Chương 1
Nhìn chung về ca dao Nam Bộ
1.1. Nhìn chung về ca dao
1.1.1. Định nghĩa ca dao
Theo” Lịch sử văn học Việt Nam” của Bùi Văn Nguyên: ca dao là
những bài có hoặc không có chương khúc, sáng tác bằng thể văn vần dân
tộc (thường là lục bát), để miêu tả, tự sự, ngụ ý và diễn đạt tình cảm.
Trong ca dao, đại đa số là tác phẩm trữ tình. Ðối tượng của nó là những
sáng tác phản ánh hiện thực đời sống không phải thông qua cốt truyện, sự
xung đột của hành động nhân vật màì thông qua sự thể hiện tâm trạng các
nhân vật trữ tình. Ví dụ:
“Trâu ơi ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta…”
“Bướm vàng đậu đọt mù u
Lấy chồng càng sớm, tiếng ru càng buồn.”
“Còn duyên kẻ đón người đưa
Hết duyên đi sớm về trưa mặc lòng.”
“Thân cò lặn lội bờ song
Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non ...”
1.1.2. Nội dung ca dao
Ca dao là những bài ca về lịch sử. Tác giả dân gian đã có sự gắn kết
các câu ca dao vào từng thời kỳ, sự kiện, nhân vật lịch sử. Chẳng hạn:
“Tưởng là chị ngã em nâng
1
Chẳng hay chị ngã em mừng em lo.”
được tác giả coi là nói về việc Trịnh Tùng tranh cướp lấn quyền của anh là
Trịnh Cối sinh ra hiềm khích đánh nhau.
Ca dao lịch sử không phản ánh hiện tượng lịch sử trong quá trình diễn
biến của nó, mà chỉ nhắc đến sự kiện lịch sử để nói lên thái độ, quan điểm
“Rủ nhau chơi khắp Long Thành,
Ba mươi sáu phố rành rành chẳng sai.
Hàng Bồ, hàng Bạc, hàng Gai,
Hàng Buồm, hàng Thiếc, hàng Hài, hàng Khay.
Mã Vĩ, hàng Ðiếu, hàng giày,
….
Người về nhớ cảnh ngẩn ngơ,
Bút hoa xin chép vần thơ lưu truyền.”
Tiếp theo, ca dao trữ tình còn nói về tình yêu nam nữ. Nó phản ánh mọi
biểu hiện của tình cảm lứa đôi trong tất cả những chặng đường của nó: giai
đoạn gặp gỡ, ướm hỏi nhau, giai đoạn gắn bó trao gửi những lời thề
nguyền, giai đoạn hạnh phúc với những niềm ước mơ, những nỗi nhớ
nhung hoặc nỗi đau khổ với những lời than thở, oán trách ...
“Hôm qua tát nước đầu đình,
3
Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen.
Em được thì cho anh xin,
Hay là em để làm tin trong nhà.
…
Giúp em qua tám tiền cheo,
Quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau”
Một bộ phận bài ca này còn mang thêm ý nghĩa xã hội, những bài ca
nói đến sự trắc trở trong tình yêu đôi lứa:
“Hai ta là bạn thong dong,
Như đôi đũa ngọc nằm trong mâm vàng.
Bởi chưng thầy mẹ nói ngang,
Cho nên đũa ngọc, mâm vàng xa nhau.”
Ca dao trữ tình thể hiện rất phong phú những biểu hiện của tình cảm
Miệng ăn măng trúc, măng mai,
Những giang cùng nứa biết ai bạn cùng ?”
Ca dao còn chứa đựng tiếng cười trào phúng. Các hiện tượng trái tự
nhiên, không bình thường có thể trở thành đối tượng của nó.
5
“Chồng còng mà lấy vợ còng,
Nằm phản thì chật, nằm nong thì vừa.”
Bằng tiếng cười trào phúng, nhân dân phê phán, đả kích giai cấp thống
trị, những hiện tượng không bình thường, phi lý, những tệ trạng ... thể hiện
khát vọng của nhân dân về một cuộc sống tốt đẹp hơn. Những bài thách
cưới có tính chất trào phúng phê phán những tục lệ thách cưới, nộp cheo, là
những hủ tục trong chế độ hôn nhân xưa:
“Em về thưa với mẹ cha,
Bắt lợn đi cưới bắt gà đi cheo.
