Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Dương Thị Lời KSNH K37
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Dưa là một loại cây thuộc họ bầu bí có khả năng cung cấp quả nhanh
năm. Không những thế dưa là loại quả dễ ăn, có thể dùng để ăn tươi, muối
chua, chế biến nước giải khát…, giá thành hợp lý, chất lượng quả tốt, đa dạng
về chủng loại, thời gian cung cấp quả dài, thời gian bảo quản được nâu hơn so
với các loại quả khác. Một số giống dưa còn là cây có giá trị xuất khẩu như
dưa chuột, dưa hấu, dưa lê và một số giống dưa khác… đem lại giá trị kinh tế
khá cao cho người trồng trọt. Đồng thời đây cũng là loại cây trồng quan trọng
trong kế hoạch chuyển dịch cơ cấu cây trồng của nhiều địa phương bởi kỹ
thuật trồng trồng dưa đơn giản, cho năng suất cao, có thị trường tiêu thụ khá
lớn và ổn định.
Khi công nghiệp hoá, hiện đại hoá đang dần hoàn thiện, khoa học công
nghệ ngày càng cao đã làm cho nền nông nghiệp của nứơc ta có bước phát
triển mạnh. Như việc nhập ngoại và lai tạo ra nhiều giống mới có năng suất
cao, chất lượng tốt. Việc áp dụng các mô hình nhà lưới, nhà kính và các biện
pháp khoa học kỹ thuật, thâm canh tăng vụ… đã hạn chế được tác hại của
điều kiện ngoại cảnh, sâu bệnh có sự điều khiển của con người về dinh dưỡng,
kỹ thuật trồng trọt, sâu bệnh hại tạo ra khối lượng nông sản lớn đảm bảo về số
lượng, chất lượng tươi ngon, an toàn cho sức khoẻ, đáp ứng nhu cầu của thị
trường.
Được sự phân công của khoa Nông nghiệp trường đại học Hải phòng,
được sự hướng dẫn của thầy Hoàng Tùng chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và ảnh hưởng của phân
Kali tới năng suất chất lượng giống dưa hấu Hắc Mỹ Nhân (VN036) trồng
vụ Thu Đông 2010 tại xã Tân Dân – An Lão – Hải Phòng”
Bầu bí (Cucurbitaceae), một loại trái cây có vỏ cứng, chứa nhiều nước, có
nguồn gốc từ miền nam châu Phi và là loại quả phổ biến nhất trong họ Bầu bí.
Dưa hấu có tính hàn có thể dùng làm thức ăn giải nhiệt trong những ngày hè
nóng nực.
Dưa hấu thuộc nhóm cây ngắn ngày, có yêu cầu cao nhất tới nhiệt độ
trong suốt quá trình sinh trưởng, phát triển. Nhiệt độ thích hợp cho hạt nẩy
mầm 30 - 35oC, còn cho các giai đoạn sau đó 25 - 30oC. ở nhiệt độ dưới
15oC, cây ngừng sinh trưởng, phát triển, tỷ lệ đậu quả thấp và quả lớn chậm,
ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất. Dưa hấu chịu được nhiệt độ cao do đặc
điểm sinh lý của cây (nhiệt độ kết dính protein trong lá 64 - 72oC) và cấu tạo
bộ lá (xẻ thuỷ lớn để khuyếch tán nhiệt và lớp lông sáp che phủ mô, có tác
dụng tự hạ nhiệt độ thân cây).
Do đó nguồn gốc từ vùng sa mạc nhiều nắng nên dưa hấu cần nhiều
ánh sáng, ngay từ khi xuất hiện lá mầm cho đến khi kết thúc sinh trưởng.
Nắng nhiều cùng với nhiệt độ thích hợp là hai yếu tố ngoại cảnh cơ bản làm
tăng năng suất và chất lượng quả. ở đây độ dài ngày có ảnh hưởng tới thời
gian sinh trưởng của cây. Số giờ chiếu sáng trong ngày 8 - 10 giờ sẽ làm cây
ra hoa sớm hơn và số lượng hoa cái cũng nhiều hơn.
Dưa hấu thuộc nhóm cây chịu hạn. Bộ rễ dưa hấu lúc phát triển nhất đạt
3 - 4 mét chiều sâu và 5 - 8 mét đường kính. Tuy vậy, do hệ số thoát nước lớn
(gần 600) nên nhu cầu giữ ẩm đất cho cây thường xuyên vẫn cần thiết, nhất là
ở giai đoạn đầu.
