánh giá hiệu quả kinh doanh các mô hình trồng rừng kinh tế là
Thu nhập
quy về năm
đầu (đồng)
0
2
2.180.523
0
0,907
1.977.734,4
7.811.626,4
0
3
0
0
0,864
0
5.833.8
92
1.977.7
34,4
0
7.811.626,4
0
0
0
7.811.626,4
28.636.329,
1
20.824.
702,7
3,67
IRR
(%)
0
0
hơn 1, là điều kiện lý tưởng của các dự án kinh doanh. Tính khả thi của việc trồng keo
được khẳng định một cách vững chắc qua kết quả tính toán dựa trên số liệu điều tra từ
60 hộ trồng keo được chọn ngẫu nhiên.
2.3.2.3. Hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội của việc trồng keo phản ánh mức độ chấp nhận của các chủ đầu
tư, chủ rừng đối với việc trồng keo. Điều này được thể hiện rõ thông qua thực tế ngày
càng có nhiều hộ trồng rừng chuyển từ việc trồng tràm, thông sang trồng keo. Vì cây
keo lai dễ chăm sóc, thời gian khai thác ngắn lại có thị trường tiêu thụ rộng. Việc trồng
keo đã đem lại những thay lớn đối với đời sống của nhân dân cũng như bộ mặt nông
thôn của xã Thanh Thủy. Cụ thể:
Tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo.
Các hộ gia đình tham gia trồng keo sử dụng số lượng công khá lớn. Nhu cầu lao
động tập trung vào các khâu: trồng cây, làm có, bón phân, khai thác,… nhưng số lao
động tự có của hộ không đủ đáp ứng yêu cầu thời vụ, do đó, nhu cầu thuê lao động xuất
25
hiện. Như vậy, việc trồng keo đã tạo việc làm cho một số lao động nhàn rỗi, thất nghiệp
ở địa phương, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo trên toàn xã. Cụ
thể, tỷ lệ hộ nghèo năm 2009 là 13.9% (114/819 hộ) giảm 4,7% so với năm 2008.
Nâng cao cơ sở hạ tầng ở địa phương
Cơ sở hạ tầng trên địa bàn những năm qua đã có nhiều chuyển biến tích cực. Để
đáp ứng được nhu cầu vận chuyển cây giống, phân bón cũng như phục vụ khai thác sản
phẩm từ rừng, người dân đã tiến hành góp tiền cùng nhà nước xây dựng, làm thay đổi bộ
mặt nông thôn của xã. Qua đó, thấy được trình độ nhận thức của người dân tăng lên rõ
rệt, đặc biệt cách nhìn nhận tích cực so với trước đây về trồng keo.
2.3.2.4. Hiệu quả môi trường sinh thái
Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Quảng Bình. Nhìn chung, thị trường tiêu thụ gỗ keo tại tỉnh có 4
26
tác nhân thị trường chính: các công ty chế biến gỗ dăm,các công ty làm mộc xuất khẩu,
các cơ sở mộc dân dụng và công ty thu mua gỗ keo ngoài tỉnh.
Một số công ty thu mua gỗ keo ở trong tỉnh như: nhà máy Bến Thủy – Vinh,
nhà máy nguyên liệu gỗ Nghệ An.
Ngoài ra, gỗ keo còn được vận chuyển ra các nhà máy ở Hà Tĩnh, Thanh Hóa
như: công ty cổ phần Việt Hà, nhà máy chế biến gỗ xuất khẩu Vũng Áng – Hà Tĩnh, nhà
máy chế biến gỗ xuất khẩu Lễ Môn ( thuộc công ty TNHH Thanh Thành Đạt),…
Thị trường tiêu thụ gỗ keo còn được mở rộng ra phạm vi ngoài nước, chẳng hạn
như Công ty TNHH CHAIYO AA Việt Nam có thị trường tiêu thụ tại Nhật là 60%, Hàn
Quốc 20%, Trung Quốc 20%.
2.4.3. Chuỗi cung ứng của gỗ keo tại tỉnh Nghệ An
Thông qua điều tra ta thấy thị trường gỗ keo có 4 kênh tiêu thụ chính:
Kênh 1: Người trồng keo, người thu mua, xưởng cưa, công ty gỗ dăm, xuất khẩu.
Kênh 2: Người trồng keo, người thu mua, xưởng cưa, công ty chế biến gỗ xuất khẩu ,
xuất khẩu.
Kênh 3: Người trồng keo, người thu mua, xưởng cưa, công ty thu mua ngoài tỉnh.
Kênh 4: Người trồng keo, người thu mua, xưởng cưa, xưởng mộc, đại lý, người tiêu
dùng.
Vai trò của các tác nhân:
-
Người trồng keo: Keo đến tuổi khai thác, người trồng keo liên hệ với một số
người thu mua để những người thu mua ra giá, sau đó họ sẽ lựa chọn người ra giá cao
nhất để bán.
-