Ðầu lợn lớn hơn đầu mèo,
Làng ăn không hết làng treo cột đình.
Ông quan đánh trống thình thình,
Quan viên mũ áo ra đình ăn cheo.”
1.1.3. Nghệ thuật ca dao
Ca dao sử dụng nhiều thể thơ khác nhau song phổ biến nhất là thể lục
bát gồm câu sáu, câu tám. Sở dĩ dùng nhiều vì thể thơ lục bát diễn tả được
nhiều tư tưởng tình cảm của nhân dân. Ngoài ra ca dao cũng sử dụng hợp
thể là thể thơ gồm từ bốn, năm chữ thường kết hợp với lục bát biến thể.
“Anh nói với em,
Như dao chém xuống đá,
Như nhựa chém xuống đất,
Như mật rót vào tay.
định.
“Cầu Tràng Tiền sáu vài mười hai nhịp,
Em qua không kịp tội lắm anh ơi,
Bấy lâu ni mang tiếng chịu lời,
Dẫu xa nhau chăng nữa cũng tại trời mà xa”
Thứ năm, ta xét tới biện pháp tu từ. So sánh, ẩn dụ, nhân hóa, chơi chữ,
ngoa dụ ... là những biện pháp nghệ thuật rất tiêu biểu trong ca dao.
“Thân em như hạt mưa rào,
Hạt rơi xuống giếng hạt vào vườn hoa.”
“Thuyền ơi có nhớ bến chăng,
Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền.”
1.2. Nhìn chung ca dao Nam Bộ
1.2.1. Vài nét về mảnh đất Nam Bộ
1.2.1.1. Thiên nhiên
Nam Bộ là vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa, có một chế độ nhiệt độ
cao quanh năm ít biến động. Có hai mùa: mùa mưa và mùa nắng. Sự phân
hóa các mùa khí hậu thể hiện sự tương phản của hai mùa gió. Mùa mưa
trùng với gió mùa Tây Nam, mùa khô trùng với gió mùa Đông Bắc. Thời
tiết nói chung rất thuận lợi cho việc sản xuất, ít có diễn biến đột ngột thất
thường.
Các sông lớn và hệthống sông rạch chằng chịt tạo cho vùng có một
nguồn nước dồi dào quanh năm phục vụsản xuất nông nghiệp. Nó cung cấp
cho một nguồn thủy sản phong phú. Với hệ thống sông dày đặc, Nam Bộ
8
thuận lợi trong việc phát triển giao thông đường thủy nhất là khi hệthống
giao thông đường bộchưa được mở mang.
Thảm thực vật ở Nam Bộ rất phong phú và đa dạng, gồm có quần thể
thực vật trên các bãi lầy ven biển (với các cây mắm trắng, bần đắng, vẹt,
sẽ khó có thể có những sinh hoạt văn hóa dựa trên chữ viết, sân khấu... mà
sinh hoạt truyền miệng, phóng khoáng hơn, dễ dãi hơn được phát tirển
mạnh. Họ không có khả năng ngâm vịnh, sáng tác. Tinh thần văn hóa ở
phần đất này có những độc đáo, tự nhiên, bình dị và đôi khi đi đến sỗ sàng,
trong khi tinh thần văn hóa ở phần đất thuộc Đàng Ngoài (thuộc chúa
Trịnh) đã đạt đến mức tinh luyện, khuôn mẫu, nghiêm túc.
1.2.2. Đặc điểm ca dao Nam Bộ
1.2.2.1. Nội dung ca dao Nam Bộ
Là một bộ phận ca dao cả nước, ca dao Nam Bộ phản ánh cuộc sống,
sinh hoạt và cả tập quán của nhân dân Nam Bộ trong hàng trăm năm. Nó là
những suy nghĩ, mơ ước về tình bạn, tình yêu, tình vợ chồng, là nhận thức
về thế giới xung quanh như cỏ cây, sông núi, đất trời.... Chính yếu tố bình
dị, nghĩ sao nói vậy, mộc mạc, dễ hiểu đã làm cho ca dao miền Nam có sức
sống rất mạnh, được quần chúng chấp nhận dễ dàng và do đó làm ảnh
hưởng đến sự sinh hoạt và tư tưởng của quần chúng.