3
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Dương Thị Lời KSNH K37
tác dụng tốt với chất lượng quả, tăng lượng đường trong thịt quả. Phân tích 1
kg chất khô quả dưa hấu có 12,1g N; 2,9g P và 17,4g K. Như vậy, 1 tấn quả
tươi có 1,23kg N; 0,98kg P và 1,79 kg K. ở lá, tỷ lệ N cao hơn và ở thân
lượng P lớn hơn. Từ đây, ta có thể phác tính tỷ lệ NPK để bón cho dưa hấu.
Thực tế cho thấy, tỷ lệ hợp lý nhất là 1: 0,8 : 1,2 (N=1).
Ở nhiều vùng trong nước có trồng các giống địa phương khác nhau như
Đình Cao (Hải Hưng), dưa Hường (Huế), Quảng Ngãi, Gò Công (Tiền Giang)
vv… Song để phục vụ xuất khẩu, các giống sau đây được sử dụng nhiều.
Giống Sugar baby, có nguồn gốc từ Mỹ được Viện Khoa học nông nghiệp
miền Nam chọn lọc và sản xuất hạt trong nước đạt tiêu chuẩn giống ngoại
nhập. Giống có thời gian sinh trưởng 70 - 72 ngày (tại Long An), 80 - 85 ngày
(tại đồng bằng sông Hồng). Trọng lương quả trung bình 3 - 3,5kg, quả to đạt
tới 6 - 7 kg. Vỏ quả xanh đen , hình tròn, lượng đường tổng số 8 - 9% năng
suất trung bình 15 - 25 tấn/ha (6 - 9 tạ/sào) tuỳ theo vụ trồng và vùng sinh thái
Giống lai F1 số 1 do Viện cây lương thực và cây thực phẩm lai tạo có
năng suất cao: 250 - 300 tạ/ha trong vụ xuân hè và 200 - 205 tạ/ha vụ đông ở
đông bằng Bắc Bộ. Quả tròn, vỏ xanh đen, có sóc chìm mờ, ruột đỏ. Trọng
lượng quả trung bình 3 - 4 kg. Hàm lượng đường tổng số 7,5 - 9%. Giống có
khả năng chịu bệnh héo rũ (Fusarium oxysporumf.niverum) khá, thích ứng
rộng, có thể trồng tại nhiều vùng trong nước.
Ngoài ra, tại nhiều nơi ở các tỉnh phía Nam có trồng các giống lai F1
của công ty Taii (nhật bản), Công ty Known-you Seed (Đài Loan). Trong số
này có một số giống ruột vàng vỏ đen hoặc vỏ vàng, ruột đỏ, ít quen thuộc với
4
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Dương Thị Lời KSNH K37
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Dương Thị Lời KSNH K37
800.000 tấn/năm. Riêng vụ hè thu năm 2009, nhu cầu sử dụng kali khoảng
300.000 tấn nhưng thực tế lượng kali tồn ở trong nước chỉ khoảng 100.000
tấn.
Sự thiếu hụt kali được biểu hiện bằng sự suy giảm sinh trưởng của cây
và sự biến vàng hoặc cháy của bìa lá. Vì kali di động trong cây, nên triệu
chứng đầu tiên thường xuất hiện ở các lá già. Biểu hiện khác của sự thiếu hụt
kali là sự suy giảm sức bền của rơm rạ và thân cây, dẫn đến vấn đề lốp đổ và
làm giảm tính kháng bệnh, giảm khả năng chống chịu của cây trồng.
Kali hoạt hóa enzym :Enzym được dùng làm chất xúc tác cho các
phản ứng hóa học, khi được sử dụng, nhưng không được tiêu thụ trong quá
trình. Chúng tập hợp những phân tử khác nhau lại, bằng cách này phản ứng
hóa học có thể xảy ra.
