Tiểu luận môn phương pháp nghiên cứu văn hóa học tín ngưỡng thờ trời của người việt tây nam bộ - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA: VĂN HÓA HỌC


HỌC VIÊN: NGUYỄN VĂN CƯNG-VHHK13A

TIỂU LUẬN KẾT THÚC MÔN: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VĂN HÓA HỌC

TÍN NGƯỠNG THỜ TRỜI CỦA NGƯỜI
VIỆT TÂY NAM BỘ


TP HCM 06-2013

2


ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA: VĂN HÓA HỌC


HỌC VIÊN: NGUYỄN VĂN CƯNG-VHHK13A
Đường link tham gia diễn đàn:
http://vanhoahoc.vn/diendan/viewtopic.php?f=57&t=5856
Nick: mrcungnguyen

TÍN NGƯỠNG THỜ TRỜI CỦA NGƯỜI
VIỆT TÂY NAM BỘ

1.2.Trời trong văn hóa Thế Giới và Việt Nam................15
1.2.1.Tín ngưỡng thờ Trời trong văn hóa thế giới....15
1.2.2.Tín ngưỡng thờ Trời trong văn hóa Việt Nam.16
1.3.Tín ngưỡng thờ Trời Tây Nam Bộ trong Hệ Tọa Độ
Văn Hóa ......................................................................16
1.3.1.Không gian văn hóa........................................16
1.3.2.Chủ thể văn hóa..............................................19
1.3.3.Thời gian văn hóa............................................24
Tiểu kết chương 1..............................................24
CHƯƠNG II....................................................................25
TÍN NGƯỠNG THỜ TRỜI CỦA NGƯỜI VIỆT TÂY NAM
BỘ NHÌN TỪ VĂN HÓA NHẬN THỨC VÀ ỨNG XỬ.....25
2.1. Tín ngưỡng thờ Trời của người Việt Tây Nam Bộ
nhìn từ văn hóa nhận thức.............................................25
2.1.1. Trời trong truyền thuyết..................................25
2.1.2. Trời trong các tôn giáo...................................27
2.1.3. Trời trong tâm thức dân gian..........................28
6


2.2. Tín ngưỡng Trời của người Việt Tây Nam Bộ nhìn từ
văn hóa ứng xử..............................................................29
2.2.1. Trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên. .29
2.2.1.1 Tục sùng bái tự nhiên...................................29
2.2.1.2 Thích ứng với tự nhiên.................................30
2.2.2. Trong quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa
31
2.2.2.1. Giao lưu văn hóa Việt-Hoa..........................31
2.2.2.2. Giao lưu văn hóa Việt-Chăm-Khmer...........32
Tiểu kết chương 2....................................................33

Kong-

ảnh:

http://baoquangngai.com.vn...........................................18
Hình 1.3-3: Phân bố gió mùa hàng năm.........................19
Hình 1.3-4: (1) Người Việt;(2) Người Hoa;(3) Người
Khmer;(4) Người Chăm..................................................23
Hình

0-5:

Ngọc

Hoàng

Thượng

Đế-nguồn:

http://vi.wikipedia.org......................................................26
Hình

0-6:

Cửu

Thiên

Quyền


9


Bộ với các vùng khác trong nước cũng như các quốc gia
trong khu vực.
3. Lịch sử vấn đề
Hiện nay có rất nhiều công trình đã nghiên cứu về
tín ngưỡng cũng như tập tục của vùng đất Tây Nam Bộ
này như : Sơn Nam 1970: Lịch sử khẩn hoang vùng đất
Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long- Nét sinh hoạt xưaVăn minh miệt vườn, Huỳnh Lứa 1987: Lịch sử khai phá
vùng đất Nam Bộ, Lương Ninh 2005: Vương Quốc Phù
Nam: lịch sử và văn hóa, Nguyễn Mạnh Cương 2008:
Tôn giáo, tín ngưỡng của cư dân vùng Đồng Bằng Sông
Cửu Long, Huỳnh Quốc Thắng 2003: Lễ hội dân gian của
người Việt ở Nam Bộ, Trần Ngọc Thêm(chủ biên) 2013:
Văn Hóa Người Việt vùng Tây Nam Bộ. Đây là công trình
có sự đầu tư công phu và làm tư liệu tham khảo quý báo
cho ai muốn nghiên cứu về Tây Nam Bộ, Phan Thị Yến
Tuyết 1999:Tín ngưỡng cúng việc lề, một tâm thức về cội
nguồn của cư dân Việt khẩn hoang tại Nam Bộ…
Tín ngưỡng thờ Trời thuộc tín ngưỡng sùng bái tự
nhiên, đề tài này có nhiều học giả tiếp cận: một số bài
viết của mục sư Nguyễn Văn Huệ:Trời trong tín ngưỡng
10


Việt Nam, Phan An 2012: Người việt Nam Bộ [Bàn thờ
thiên của người Việt ở Tây Nam Bộ:tr134]…Tuy nhiên
mới chỉ là những chuyên đề trên tạp chí chưa được


Phương pháp định vị Hệ Tọa Độ K-C-T

-

Phương pháp điền dã.

-

Phương pháp phân tích

7. Bố cục luận văn
Gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở Lý Luận và Thực Tiễn
Chương 2: Tín ngưỡng thờ Trời ở Tây Nam Bộ
nhìn từ văn hóa Nhận Thức và văn hóa ứng Xử
Chương 3: Tín ngưỡng thờ Trời ở Tây Nam Bộ
nhìn từ Văn Hóa Tổ Chức

12


CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

CHƯƠNG I.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Khái niệm về Trời và tín ngưỡng thờ Trời
1.1.1. Khái niệm tín ngưỡng
Cho đến nay có rất nhiều khái niệm và định nghĩa tín ngưỡng khác
nhau, một số người đồng nhất khái niệm tín ngưỡng và tôn giáo với nhau.

Theo chúng tôi “Tín ngưỡng là niềm tin sự tôn sùng vào một hiện
tượng tự nhiên vào một đấng thần linh nào đó nhằm tìm sự bình yên, sự
hạnh phúc trong tâm hồn của mỗi người”.
1.1.2. Khái niệm Trời
Sùng bái tín ngưỡng tự nhiên từ xưa cho đến nay ở quốc gia nào cũng
có, vì bởi lẽ con người vốn thuộc về tự nhiên. Với niềm tin sự hiện diện của
Trời và Đất, con người tin ông Trời là đấng cao cả, vĩ đại, không có một vị
thần nào sánh được với Ngài. Từ điển: vi.wiktionary.org “Trời” nghĩa là
khoảng không gian nhìn thấy như hình vòm úp trên mặt đất. Trong Hán-Việt
Trời là Thiên

. Chữ Thiên theo cách giải thích của linh mục Wieger 1 gồm

hai phần : nét nhất là một, nét đại là lớn, ngụ ý chỉ Thiên là một đấng vĩ đại,
1

. Leon Wieger(1856-1933) là một nhà Hán học người đã dành phần lớn cuộc đời trưởng thành của

mình ở Trung Quốc, nơi ông qua đời. Ông là tác giả của nhiều công trình biên soạn và phần mở
rộng của Trung Quốc, đầu tiên để nâng cao kiến thức về truyền giáo tại Trung Quốc vào các nước
nhiệm vụ của họ: Lịch sử của niềm tin tôn giáo và ý kiến triết học Trung Quốc, Trung Quốc thông
qua lứa tuổi, và là cha đẻ của hệ thống Học, văn bản lịch sử, văn bản triết học, ký tự Trung Quốc,
Văn hóa dân gian Trung Quốc hiện đại …

14


không bất cứ ai được ví như ngài vượt trên tất cả mọi loài. Chữ Thiên theo
nguyên tự, nét(-) chỉ không trung bao la và hình chữ



nhiên và xã hội, là đại quân của bách thần, là ông tổ của mọi vật. [Đàm Gia
Kiện(chủ biên) 1993: Lịch sử văn hóa Trung Quốc: 460 tr].
1.2.2. Tín ngưỡng thờ Trời trong văn hóa Việt Nam
Trong đời sống thường ngày của người Việt từ Trời được sử dụng rất
thông dụng. Người Việt gọi Trời bằng Ông Trời để thể hiện sự tôn kính một
Đấng Thần Linh. Mặc dù Trời là vị thần không nhìn thấy, không biết nhưng
vẫn hiện hữu cùng người Việt qua ngôn ngữ phổ thông của người bình dân
từ đời này sang đời khác, trong ca dao tục ngữ: “ Trời nắng tốt dưa,Trời
mưa tốt lúa” hay “Trời sinh Trời dưỡng, Trời sinh voi, Trời sinh cỏ”3.
Trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam, hai dân tộc Tày-Nùng ở phiá
Bắc Việt Nam, “ thế giới vô hình được phân thành 3 tầng tương ứng với 3
Mường: Mường Trời, Mường Đất và Mường Nước, tương ứng với mỗi tầng
lại có dạng thần linh ma quỷ riêng. Mường Trời là nơi ngự trị của các thần
linh tối cao quyết định sự sinh tồn và số phận của mọi người. Đồng thời,
Mường Trời cũng là nơi trú ngụ của con người sau khi chết, đối lập với
Mường Đất nơi hiện hữu của thể xác con người. Quan niệm có một thế giới
Mường Trời là quan niệm từ xa xưa liên quan đến tục thờ Trời của người
Tày- Nùng”. [Nguyễn Thị Yên 2009: 52].
1.3.

Tín ngưỡng thờ Trời Tây Nam Bộ trong Hệ Tọa Độ Văn Hóa

1.3.1. Không gian văn hóa
Tây Nam Bộ còn gọi là vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long hoặc theo
cách gọi của người dân miền Nam Việt Nam ngắn gọn là Miền Tây, có 12
tỉnh và 1 thành phố trực thuộc trung ương là: Long An, Tiền Giang, Bến Tre,
Đồng Tháp, An Giang, Trà Vinh, Vĩnh Long, Hậu Giang, Sóc Trăng, Kiên
Giang, Bạc Liêu, Cà Mau và Thành phố trung ương Cần Thơ. Tổng diện
3

phân lưu của sông Mê Kông chảy trên lãnh thổ của Việt Nam. Sông Mê
Kông là một trong những con sông lớn nhất trên thế giới, bắt nguồn từ
Trung Quốc, chảy qua Lào, Myanma, Thái Lan, Campuchia và Việt
Nam( xem Hình1.3- 2).
Sông Mekong ở Việt Nam chia thành 2 nhánh: sông Tiền và sông Hậu
cả hai đều chảy vào khu vực đồng bằng châu thổ rộng lớn ở Nam Bộ Việt
Nam, dài chừng 220–250 km mỗi sông và sau đó đỗ ra Biển Đông. Tại Việt
Nam, sông Mê Kông còn có tên gọi là sông Lớn, Sông Cửu Long.
Ngoài hệ thống sông Mê Kông còn có một số hệ thống sông khác:
Sông Vàm Cỏ ( Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ

Hình 1.3-2: Hệ Thống Sông Mê Kong-

Tây), Sông Mỹ Tranh, Sông Ông Đốc,

ảnh: http://baoquangngai.com.vn

Sông Gành Hào… hay hệ thống kênh đào:
Kinh Vĩnh Tế, Kinh Bảo Định… và gần 10.000 kênh rạch tự nhiên hoặc
nhân tạo khác dùng để tháu chua rửa phèn cho khu vực này.
Tây Nam Bộ có khí hậu nhiệt đới gió mùa với tính chất cận xích đạo
thể hiện khá rõ rệt. Nhiệt độ trung bình năm từ 24-27 0c, có 2 mùa chính:
mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa từ tập trung từ tháng 5 đến tháng 11,
lượng mưa chiếm khoảng 99% tổng lượng mưa cả năm. Mùa khô kéo dài
từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Lượng mưa trung bình năm lớn nhất ở
khu vực Tây Nam Cà Mau là 2000mm, nhưng cá biệt ở Gò Công lại chỉ có
1300mm. [Lê Thông(chủ biên) 2007: 493].

18




được chúa Nguyễn cho phép đến định cư và sinh sống ở Nam Bộ(Đông
Nam Bộ và Tây Nam Bộ). Trong các tài liệu thư tịch, thường nhắc đến cuộc
định cư của nhóm người Hoa do Mạc Cửu thống lĩnh đến khai khẩn vùng
Hà Tiên và các địa phương kế cận. Một nhóm người Hoa khác do sự
hướng dẫn của Dương Ngạn Địch đến định cư ở vùng đất Mỹ Tho, Cần
Thơ ngày nay. Những di dân Trung Hoa đến Tây Nam Bộ phần lớn là nông
dân, thợ thủ công, một số đáng kể là các binh lính và quan lại cùng gia
đình. Họ rời bỏ đất nước Trung Hoa vì nhiều lý do, nhưng chủ yếu là do
nghèo đói, loạn lạc, dịch bệnh... đi tìm đất mưu sinh. Một số các quan lại và
và binh lính Trung Hoa phải lưu vong vì họ không chịu thần phục nhà Thanh
vừa thay thế nhà Minh thống trị Trung Hoa. Những người này hy vọng vùng
đất Nam Bộ là nơi họ nương náu chờ ngày ''phản Thanh phục Minh”.
Hoạt động kinh tế của người Hoa tập trung chủ yếu trên lĩnh vực sản
xuất tiểu thủ công, thương nghiệp và thương mại dịch vụ. Ở nhiều vùng
thuộc Đồng Bằng Sông Cửu Long, người Hoa còn sản xuất nông nghiệp,
trồng lúa và các loại hoa màu đặc sản. 7. Theo kết quả toàn bộ Tổng điều tra
Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009 ở Việt Nam có hơn 823.071 người
Hoa đang sinh sống, trong đó Tây Nam Bộ có khoảng 177.178 người,
chiếm 21,5% tổng số người Hoa ở việt nam và 1,03 % tổng dân số ở Tây
Nam Bộ.8
Người Khmer được xem là những lưu dân sớm nhất đến vùng đất
này, họ là những hậu duệ của người Chân Lạp, định cư trước người Việt
vài 3 thế kỷ. Ban đầu, nước Chân Lạp là một thuộc quốc của Phù Nam, sau
dần lớn mạnh, không những cởi bỏ được ách thống trị và còn bắt Phù Nam
thần phục lại mình. Sự kiện này xảy ra vào khoảng nửa thế kỷ 7 (sau năm
7

.Nguồn:http://vhttdlkv3.gov.vn/Ve-dep-phuong-Nam/Dong-bang-song-Cuu-Long-Vung-dat-van-

Nam năm 2008 là khoảng hơn 145.000 người, xếp thứ 14 về số lượng
trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam10. Theo Tổng điều tra dân số và nhà
ở 2009 là 161.729 người. Trong đó Tây Nam Bộ có 15.823 người chiếm
9,8% tổng số Chăm ở Việt Nam11.
9

. Nguồn: ://vi.wikipedia.org/wiki/Người_Khmer_(Việt_Nam)

10

11

. Nguồn: http://vi.wikipedia.org/wiki/Người_Chăm
. Tổng điều tra dân số và nhà ở 2009:134-146

21


Người Chăm vốn sinh sống ở Duyên Hải miền Trung Việt Nam từ rất
lâu đời, đã từng kiến tạo nên một nền văn hoá rực rỡ với ảnh hưởng sâu
sắc của văn hoá Ấn Ðộ. Chăm là nhóm dân cư gốc Nam Đảo (malayopolynésien) sinh sống trên những vùng đất thấp dọc duyên hải, Chămpa là
toàn thể các nhóm dân cư thuộc vương quốc Chiêm Thành cũ gồm cả
người Chăm đồng bằng lẫn người Thượng (gốc Nam Đảo hoặc Môn
Khmer), sinh sống rải rác trên các vùng rừng núi phía Tây dãy Trường Sơn,
hay Tây Nguyên. Người Chăm Tây Nam Bộ tập trung chủ yếu ở An Giang
do biến cố lịch sử thế kỷ thứ 14 – 16 họ di dân qua Cam Pu Chia. Sau đó
xuôi theo dòng Mê Kông vào Tây Nam Bộ ở vào khoảng thế kỉ 18. Bộ phận
cư trú ở một số địa phương thuộc các tỉnh An Giang, Tây Ninh, Ðồng Nai và
thành phố Hồ Chí Minh theo đạo Islam (Hồi giáo) mới.12


thong; (2) http://ngoisao.net/tin-tuc/showbiz-viet/2011/11/thi-sinh-hoa-hau-cac-dan-toc-khoeduong-cong-1826; (3) http://langnghenhiepanhlaixa.com; (4) http://vietbao.vn.

23


1.3.3. Thời gian văn hóa
Hành trình mở cõi về phía Nam của người Việt tính từ thời Lý, trải
qua các triều đại phong kiến lãnh thổ Đại Việt được mở rộng dần cho tới
năm 1635, chúa Nguyễn Phúc Nguyên dời thủ phủ vào Kim Long, bên bờ
sông Hương và Phú Xuân - Huế ra đời đánh dấu mốc quan trọng trong
hành trình mở cõi của dân tộc Việt Nam.
Theo Trần Ngọc Thêm(Chủ Biên) 2013: [“Văn Hóa Người Việt Vùng
Tây Nam Bộ: 93-94]”, chia thời gian văn hóa Tây Nam Bộ ra làm 3 giai
đoạn:
Giai đoạn 1: giai đoạn hình thành văn hóa(khoảng từ thế kỷ XVII đến
giữa thế kỷ XIX. Đây là giai đoạn từ khu vực miền Trung và miền Bắc đến
khai phá, họ trãi qua vô vàn khó khăn và hiểm trở để thích nghi với vùng đất
Tây Nam Bộ .
Giai đoạn 2: giai đoạn phát triển văn hóa(khoảng từ giữa thế kỷ XIX
đến thập niên 1970 của thế kỷ XX). Giai đoạn này khó khăn đã dần vượt
qua và người việt đã thích nghi và bén rễ ở vùng đất mới, họ tìm được niềm
vui, sự hứng khởi trong cuộc sống.
Giai đoạn 3: giai đoạn hội nhập toàn diện văn hóa(khoảng từ giữa
thập niên 1970 của thế kỷ XX đến nay). Giai đoạn này đã vào ổn định và
dần khẳng định bản sắc văn hóa riêng của khu vực.
Tiểu kết chương 1
Tín ngưỡng dân gian nói chung và tín ngưỡng thờ Trời nói riêng của
người Việt Tây Nam Bộ đã trở thành nét văn hóa đặc trưng của lưu dân
người Việt. Khí hậu ở đây nóng ẩm, mưa nhiều, cũng là những nhân tố
đóng góp vào việc hình thành tính cách con người Tây Nam Bộ, là nơi giao


. http://vi.wikipedia.org/wiki/Truyền_thuyết


Trích đoạn Giao lưu văn hóa Việt-Chăm-Khmer Nghi thức thờ cúng Trời
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status