Đầu tiên, ca dao Nam Bộ phản ánh sinh động cảnh quan thiên nhiên.
Nó là tấm gương phản ánh chân thật, sinh động nhất về vùng đất và con
người nơi đây.
“ Quê em ba dãy cù lao
Có dừa ăn trái, có cau ăn trầu”.
“ Bến Tre ba đảo dừa xanh
Quê hương Đồng Khởi mát lành phù sa”.
10
Thiên nhiên ấy còn là thiên nhiên mang đầy nét vẻ hoang sơ. Nét
hoang sơ của thiên nhiên Nam Bộ buổi đầu khai phá thể hiện ở môi trường
khắc nghiệt “rừng thiêng nước độc”::
“Rừng thiêng nước độc thú bầy
Con le le mấy thuở chết chìm
Người bạc tình bạc nghĩa kiếm tìm làm chi.
Lối sống ngang tàng là hệ quả của tinh thần nghĩa khí hào hiệp trong
con người Nam Bộ. Những con người tứ chiếng từ những huyện phủ khác
nhau về vùng đất mới mang trong mình nhiều chất phản kháng, ít chịu sự
ràng buộc của lễ giáo, không bao giờ bị khuất phục. Họ chấp nhận mọi
hiểm nguy, mọi thử thách (nắng mai - mưa chiều) thậm chí trong những
hoàn cảnh nhất định, họ đã phải liều:
Ra đi là sự đánh liều,
Nắng mai không biết, mưa chiều không hay.
Hình ảnh con người Nam Bộ còn thể hiện ở tình yêu nam nữ. Ta ít
gặp cái e dè, ý nhị như ở Bắc. Những người con gái, con trai Nam Bộ bạo
dạn hơn rất nhiều trong lời tỏ tình, đùa vui:
“ Hủ qua (khổ qua) xanh, hủ qua trắng
Hủ qua mắc nắng hủ qua đèo
Thương em, thì anh làm giấy giao kèo
Lăn tay điểm chỉ mới thiệt con mèo của em”
“Thấy em gò má hồng hồng
Phải chi em đừng mắc cỡ, anh bồng anh hun”
Họ là những người lao động chân chất, nên cũng bày tỏ tình cảm với nhau
bằng thứ khẩu ngữ thường ngày không chưng diện, màu mè, tuy vậy, cái
tình trong đó cũng mãnh liệt và sâu sắc. Đây là lời tâm sự của một anh
chàng đêm hôm khuya khoắt lặn lội đi thăm người yêu:
12
“Thương em nên mới đi đêm
Té xuống bờ ruộng đất mềm hổng đau
May đất mềm nên mới hổng đau
Phải mà đất cứng ắt xa nhau phen này”
đây là môi trường họ giao tiếp nhiều hơn giao tiếp với xã hội.
TIỂU KẾT
Trong chương 1, chúng ta đi tìm hiểu chung về ca dao cả nước, đặc
biệt ca dao Nam Bộ. Ta nhận thấy, bằng các biện pháp nghệ thuật giản dị
mà tinh tế, ca dao đại đa số phản ánh đời sống tình cảm nhân dân. Đầu tiên
là tiếng hát về tình yêu đất nước. Những thắng cảnh thiên nhiên mọi miền
đất nước, những công trình văn hóa từ bao đời ... được khắc họa như một
bức tranh rộng lớn trong ca dao, thể hiện sự nhận thức về cương vực tổ
quốc, lòng yêu mến, tự hào về đất nước, con người. Sau đó, ca dao còn
phản ánh mọi biểu hiện của tình cảm lứa đôi trong tất cả những chặng
đường của nó: giai đoạn gặp gỡ, ướm hỏi nhau, giai đoạn gắn bó trao gửi
những lời thề nguyền, giai đoạn hạnh phúc với những niềm ước mơ, những
nỗi nhớ.