Kali hoạt hóa tối thiểu 60 loại enzym khác nhau cần thiết cho sinh
trưởng của cây trồng. Kali làm thay đổi hình dạng vật lý của các phân tử
enzym, để lộ ra những vùng có hoạt tính hóa học hợp lý cho phản ứng thực
hiện. Kali cũng trung hòa nhiều anion hữu cơ và những hợp chất khác trong
cây, giúp cho pH trong cây ổn định từ 7-8, tối ưu cho các phản ứng của
enzym. Lượng kali có mặt ở trong tế bào quyết định bao nhiêu enzym có thể
được hoạt hóa, quyết định tỷ lệ mà ở đó những phản ứng hóa học có thể được
tiến hành; vì vậy tốc độ của một phản ứng nhất định nào đó được quy định
bởi tốc độ kali xâm nhập vào tế bào.
Kali kích hoạt khí khổng hoạt động : Cây trồng lệ thuộc vào kali để
điều hóa sự đóng, mở của khí khổng,…những lỗ mà qua đó lá cây trao đổi khí
cacbonic, hơi nước và khí ô xy với khí quyển. Nhiệm vụ đích thực của khí
khổng là cần thiết cho quang hợp, vận chuyển dinh dưỡng và nước, và giữ
mát cho cây. Khi kali dịch chuyển về những tế bào bảo vệ quanh khí khổng,
tăng hiệu suất quang hợp; sự dịch chuyển ấy của lá có được là do sự thay đổi
sức trương được tạo ra bởi dòng kali vào hoặc ra khỏi những mô đặc biệt.
Kali tăng cường vận chuyển đường bột : Đường được tạo ra từ quang
hợp phải được vận chuyển qua mạch giây tới các bộ phận khác nhau của cây
để sử dụng và dự trữ. Hệ thống vận chuyển của cây sử dụng năng lượng dưới
dạng ATP. Nếu thiếu kali, lượng ATP sẵn có sẽ ít hơn, và hệ thống vận
chuyển ấy sẽ bị phá vỡ. Điều này khiến các sản phẩm quang hợp đọng lại ở lá
7
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Dương Thị Lời KSNH K37
cây, và hiệu suất quang hợp bị suy giảm. Kết quả là sự phát triển bình thường
của những cơ quan dự trữ năng lượng như hạt bị chậm lại. Một nguồn kali
hợp lý sẽ giúp cây giữ được tất cả các quá trình này, giúp hệ thống vận
chuyển vận hành một cách bình thường.
Kali tăng cường vận chuyển dinh dưỡng và nước : Kali cũng giữ
một vai trò quan trọng đối với quá trình vận chuyển nước và dưỡng chất trong
mạch gỗ của cây trồng. Khi nguồn kali suy giảm, quá trình vận chuyển đạm,
lân, canxi, magiê và các acid amin bị đình trệ. Giống như hệ thống vận
chuyển trong mạch giây, vai trò của kali trong vận chuyển ở mạch gỗ thường
kết hợp chặt chẽ với những enzym và hooc môn sinh trưởng đặc biệt của cây
trồng. Một nguồn kali dồi dào là cần thiết đối với sự vận hành hiệu quả những
hệ thống này.
Kali tăng cường tổng hợp protein : Kali cần cho mỗi bước chủ yếu
của quá trình tổng hợp protein. Việc đọc mã di truyền ở tế bào thực vật để sản
sinh ra protein và enzym điều hòa tất cả các quá trình sinh trưởng sẽ là không
thể nếu không đủ kali. Khi cây trồng thiếu kali, protein không được tổng hợp,
năm, có những cây phải mất 9 - 10 năm mới cho quả.
Trái lại dưa là cây ngắn ngày, có thể trồng nhiều vụ và cung cấp quả
nhanh năm cho thị trường như dưa chuột, dưa hấu, dưa lê, dưa bở, dưa gang,
… Dưa là cây trồng quan trọng của nhiều nước trên thế giới.
2.1.2.Tình hình sản xuất và tiêu thụ dưa ở Việt Nam
Dưa là loại cây trồng khá phổ biến ở nước ta, tuy nhiên do điều kiện đất
đai, thời tiết khí hậu, do đặc điểm thực vật học nên cây dưa được trồng chủ
9
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Dương Thị Lời KSNH K37
yếu ở miền Nam. Ở miền Bắc do có mùa đông lạnh, giá rét, mùa hè lại có
mưa bão nên trồng dưa thường cho năng suất, chất lương thấp.