Cùng trong dòng chảy của ca dao, tuy vậy, ca dao Nam Bộ mang một
số nét riêng biệt. Vì sinh thành trong thời kì, người dân Nam Bộ còn đang
phải khai phá thiên nhiên, điều kiện học hành ít nên lời ca không mang tình
bác học khuôn mẫu. Người dân có gì nói nấy, thậm chí có chỗ còn bả lả,
sống sượng mà ngoài Bắc chưa bao giờ gặp. Song trên hết, ta vẫn thấy lời
ca của họ cất lên những suy nghĩ, mơ ước về tình bạn, tình yêu, tình vợ
chồng, là nhận thức về thế giới xung quanh như cỏ cây, sông núi, đất trời....
14
Về nghệ thuật, ca dao Nam Bộ cũng phóng túng như nội dung. Dù có
ý thức sử dụng thể thơ truyền thống của dân tộc nhưng do nhu cầu giãi bày
nỗi lòng nên người lao động không rập khuôn theo những quy tắc. Xu
hướng mà ca dao Nam Bộ chiếm lĩnh là các biến thể của lục bát và song
thất lục bát. Ngôn ngữ ca dao Nam Bộ là ngôn ngữ đời thường, đậm nét
phương ngữ. Người bình dân dùng nhiều khẩu ngữ, kiểu nói tách tư, dùng
tre nối nhịp đôi bờ, những khi buông câu, thả lưới, những lúc chở hàng
bông ra chợ... họ cũng gắn chặt cuộc đời mình với dòng nước bao la. Dòng
sông dọc ngang chằng chịt như những mạch máu lớn nhỏ trong “cơ thể
Nam Bộ”. Người Nam Bộ ví sông ngòi như máu nuôi cơ thể mình.
Cho nên từ lâu hình ảnh chiếc ghe, con đò, dòng sông, chiếc cầu... là
hình ảnh hết sức quen thuộc với người dân nơi đây. Không phải ngẫu nhiên
mà hình ảnh thuyền (ghe, tàu, đò, xuồng) xuất hiện với tần số dày đặc trong
ca dao Nam bộ. Sự xuất hiện của chúng bắt nguồn từ thực tế ứng xử của
người Việt Nam bộ với môi trường sông nước. Nói khác đi, đó là chứng
tích của một nền văn minh sông nước trong ca dao, bởi vì con thuyền, chiếc
ghe, chiếc xuồng… từ bao đời nay đã gắn chặt với đời sống miền sông
nước, chúng đi vào tiềm thức con người và xuất hiện trở lại trong ca dao.
Tương tự như vậy, hình ảnh cá, câu-cá trong ca dao Nam bộ cũng là biểu
hiện của nền văn minh kinh rạch. Ngay cả hình ảnh phổ biến trong lời của
những điệu hò chèo ghe nói chung vẫn là cảnh trăng sao, mây nước, con
thuyền, dòng sông, mái chèo,…:
16
-Bìm bịp kêu nước lớn anh ơi
Buôn bán không lời chèo chống mỏi mê.
-Bớ chiếc ghe sau chèo mau anh đợi
Kẻo khúc sông này bờ bụi tối tăm.
-Sông bến tre nhiều hang cá ngát.
Đường kho bạc lắm cát dễ đi.
-Tây ninh có núi điện bà
Có sông Vàm Cỏ có toà Cao Sơn.
-Rạch gầm soài mút tăm tăm
Xê xuống chút nữa tới vàm Mỹ Tho…
Nếu so sánh với Bắc Bộ ta sẽ thấy rõ điểm chung và sự khác biệt. Ca
Hiện nay chiếc ghe vẫn còn là phương tiện lưu thông trong hệ thống
sông ngòi chằng chịt cho đa số dân Nam Bộ. Chiếc ghe không những chỉ
là một dụng cụ cần thiết về giao thông, mà còn là nơi cư trú cho một số dân
Đồng Nai - Cửu Long. Do đó hình ảnh sông nước và chiếc ghe (chèo xuôi
theo, hay ngược dòng nước) và hệ thống các sông rạch lớn nhỏ, với nước
ròng, nước lớn, đã đi vào ca dao của miền Nam.