Ngày nay trong quá trình áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật thì
năng suất của một số giống dua cũng tăng dần. Giống dưa chuột Yên Mỹ
(Hưng Yên) năng suất trung bình đạt từ 15 đến 20 tấn/ha, giống dưa chuột
bao tử F1 Hà Lan MTXTE đạt 10 - 15 tấn/ha, giống dưa chuột của Nhật trồng
tại vùng Gia Lộc (Hải Dương) Đạt 50 - 60 Tấn/ha. (Tạ Thu Cúc, 2000)
Vụ Xuân năm 2005, tỉnh Bắc Giang đạt trên 80 tấn dưa chuột bao tử
với sản lượng 9,224 tấn (tăng 32%), năng suất 224 tạ/ha (tăng 29,25%). Hay
như vùng sản xuất chuyên canh dưa chuột Lý Nhân - Hà Nam sản xuất 274 ha
dưa chuột bao tử (Tạ Thu Cúc, 2000). Ngoài ra còn rất nhiều vùng chuyên
canh dưa chuột khác trong cả nước.
Tại Hải Phòng năm 2005 dưa hấu đạt 285 tạ/ha tăng 9%, sản lượng đạt
4845 tấn tăng 1012 tấn. Năm 2006, sản xuất nông nghiệp tiếp tục tăng trưởng
khá nhanh. Diện tích cây có giá trị cao tiếp tục tăng nhanh đặc biệt là các cây
3.2. Nội dung nghiên cứu
Thí nghiệm : Nghiên cứu ảnh hưởng của phân Kali bón đến khả năng sinh
trưởng và phát triển.
Thí nghiệm gồm 4 công thức:
- Công thức 1: Không bón kali
- Công thức 2: Bón 30 kg K2O/ha
- Công thức 3: Bón 60 kg K2O/ha
- Công thức 4: Bón 90 kg K2O/ha
11
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Dương Thị Lời KSNH K37
Nền: 120 N + 100 P2O5 + 10-15 tấn phân chuồng bón cho 1 ha.
Bón lót: Toàn lân và phân chuồng
Thúc lần 1: Sau khi trồng 15 - 20 ngày, lượng bón 1/2N + 1/2K
Thúc lần 2: Sau trồng 30 - 35 ngày. lượng bón 1/4N + 1/2K.
Lượng N còn lại bón rải rác.
3.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.3.1. Phương pháp tiếp cận
- Điều tra thu thập trong nước và nước ngoài
- Bố trí thí nghiệm đồng ruộng
- Phân tích sử lý số liệu bằng chương trình Iristard
3.3.2. Phương pháp cụ thể
3.3.3. Các chỉ tiêu theo dõi
* Theo dõi thời gian sinh trưởng phát triển của cây
* Các chỉ tiêu sinh trưởng phát triển
- Chiều dài thân chính (cm/cây)
Khi dưa ngả ngọn, cần bấm ngay ngọn chính để dưa bật nhanh 2 nhánh
phụ, chỉ nuôi 2 nhánh phụ này, cần hướng ngọn nhánh bò thẳng vào giữa
luống, tỉa bỏ ngay các nhánh phụ khác, chỉ để lại 2 nhánh bơi chèo to khoẻ,
tỉa sớm các nhánh cấp 2 cấp 3 để tránh làm dưa sinh trưởng thân lá um tùm và
che cớm, sâu bệnh phát sinh gây hại. Khi đã lấy xong quả, để dây ngoi 3-4 lá
tiếp tục bấm ngọn để dưa phát nhánh phía trên để lại các nhánh to mập để dưa
quang hợp tích luỹ vào quả, không để dây quá tốt.
Bón thúc lần 2 khi ra hoa cái rộ. Lượng bón tuỳ màu lá mà dùng 4-5kg
NPK Việt nhật bón vãi ra rãnh luống rồi tát nước để hoà tan phân. rễ dưa sẽ tự
hút phân ngấm ở 2 mép luống. Chú ý rãnh luống phải làm sạch cỏ Để rút ngắn
TGST cần phun phân qua lá cho dưa bằng phân K-H
3.5. Để quả
13
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Dương Thị Lời KSNH K37
Chỉ để quả ở vị trí lá thứ 10 trở lên, mỗi cây chỉ lấy bình quân 1 quả
(cây nào khoẻ, mỗi nhánh lấy 1 quả, cây yếu chỉ lấy 1 quả ở nhánh to, mập;
quả ra ở nhánh kia vặt bỏ, quả ra gần gốc cũng cần vặt bỏ càng sớm càng tốt).
Chọn các quả có đế quả to, mỡ thì quả sẽ nhanh lớn. Thu phấn bổ sung cho
dưa để tăng tỷ lệ đậu quả, khi quả lớn bằng chén con cần cắm thẻ theo dõi để
tiện thu hái, sau để quả 12-15 ngày, cần trở quả và kê cao quả bằng xốp hoặc
các vật liệu khác không giữ nước (2 đoạn tre, nứa..)
Sau để quả 12-13 ngày bón thúc mỗi sào 3-4kg kali vào giữa các cây bằng
cách lật màng phủ và bón nhói vào khoảng giữa các hốc cây.
3.4. Sơ đồ thí nghiệm
dấu, dưa thơm tây), làm bánh mứt (bí đao, hột dưa hấu), đóng hộp (dưa leo),
phơi khô (bầu). Một số loại có khả năng cất giữ lâu như bí đỏ, bí đao có thể
góp phần giải quyết tình trạng giáp vụ rau. Rau trong họ bầu bí có hàm lượng
nước rất cao (92-96%), chất đường bột khá cao (5-7%), Vitamin C khá (5-22
mg), protein rất thấp (1%).
Bảng 4.1. Thành phần dinh dưỡng trong 100g phần ăn được của một số loại
rau trong họ bầu bí (theo bảng thành phần hoá học thức ăn Việt Nam, 1972)
Bầu
Bí đỏ
Chất dinh dưỡng
Bí
đao
Dưa
leo
Dưa
gang
Dưa
hấu
Mướp Khổ
qua
Nước (%)
16
16
Chất đạm (g)
0,6
0,3
0,3
1,9
0,8
1,2
0,9
0,9
Chất bột đường (g)
2,9
2,4
6,2
25
23
16
27
37
13
45
29
Fe (mg)
0,2
0,3
0,5
1,0
0,4
1,0
Vitamin C (mg)
12
16
8
5
4
7
8
22
Caroten (mg)
0,02
0,01
0,02
0,03
0,26
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Dương Thị Lời KSNH K37
4.2.1. Thời gian từ trồng đến ra hoa.
Thời gian từ trồng đến ra hoa là thời kỳ sinh trưởng cực kỳ quan trọng
đối với cây. Nó đánh dấu bước chuyển từ giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng
sang sinh trưởng sinh thực. Trong giai đoạn này cây tích lũy rất nhiều dinh
dưỡng để chuẩn bị cho việc ra hoa, đậu quả. Chính vì thế ở giai đoạn này
chúng ta cần chú ý chăm sóc cây tốt, bón phân đầy đủ, cân đối và đặc biệt là
phải cung cấp đủ nước. Nếu không chăm sóc tốt ở giai đoạn này thì cây sẽ ra
ít hoa hoặc hoa sẽ bị rụng ngay sau khi ra làm ảnh hưởng trực tiếp đến năng
suất sau này. Thời gian từ trồng đến ra hoa phụ thuộc vào yếu tố di truyền của
từng giống nhưng nó cũng chịu tác động tương đối của điều kiện ngoại cảnh
bên ngoài. Căn cứ vào thời gian này người ta có thể xác định được tính chín
sớm hay chín muộn sinh học của giống.
Ở vụ Đông, cây dưa hấu nở hoa sớm ảnh hưởng lớn đến việc tạo năng
suất sau này và đồng thời nó cũng cho ta biết khả năng thích ứng đối với
trồng trái vụ của từng giống. Theo Kuo và cs (1998), nhiệt độ cao xảy ra vào
thời điểm 2 – 3 ngày sau nở hoa sẽ gây cản trở tới quá trình thụ tinh. Độ ẩm
không khí cao trên 90% dễ làm hạt phấn bị trương nứt, hoa không thụ phấn
được và rụng (Tạ Thu Cúc, 2000)[6].
Bảng 4.2. Các giai đoạn sinh trưởng phát triển của cây dưa hấu Hắc Mỹ
Nhân (VN036) qua các công thức thí nghiệm
Ngày gieo
Ngày mọc
23/10/2010
05/11/2010
69
05/9/2010
30/09/2010
24/10/2010
06/11/2010
70
17
05/9/2010
30/09/2010
24/10/2010
06/11/2010
70
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Dương Thị Lời KSNH K37
Ở trong thí nghiệm ta thấy: kết quả theo dõi ở bảng 4.2, các tổ hợp dưa
hấu trong thí nghiệm là các công thức ngắn ngày, thời gian từ trồng đến ra
hoa dao động khoảng 31 – 42 ngày, trong đó các công thức đều ra hoa như
nhau (31 ngày sau trồng).
Do vụ Đông vừa rồi thời tiết lạnh vào thời gian đầu nên quá trình gieo
hạt phải chậm lại vì thế thời vụ bị đẩy lên, một số công thức ra hoa muộn hơn
bình thường. Nhưng giai đoạn sau thời tiết lại thuận lợi nên các công thức ra
quyết định. Lycopen là sắc tố chính để tạo cho quả dưa hấu có màu đỏ.
Những giống dưa hấu màu vàng lại do sắc tốt caroten quyết định. Chính vì thế
mà quả dưa hấu có màu vàng thì thường có hàm lượng provitamin A cao gấp
8 – 10 lần quả có màu đỏ. Nhiệt độ thích hợp cho quả chín từ 22 – 24 oC,
nhiệt độ chênh lệch ngày đêm là 10 – 12 oC, ẩm độ thích hợp là 10 – 80%.
Nếu thời kỳ quả chín gặp nhiệt độ lớn hơn 35 oC thì sẽ làm phân giải sắc tố
Licopen. Kết quả theo dõi ở bảng 4.2 cho ta thấy: tất cả các công thức đều có
thời gian chín dao động trong khoảng từ 21 đến 24 ngày. Điều này chứng tỏ các
công thức có thời gian chín tập trung. Công thức 1 có thời gian từ trồng đến bắt
đầu chín sớm nhất. Tiếp đó là CT2, CT3 và công thức chín muộn nhất là CT4.
4.2.4. Thời gian chín rộ.
Đây là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá khả năng chín sớm và khả năng
chín tập trung của các mẫu giống, đặc biệt nó là chỉ tiêu quan trọng đối với
các giống trồng phục vụ mục tiêu chế biến. Các tổ hợp có thời gian từ trồng
đến chín rộ càng ngắn thì mẫu giống đó càng chín tập trung.
Thời gian từ trồng đến chín rộ phụ thuộc vào đặc tính di truyền của
từng giống, điều kiện ngoại cảnh, kỹ thuật chăm sóc và nó được xác định khi
có 70 – 80 % số cây trong ô thí nghiệm có quả chín.
Người ta đã nghiên cứu và thấy rằng khi sự chênh lệch nhiệt độ ngày
đêm càng lớn thì thời gian chín của quả càng được rút ngắn.
Kết quả thí nghiệm ở bảng 4.2 cho thấy: thời gian từ trồng đến chín rộ
của các công thức dao động trong khoảng 68 – 70 ngày. Chín rộ sớm nhất là
CT1 ( 68 ngày). Công thức chín rộ sớm thứ 2 là CT2 (69 ngày). Hai công
19
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Dương Thị Lời KSNH K37
03/10/2010
10/10/2010
17/10/2010
24/10/2010
82
176
223
250
250
250
Chiều dài thân (cm)
CT2
CT3
0
0
10
10
84
178
226
250
250
250
20
85
179
228
vào bản chất di truyền của giống. Ngoài ra nó còn phụ thuộc rất nhiều vào
yếu tố ngoại cảnh như nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng, dinh dưỡng... Căn cứ vào
khả năng sinh trưởng của giống chúng ta có thể đánh giá được mức độ thích
nghi của giống đó với điều kiện môi trường. Một giống được đánh giá là có
triển vọng phải sinh trưởng, phát triển mạnh, khả năng cho năng suất cao,
phẩm chất tốt, hơn nữa giống cần có độ thích ứng rộng có thể trồng được
nhiều thời vụ trong năm.
Mức độ phân nhánh được thể hiện qua khả năng ra nhánh của cây. Các
giống khác nhau thì khả năng phân nhánh cũng khác nhau, có giống khả năng
phân nhánh rất mạnh nhưng ngược lại có giống khả năng phân nhánh của nó rất
yếu. Trên cùng một cây ở các vị trí khác nhau khả năng phân nhánh của chúng
cũng khác nhau. Những nhánh ở vị trí thấp, dưới chùm hoa đầu thường có khả
năng sinh trưởng phát triển mạnh hơn những nhánh ở vị trí cao hơn. Đặc biệt
những nhánh này có khả năng cho quả và góp phần quan trọng trong việc nâng
cao năng suất của giống chính vì vậy việc cắt tỉa nhánh là một trong những yêu
cầu kỹ thuật quan trọng và cần thiết với việc trồng dưa hấu. Tất cả những nhánh,
nhánh vô hiệu cần phải được cắt bỏ ít nhất 3-4 ngày/lần nhằm tập trung dinh
dưỡng nuôi nhánh và quả còn lại, đẩy mạnh quá trình phát triển của quả bên
21
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Dương Thị Lời KSNH K37
cạnh đó còn làm cho ruộng thông thoáng hạn chế sự phát triển của các loại sâu,
bệnh hại.
Để so sánh mức độ phân nhánh ở các công thức bón Kali chúng tôi theo
dõi khả năng xuất hiện số nhánh trên cây. Kết quả thể hiện ở bảng 4.4:
Bảng 4.4. Động thái sinh trưởng số nhánh của cây dưa hấu Hắc Mỹ Nhân
6
12
19
27
34
38
7
15
21
29
35
40
CT4
1
3
8
16
26
32
37
42
Qua bảng 4.4 cho thấy ở CT4 có khả năng phân nhánh mạnh nhất(42
nhánh), tiếp đến là CT3(40 nhánh), CT2 (38 nhánh) và cuối cùng là CT1(35
nhánh). Về đặc điểm cấu trúc chùm hoa và đặc điểm nở hoa của dưa hấu ở
các công thức là không khác nhau nhiều ở từng giống và nó mang đặc điểm di
truyền của giống. Kết quả nghiên cứu về cấu trúc chùm hoa và đặc điểm nở
hoa của công thức thí nghiệm chúng tôi nhận thấy tất các công thức đều có
Mỹ Nhân ở vụ đông trong 5 tuần đầu dao động từ 15 - 16 lá. Qua thí nghiệm,
cho thấy ở các công thức 1 có số lá ít hơn so với các công thức còn lại.
Bảng 4.5. Động thái ra lá của cây dưa hấu Hắc Mỹ Nhân (VN036) qua
các công thức thí nghiệm
Số lá
05/9/2010
12/9/2010
CT1
0
3
CT2
0
3
CT3
0
3
CT4
0
3
19/9/2010
6
7
7
7
26/9/2010
các công thức thí nghiệm
Số hoa
05/9/2010
12/9/2010
CT1
0
0
CT2
0
0
CT3
0
0
CT4
0
0
19/9/2010
26/9/2010
03/10/2010
10/10/2010
17/10/2010
24/10/2010
0
0
các loại sâu bệnh hại và mức độ thiệt hại nguy hiểm hơn nhiều so với các loại
cây trồng khác. Mức độ nhiễm sâu bệnh của cây dưa hấu phụ thuộc vào rất
nhiều yếu tố như giống, chế độ chăm sóc, phân bón.
24
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Dương Thị Lời KSNH K37
Trong điều kiện vụ đông sớm năm 2010 với thí nghiệm về mức phân
bón khác nhau và được thực hiện trên 4 công thức thí nghiệm cho thấy sức
sinh trưởng và chống chịu một số loài sâu bệnh hại dưa hấu là có sự khác
nhau giữa các công thức, số liệu cụ thể được trình bày ở bảng 4.8.
Bảng 4.8. Tình hình sâu, bệnh hại chủ yếu trên cây dưa hấu Hắc Mỹ
Nhân (VN036) qua các công thức thí nghiệm
Sâu, bệnh
Bệnh cháy dây
Bệnh sương mai
CT1
++
++
Bệnh thán thư
++
Rệp
++
Dẫn liệu ở bảng 4.8 cho thấy:
Độ Brix là chỉ tiêu để xác định hàm lượng các chất hòa tan trong dịch quả.
Đây là đặc trưng di truyền của từng giống nhưng ít nhiều cũng bị ảnh hưởng
của điều kiện ngoại cảnh, đặc biệt là lượng mưa trong giai đoạn quả chín và
thu hoạch. Nếu trong giai đoạn quả chín thu hoạch gặp mưa nhiều thì sẽ làm
độ Brix giảm đáng kể.
25