Chiếc ghe đầu tiên là hình ảnh gắn liền với vẻ đẹp mênh mang vời vợi
của một vùng sông nước. Nói tới vẻ đẹp của thiên nhiên Nam Bộ phải nói
tới vẻ đẹp của những ghe thuyền lướt trên dòng sông.
Chiếc ghe cũng là hình ảnh của cuộc sống buôn bán khá vất vả trên
sông nước. Đôi khi thuyền có chức năng như một ngôi nhà di động, chứa
bao nhiêu nông sản và con người. Cứ thế, chiếc ghe vào từng con kinh, con
rạch, hết nơi này đến nơi khác. Có lúc những chiếc ghe họp thành một chợ
nổi, sầm uất, náo nhiệt mà ai đã tới một lần không thể quên.
“ Dời chưn bước xuống ghe buôn,
Sóng bao nhiêu gợn dạ buồn bấy nhiêu.”
18
Bước xuống ghe buồn cũng đồng nghĩa với việc xa nhà, phải đối mặt
với cuộc sống cô đơn, một mình mình đối diện với sông nước đêm đen.
Ngoài ra trong chuyến đi này, không biết buôn bán ra sao, lời lãi thế nào.
Nhưng trên hết là nỗi nhớ nhà da diết, nhớ vợ, nhớ con... còn buồn nào hơn
nỗi buồn chia ly. Ở đây tác giả so sánh nỗi lòng của mình với sóng nước.
Sóng có bao nhiêu gợn thì lòng mình cũng buồn bấy nhiêu, nhưng gợn
sóng là vô vàn, không sao đếm được. Cho nên tấm lòng của họ nhớ nhà,
đau đáu chờ mong, buồn man mác cũng bấy nhiêu, không sao nói hết được.
Rồi chẳng mấy chốc, chiếc ghe thành biểu tượng cho con người. Con
người cũng sống trôi nổi cùng chiếc ghe. Ghe vất vả hay chính con người
vất vả. Ghe trông ngóng hay chính con người cũng đang trong trạng thái
Qua khỏi chỗ này lùm bụi tối tăm.”
“Bớ chiếc ghe sau chèo mau anh đợi,
Kẻo giông khói đèn bờ bụi tối tăm”
Giữa một đêm trăng thanh gió mát, chàng trai Nam Bộ bắt gặp chiếc
ghe của cô gái chở hàng bông ra chợ đang chèo tới ở phía sau anh ta liền
buông mấy lời chọc ghẹo. Song đó không phải lời bỡn cợt mà là cách thể
hiện sự quan tâm lo lắng của chàng trai với cô gái. Giữa trời nước bao la
mà chỉ có một mình cô gái chèo ghe chở hàng ra chợ. Anh lo lắng cho cô
gái bảo cô chèo mau lên nếu không giông đến thổi tắt đèn mà cô thì có môt
mình biết phải làm sao. Cô gái cũng cảm thấy ấm lòng khi giữa đêm khuya
thanh vắng mà lại có người quan tâm đến mình, nên cô cũng hò đáp lại:
“Nhứt nhựt tiểu thân chứ nhà của anh đâu mà em không biết,
Chứ gặp anh giữa đường, cái quyết chí mà thương anh.”
Chiếc ghe, chiếc xuồng, dòng sông cũng là những hình ảnh được người
dân Nam bộ gởi gắm vào đó những nỗi niềm tâm sự, những cảm nhận của
cuộc đời, than thân trách phận, nói lên cuộc sống nghèo khó của mình:
20
“Bìm bịp kêu nước lớn anh ơi !
Buôn bán không lời chèo chống mỏi mê.”
“ Không xuồng nên phải lội sông,
Đói lòng nên phải ăn ròng bè môn”.
Câu đầu tiên là lời than, than cho việc buôn bán ế ẩm. Sự ngao ngán của
cô gái đến vì không có người mua nên phải chèo mãi, chèo đến mỏi mêt mà
vẫn không bán được hàng. Bìm bịp là loài chim rất quen thuộc ởNam bộ,
hễ nó kêu là nước lớn, cho nên tiếng bìm bịp kêu cũng là lời dự báo cho
con nước sắp lên. Lời than của cô gái ở đây phải chăng ngụ ý trong từng
tiếng kêu của con bìm bịp. Bìm bịp kêu nước lớn rồi nước ròng, rồi bìm bịp
kêu : nước lớn... cứ thế hết ngày mà bán buôn chẳng được gì.
mình:
“Ví dầu cầu ván đóng đinh,
Cầu tre lắt lẻo gập ghình khó đi.
Ví dầu mẹ chẳng có chi,
Chỉ con với mẹ chẳng khi nào mòn.”
Cầu tre, cầu ván là hai hình ảnh rất quen thuộc đối với người
dân Nam bộ. Nó thường được bắc qua những con kinh, con rạch, sông nhỏ.
Ở đây, người phụ nữ mở đầu bằng một hình ảnh rất quen thuộc này như là
một lời tâm sự của mình đối với con về tình mẫu tử thiêng liêng. Có thể
người phụ nữ này đã bị chồng phụ bạc nên cô rất đau buồn, coi như là mất
tất cả, cô chẳng còn thiết sống nữa. nhưng may còn được đứa con, nó là
nguồn an ủi vô giá đối với cô, níu chân cô lại trên cõi đời này. Vì vậy, mọi
tình yêu cô đều dành cho nó, xem như là nguồn an ủi duy nhất trong cuôc
đời mình.
“Ví dầu cầu ván đóng đinh
Cầu tre lắt lẻo gập ghình khó đi
22
- Cầu cao ván yếu,
Con ngựa nhỏ xíu nó kiệu tứ linh
Em đi đâu tăm tối một mình
Hay là em có tư tình với ai?”
Đã từ lâu, cây cầu là sợi dây tình cảm xóa đi sự xa cách giữa nhà
"bậu", nhà "qua", giữa "mình" và "ta". Và nơi đây đã sản sinh biết bao câu
ca dao, dân ca mang hình bóng cây cầu theo các điệu hò Cần Thơ, Đồng
Tháp, Bạc Liêu, Kiên Giang, Cà Mau.” [] Hãy nghe lời một người mẹ ru
con:
Ví dầu cầu ván đóng đinh,
Cầu tre lắc lẻo gập ghềnh khó đi.
Rủi em có mạnh hệ, lỡ làng duyên anh...
(hò Cần Thơ)
Cầu tre đã yếu, đã khó đi còn những cầu ván mỏng, ván yếu, ván oằn thì
sao? Ta hãy lắng nghe ước mơ của một cô gái:
Anh về xẻ ván cho dày,
Bắc cầu sông cái cho thầy mẹ sang.
Các cô gái đôi khi mượn cớ cầu chênh vênh để được người yêu dắt
qua:Cầu cao ván yếu gió rung,
Em không đi được cậy cùng có anh.
(hò Trà Vinh)
Một chàng trai bộc lộ nỗi ngờ vực đối với bạn tình:
Cầu cao ván yếu, con ngựa nhỏ xíu, nó chạy tứ linh.
Em đi đâu tăm tối một mình,
Hay là em có tư tình với ai?
(hò Kiên Giang)
24
Chàng trai trong điệu hò Cần Thơ lại liên tưởng giữa "miếng ván con
vòng" và tính "ham mê cờ bạc" của em để có một lời khuyên:
Bước lên cầu ván mỏng, miếng ván cong vòng,
Thấy em mê cờ bạc, trong lòng hết thương.
Nhưng nếu em là người anh ưng, anh cất công tìm kiếm, thì cầu gì anh
cũng chẳng ngại:
Xa nhau anh muốn lại gần,
Cầu không tay vịn, anh lần anh qua.
(hò Bạc Liêu)
Cho dù "cầu ván đóng đinh" thật vững, nhưng nỗi đau, nỗi bực dọc
của chàng trai nghèo xa xứ không tiền cưới vợ cứ ám ảnh: