MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: LỜI NÓI ĐẦU 2
CHƯƠNG 2. QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU 3
DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 3 VÀ PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ
STT Họ và tên Nhiệm vụ Ghi chú
1 Cáp Trọng Biên Chương 1,2,3 Nhóm trưởng
2 Phạm Hữu Phúc Chương 1,2 Nhóm phó
3 Nguyễn Thị Hồng Linh Chương 2
4 Huỳnh Thị Mộng Thu Chương 1,2 Thư Ký
5 Trần Thái Bảo Ngọc Chương 2,3
6 Nguyễn Thị Phương Ngọc Chương 2
7 Nguyễn Thu Hoài Chương 3
8 Lầu Ái Vũ Chuơng 2,3,4 Nhóm phó
9 Nguyễn Phi Thanh Chương 2
1
10 Đàm Ngọc Nam Chương 3
11 Nguyễn Thanh Điệp Chương 2
12 Đinh Thùy Thiên Hương Chương 1,2
13 Kiều Tấn Đại Chương 2
CHƯƠNG 1: LỜI NÓI ĐẦU
Quá trình nghiên cứu là việc nghiên cứu, tìm kiếm dữ liệu của một mô hình
kinh doanh thực tế, thường thì được nghĩ đến như là việc thu thập dữ liệu từ các
các con số được thống kê, các câu hỏi khảo sát và được phân tích các dữ liệu
dựa trên máy tính. Tìm kiếm, nghiên cứu các dữ liệu, tuy nhiên cũng bao gồm
một số việc quan trọng khác, vi dụ như: tìm kiếm, xây dựng lên 1 vấn đề chính
xác, và phát triển mô hình hay quan điểm đó để tượng trưng cho một vấn đề.
Thực tế những công việc như vậy thì khá là quan trọng và đòi hỏi kỹ năng cao.
Chất lượng của kết quả công việc trên mặt lý thuyết thì quyết định khá lớn đến
chất lượng của kết quả cuối cùng của nghiên cứu thực tiễn. Cái này cũng đúng
trong quá trình nghiên cứu kinh doanh thực tiễn. Những vấn đề quan trọng cần
chú ý là quá trình nghiên cứu, vai trò của lý thuyết và khái niệm.
3
như minh họa ở hình 1.1, và nếu như trong thực tế họ phải quay lại quá trình
suốt thời gian. Vi du, ở 1 giai đoạn nào đó, khi đang khảo sát, 1 việc gì bất ngờ
sẽ được khám phá, dẫn đến việc quay trở lại giai đọan trước đó, như điều chỉnh
vấn đề ta đang nghiên cứu. Do đó các ý kiến phản hồi kết nối những giai đoạn
thường hay phổ biến. cũng nên được biết rằng điểm khởi đầu có thể là một vài
quan điểm tạo nên giả thuyết về vấn đề thực tiễn. Nghiên cứu cũng có thể dẫn
đến vài vấn đề mới, đó là lý do tại sao nghiên cứu dường như không bao giờ
dùng lại.
Hình 1.1 – Quá trình nghiên cứu
4
Điểm bắt đầu trong hình 1.1 là chủ đề nghiên cứu, đó là hiện tượng hoặc nền
cần được nghiên cứu (1). Chẳng hạn, bạn có thể quan tâm đến những công ty tổ
chức những hoạt động của họ như thế nào, những đơn vị kinh doanh hướng dẫn
R&D như thế nào, hay những công ty bước vào thị trường nước ngoài như thế
nào. Sự lựa chọn chủ đề nghiên cứu quan trọng vì nhiều mục đích. Ví dụ như
chủ đề có đáng để theo đuổi không, có thực hiện được không? Một chủ đề
nghiên cứu không phải là một vấn đề nghiên cứu. Nó thường được mở rộng và
bao quát hơn một vấn đề nghiên cứu (hay), chẳng hạn như cấu trúc tổ chức nào
là hiệu quả nhất.
Khi chuyển từ một chủ đề càng bao quát hơn sang một vấn đề nghiên cứu thì
một câu hỏi đặc biệt hơn cần được thảo luận. Chẳng hạn, bạn có thể đặt câu hỏi
(sau khi có bản đề cương): có phải các công ty được tổ chức theo một cách quan
liêu thì ít cải tiến hơn những công ty được tổ chức theo một cách ‘hữu cơ’? Mối
quan hệ giữa chủ đề nghiên cứu và một vấn đề nghiên cứu được minh họa trong
hình 1.2.
Từ những thảo luận ở trên chúng ta thấy rằng một vấn đề nghiên cứu là một
câu hỏi. Khi chúng ta thật sự chứng minh được rằng chúng ta muốn biết gì, và
điều này liên hệ với sự hiểu biết hiện tại như thế nào thì chúng ta làm rõ được
một vấn đề nghiên cứu. Đây là điểm xuất phát cho những hoạt động nghiên cứu
cho việc thu thập dữ liệu cần thiết.
Sự chọn lọc dữ liệu và cách thu thập chúng từ ai, và bằng cách nào thì rất
quan trọng. Những sự lựa chọn như thế đều phụ thuộc vào dạng vấn đề, thông
tin cần thiết và cuối cùng là dữ liệu tiềm năng.
Những sự đo lường theo kinh nghiệm liên quan đến những cấu trúc (khái
niệm) lý thuyết, khó phân biệt. Chẳng hạn như một ‘trò chơi năng lượng’ là một
khái niệm. Điều này có thể/ nên được nắm bắt như thế nào? Một ví dụ khác là
khái niệm về ‘bạn bè’. Chúng ta nhận biết một người là/ trở thành một người
bạn như thế nào? Hệ thống đo lường tốt là điều kiện tiên quyết cho nghiên cứu
theo kinh nghiệm đạt chất lượng cao. Đó là một nhiệm vụ đòi hỏi để phát triển
những phép đo lường đúng.
Dữ liệu cần được giải quyết, phân tích và phiên dịch để trở thành thông tin có
ý nghĩa (mục 7 trong hình 3.1) có thể ảnh hưởng đến những hành động tiếp theo.
. Cũng trong nghiên cứu chất lượng, dữ liệu phải được phân tích và phiên dịch .
Hầu hết những nỗ lực nghiên cứu được báo cáo ở dạng bài viết (8), ví dụ như
những báo cáo nghiên cứu, nhưng cũng có những dạng này. Một báo cáo (luận
án) nghiên cứu hay cần sự khéo léo. Trong kinh doanh lợi nhuận của những nỗ
lực nghiên cứu thường đạt được những kết quả hoặc những hoạt động có ảnh
hưởng. Tuy nhiên cũng còn phụ thuộc vào lĩnh vực hoạt động của sách này, và
vì vậy không được đề cập ở đây.
2.1.1. Phạm vi quốc tế
Trường hợp nghiên cứu mang tầm quốc tế hoặc so sánh giữa các nền văn hóa
thì chúng ta cần quan tâm kỹ hơn về mỗi một giai đoạn của quá trình. Nghiên
cứu liên quan đến môi trường mới và sự khác nhau về văn hóa có thể làm rối sự
hiểu biết của vấn đề nghiên cứu. Những người nghiên cứu thường không lường
trước tác động của văn hóa địa phương lên vấn đề được hỏi. Điều này cũng ảnh
hưởng đến phạm vi và giới hạn của vấn đề. Trong vài nền văn hóa phạm vi rộng
7
hơn rất cần thiết để kiểm soát những thay đổi cần thiết. Chẳng hạn, những khái
niệm như ‘siêu thị’ có những nghĩa khác nhau trong những thị trường khác nhau.
Xác định phạm vi
Kiểm tra tầm ảnh hưởng của văn hóa
1. Chủ đề và vấn đề
nghiên cứu
Quy mô quốc tế
Nhận biết so sánh sự khác biệt
Chọn phương pháp tối thiểu các vấn đề so sánh
Kiểm tra các vấn đề thực tiễn; ngân sách; thời
gian;…
2. Ý định nghiên cứu
và kế hoạch
Chú trọng để loại bỏ sự khác biệt văn hóa
Xác định những thành kiến địa phương
Kiểm tra độ tin cậy của dữ liệu
Kiểm tra sự hiểu biết vế quy mô để so sánh
3. Thu thập dữ liệu và
đo lường
Xem xét những vấn đề so sánh
Đảm bảo rằng những phát hiện bất ngờ không
phải do những thành kiến địa phương
Điều chỉnh mức độ giải thích cho các nước/ nền
văn hóa/ thị trường khác nhau
4. Phân tích dữ liệu và
giải thích
Suy nghĩ của độc giả quốc tế và giao tiếp phù
hợp
Xem xét ngôn ngữ và thuật ngữ
Tránh những kết luận nhạy cảm về văn hóa
Kiểm tra tác động đối với những thị trường khác
nhau
10
Vào cuối giai đoạn này, công ty đã có những ý tưởng được xác định rõ thu
hút từ một số nhóm tập trung, nhưng đã không có một "cảm giác" cho phần còn
lại của những người trong thị trường mục tiêu. Họ có phản ứng theo cùng một
cách như các nhóm tập trung không? Để trả lời câu hỏi này, công ty đã tiến hành
bước tiếp theo, một chương trình nghiên cứu để xác nhận sự hấp dẫn tương đối
của các khái niệm được tạo ra từ các nhóm tập trung với một cuộc điều tra
(nghiên cứu định lượng) của một mẫu lớn từ các thị trường mục tiêu. Ngoài ra,
tên thương hiệu, giá cả, kích thước và lợi ích dự định của sản phẩm đã được thử
nghiệm trong các cuộc điều tra mẫu lớn. Thông tin thu thập trong các cuộc điều
tra cuối cùng cung cấp cho các công ty thông tin cụ thể được sử dụng để phát
triển một chương trình tiếp thị đưa đến thành công của giới thiệu sản phẩm và sự
công nhận thương hiệu cho Ariel khắp Ai Cập.
2.2Cấp bậc của nghiên cứu
Trở lại với hình 1.1 , có thể phân biệt giữa các hành động ở lý thuyết – cấp 2,
2a và thực nghiệm – cấp 4, 5, 6 và 7. Lựa chọn thiết kế nghiên cứu có thể được
xem như là cầu nối giữa các hành động ở cấp độ lý thuyết và cấp độ thực
nghiệm với nhau.
Tiếp theo, cần lưu ý: tất cả các nghiên cứu - không kể quy luật nào đều đòi
hỏi các hành động trên cơ sở lý thuyết. Do vậy ta có thể nói, nghiên cứu lý
thuyết chỉ giải quyết ở cấp độ này. Ví dụ: nghiên cứu về toán học và kinh tế học
thuần túy (lý thuyết) chủ yếu liên quan đến các vấn đề cụ thể mà không tìm
kiếm bằng chứng thực nghiệm. Trong nghiên cứu kinh doanh những đóng góp
quan trọng cũng đã được thực hiện mà chủ yếu là "lý thuyết" (mặc dù lấy cơ sở
từ quan sát thực nghiệm) như những đóng góp có ảnh hưởng của JD Thompson
(1967), JG March và HA Simon (1958), những đóng góp đó đã hình thành rất
nhiều tư duy và nghiên cứu về quy luật trong ngành Quản trị kinh doanh.
Nghiên cứu lý thuyết tương ứng với vòng tròn số 1 – hình 1.4.
11
Hình 1.4 Hai cấp độ nghiên cứu
hé lộ. Ví dụ: trước khi tham gia vào thị trường mới, doanh nghiệp cần kiến thức
để đánh giá phạm vi thị trường và những trường hợp cạnh tranh trong thị trường
đó. Đây là những điều kiện tiên quyết để tạo ra một kế hoạch marketing cho thị
trường mới.
Sự hiểu biết mới có thể được hình thành thông qua biểu hiện những ý tưởng
mang tính thực tiễn mới của một lý thuyết như sau: kiểm tra lại mệnh đề gốc từ
lý thuyết và áp dụng phương pháp đó cho vấn đề mới. Điều quan trọng là bất kỳ
công trình nghiên cứu nào cũng nên chứa đựng điều mong đợi được giải đáp.
Điều này sẽ mang lại thêm những điều mới mẻ.
2.4 Cái gì đến trước: Học thuyết hay sự nghiên cứu?.
Trong tài liệu về sự nghiên cứu, có sự phân biệt giữa 2 chiến lược :
• Giả thuyết có trước sự nghiên cứu, và
• Sự nghiên cứu có trước giả thuyết .
Trong trường hợp đầu tiên, những hiểu biết hiện tại chú ý đến cấu trúc của
việc tìm hiểu vấn đề, do đó nhà nghiên cứu biết được điều phải tìm kiếm là gì?
các nhân tố liên quan và các lý thuyết cần được kiểm nghiệm trong thực tế. Từ
những thảo luận ở trên, khi đấu tranh với những vấn đề, nhà nghiên cứu cũng
nên tận dụng ( hoặc ít nhất nên tận dụng) những kiến thức có sẵn ( trước khi tìm
hiểu về chủ đề và các lĩnh vực có liên quan).
13
Tìm hiểu ở mục 1.5 minh họa cho 2 giả thuyết trên. Trong trường hợp đầu,
nhiệm vụ quan trong là xác định các khái niệm liên quan, giả thuyết…. và điều
chỉnh các quan niệm ( giả thuyết) để theo dõi vấn đề ( mà yêu cầu sự hiểu biết
cặn kẽ về việc nghiên cứu vấn đề ). Trường hợp 2, nhiệm vụ hàng đầu là xác
định nhân tố có liên quan và xây dựng được sự diễn giải cho vấn đề đó (giả
thuyết). Sự liên quan này khác hẳn với nội dung về sự nghiên cứu mà đó là nội
dung về sự diễn giải, chứng minh và nội dung của sự khám phá ( xem Popper,
1961 sự thảo luận sáng suốt). Một sự quan sát thú vị là phần 1 cũng phù hợp
trong sử dụng kiến thức có tính lý thuyết vào những vấn đề thực tế. Người sử
dụng phải thu thập đầy đủ các giả thuyết và phương pháp rồi điều chỉnh chúng
thích và dự đoán.
Khái niệm là những yếu tố quan trọng nhất trong bất cứ lý thuyết nào, bởi vì
nó được ghi nhận trực tiếp. Ví dụ như khái niệm "nhận thức" và "sự bất hòa" chỉ
ra các lý thuyết về sự bất hòa trong nhận thức, và "cung" và "cầu" là những khái
niệm quan trọng trong lý thuyết kinh tế. Mặc dù nhiều khái niệm được sử dụng
trong cuộc sống hàng ngày không rõ ràng (ví dụ như "dân chủ" và "ảnh hưởng"),
nhưng nó phải được làm rõ và thống nhất, điều đó rất hữu ích trong nghiên cứu.
2.5.2 Định nghĩa:
Việc làm rõ và đo độ chính xác của các khái niệm được thực hiện thông qua
các định nghĩa. Ở đây chúng tôi sẽ phân biệt giữa hai loại định nghĩa, đó là định
nghĩa khái niệm và định nghĩa hoạt động.
1. Định nghĩa khái niệm đó là việc mô tả các khái niệm bằng việc sử dụng
các khái niệm khác để định nghĩa.
Ví dụ: Khái niệm "thị trường" như được định nghĩa trong lĩnh vực tiếp thị, đó
là: Tất cả các khách hàng tiềm năng chia sẻ nhu cầu hoặc mong muốn của họ, đó
là những người có khả năng và sẵn sàng trao đổi để thỏa mãn những mong muốn
và nhu cầu của mình.
Trong định nghĩa này, khách hàng và "cần / muốn" là một trong những khái
niệm được sử dụng để xác định các khái niệm về thị trường (Kotler, 1977).
15
Ví dụ: khác là khái niệm của "ngành công nghiệp" được định nghĩa trong tài
liệu về chiến lược đó là: nhóm các công ty sản xuất các sản phẩm có thể thay thế
cho nhau. Ở đây "công ty", "sản phẩm", và "thay thế" là những khái niệm quan
trọng để giải thích cho khái niệm ngành công nghiệp (Porter, 1980)
Một định nghĩa sẽ trở nên hữu ích khi khái niệm nên:
- Chỉ ra các thuộc tính hoặc chất lượng của bất cứ điều gì mà đã được xác
định là duy nhất;
- Không chứa bất kỳ bộ phận nào liên quan đến điều đang được xác định,
việc xác định "giá thị trường" cũng như "trao đổi đang diễn ra trên thị trường"
không có tác dụng trong việc tăng cường trao đổi thông tin;
16
Việc định nghĩa như thế này coi doanh thu được tính bởi chi phí (giá hàng
nhập vào ) hoặc bằng số lượng hàng nhập vào. Nếu được tính theo giá bán ra, ta
mong là sẽ có lãi suất.
Chú ý là giá trị cũng được định nghĩa khác nhau hay không phụ thuộc vào nó
được đo bằng khối lượng hay giá trị. Và nếu nó được đo bằng giá trị, dù là giá
nhập vào hay giá bán ra chỉ được dùng cho việc bán ra.
Khi chúng ta chuyển tiếp từ khái niệm ( lý thuyết ) tới tính thực tế trong
nghiên cứu, quan niệm được chuyển đổi thành những biến số bằng cách sắp đặt
chúng trong 1 tổ hợp của các biến số. Ví dụ những con số tượng trưng cho
những vật thể liên quan đến việc sắp đặt 1 tổ hợp các vật thể vào 1 tổ hợp các
con số. 1 biến số thường có 2 hoặc nhiều hơn 2 giá trị và thường thay đổi, trong
khi 1 so nhất định chỉ có 1 giá trị duy nhất.
Ví dụ.
Khái niệm Biến số
Chiều cao …,150,….,180,….cm
Giới tính 1(=gái), 0 (= trai).
2.5.3. Lý thuyết
Lý thuyết có thể coi như là 1 hệ thống cho những quan niệm có thể cho
người đọc hiểu biết hoặc cái nhìn sâu về bên trong ( Zaltman et al., 1977). 1 lý
thuyết thường bao gồm nhiều hơn 1 khái niệm và sự kết nối những khái niệm
này với nhau.
Vi du:
1 lý thuyết là :
17
1 tổ hợp của các quan niệm liên quan đến nhau, định nghĩa và các ý kiến bày
tỏ 1 cách nhìn nhận có hệ thống của những sự liên quan giữa các biến số với
mục đích giải thích và đoán biết hiện tượng.
CHƯƠNG 3. VẤN ĐỀ CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU
3.1 Ý tưởng nghiên cứu.
Cách đặt câu hỏi thường bắt đầu như sau: Làm thế nào, bao nhiêu, xảy ra ở
đâu, nơi nào, khi nào, ai, tại sao, cái gì ? Đặt câu hỏi hay đặt “Vấn đề” nghiên
cứu là cơ sở giúp nhà khoa học chọn chủ đề nghiên cứu (topic) thích hợp. Sau
khi chọn chủ đề nghiên cứu, một công việc rất quan trọng trong phương pháp
19
nghiên cứu là thu thập tài liệu tham khảo (tùy theo loại nghiên cứu mà có
phương pháp thu thập thông tin khác nhau).
3.2.2. Phân loại “vấn đề” nghiên cứu khoa học
Sau khi đặt câu hỏi và “vấn đề” nghiên cứu khoa học đã được xác định, công
việc tiếp theo cần biết là “vấn đề” đó thuộc loại câu hỏi nào. Nhìn chung, “vấn
đề” được thể hiện trong 3 loại câu hỏi như sau:
a/ Câu hỏi thuộc loại thực nghiệm
b/ Câu hỏi thuộc loại quan niệm hay nhận thức
c/ Câu hỏi thuộc loại đánh giá
a/ Câu hỏi thuộc loại thực nghiệm
Câu hỏi thuộc loại thực nghiệm là những câu hỏi có liên quan tới các sự kiện
đã xảy ra hoặc các quá trình có mối quan hệ nhân-quả về thế giới của chúng ta.
Để trả lời câu hỏi loại này, chúng ta cần phải tiến hành quan sát hoặc làm thí
nghiệm hoặc hỏi các chuyên gia, hay nhờ người làm chuyên môn giúp đỡ. Câu
hỏi thuộc loại này có trong các lãnh vực như sinh học, vật lý, hóa học, kinh tế,
lịch sử. Thí dụ: Cây lúa cần bao nhiêu phân N để phát triển tốt? Một số câu hỏi
có thể không có câu trả lời nếu như không tiến hành thực nghiệm. Thí dụ, loài
người có tiến hóa từ các động vật khác hay không? Câu hỏi này có thể được trả
lời từ các NCKH nhưng phải hết sức cẩn thận, và chúng không có đủ cơ sở và
hiểu biết để trả lời câu hỏi này. Tất cả các kết luận phải dựa trên độ tin cậy của
số liệu thu thập trong quan sát và thí nghiệm. Những suy nghĩ đơn giản, nhận
thức không thể trả lời câu hỏi thuộc loại thực nghiệm này mà chỉ trả lời cho các
câu hỏi thuộc về loại quan niệm.
b/ Câu hỏi thuộc loại quan niệm hay nhận thức
20
qua hoạt động thực tế lao động sản xuất, yêu cầu kỹ thuật, mối quan hệ trong xã
hội, cư xử, làm cho con người không ngừng tìm tòi, sang tạo ra những sản phẩm
tốt hơn nhằm phục vụ cho nhu cầu đời sống con người trong xã hội. Những hoạt
động thực tế này đã đặt ra cho người nghiên cứu các câu hỏi hay người nghiên
cứu phát hiện ra các “vấn đề” cần nghiên cứu.
• “Vấn đề” nghiên cứu cũng được hình thành qua những thông tin bức xúc,
lời nói phàn nàn nghe được qua các cuộc nói chuyện từ những người xung
quanh mà chưa giải thích, giải quyết được “vấn đề” nào đó.
• Các “vấn đề” hay các câu hỏi nghiên cứu chợt xuất hiện trong suy nghĩ
của các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu qua tình cờ quan sát các hiện tượng
của tự nhiên, các hoạt động xảy ra trong xã hội hàng ngày.
• Tính tò mò khoa học về điều gì đó cũng đặt ra các câu hỏi hay “vấn đề”
nghiên cứu
3.3 Xác định mục tiêu nghiên cứu và việc vật lộn với vấn đề nghiên cứu đã
nhận dạng
Sau khi nhận dạng được vấn đề nghiên cứu, nhà nghiên cứu cần xác định rõ
cần nghiên cứu cái gì và đó là mục tiêu nghiên cứu. Thông thường các nhà
nghiên cứu phát biểu mục tiêu ở dạng tổng quát và mục tiêu cụ thể. Đôi khi,
nhà nghiên cứu phát biểu mục tiêu cụ thể ở dạng câu hỏi, và đó là câu hỏi
nghiên cứu.
Khi xác định được mục tiêu hay câu hỏi nghiên cứu, dựa vào câu hỏi nghiên
cứu, để quyết định phương pháp giải quyết vấn đề nghiên cứu.
22
Ví dụ :
Xác định Biểu hiện kết quả kinh doanh của công ty ở thời gian tốt và xấu.
Làm cách nào để những vấn đề không sáng tỏ này có thể được hiểu ra. Từ kế
toán, ta biết rằng :
Lợi nhuận = ( Giá bán - biến phí ) x số lượng – chi phí cố định
Dựa trên công thức đơn giản, ta nên hỏi vài câu hỏi, Ví dụ:
- Giá bán sản phẩm của công ty có thay đổi không?.
chiến lược, sẽ đặt ra câu hỏi tại sao những nhìn nhận sâu trong từng vấn đề lại
có thể có được? các nhà nghiên cứu có thể có những phương pháp yêu thích ( ví
dụ như dùng các cuộc khảo sát ) cũng có thể ảnh hưởng đến sự lựa chọn cách
nghiên cứu. Strauss và corbin gợi ý có một vài nguồn của các vấn đề có thể
nghiên cứu được, ví dụ như: các vấn đề nghiên cứu đã được đặt ra, hoặc có thể
đã được gợi ý bởi các giáo sư/ người giám sát. Điều này thường có ích cho các
sinh viên, bởi nó mang đến cho họ những vấn đề “ có thể làm được”. Một nguồn
khác là các dữ liệu khoa học ứng dụng, mà có thể chỉ ra những cái chưa tìm tòi
hoặc một đề tài cần phát triển thêm nữa. Nó cũng gợi ý một cách tiếp cận để giải
24
quyết một vấn đề cũ. Cách đọc các dữ liệu có tính ứng dụng cũng có thể kích
thích và nâng cao tính tò mò của các nhà nghiên cứu. Cuối cùng những kinh
nghiệm cá nhân và chuyên nghiệp thường hay là nguồn của một vấn đề nghiên
cứu. Kinh nghiệm chuyên nghiệp thường dẫn đến những đánh giá rằng việc áp
dụng thực tại không có hiệu lực, công bằng, hoặc không hợp tình hợp lý. Nghiên
cứu vào những vấn đề này có thể sẽ sửa chữa được tình huống này.
3.4 Mô hình nghiên cứu:
Như nêu ra ở trên, các vấn đề nghiên cứu là qua những câu hỏi được sắp xếp
bởi một tổ hợp các biến số. Khi giải quyết những vấn đề nghiên cứu, một vài sự
trình bày của vấn đề được đề cập. Điều này cũng áp dụng trong cuộc sống hiện
thực. Ví dụ khi nhà quản lý hướng dẫn kinh doanh hướng dẫn nhân viên mỉm
cười, thì sự hình dung hoặc các mô hình cỏ thể đã hiện diện trong đầu ông ta:
Khi nhân viên cười, khách hàng cảm thấy thoải mái và thường sẵn sàng mua
hàng hơn. Mô hình của nhà quản lý có thể được diễn ra như sau:
Nhân viên cười Khách hàng cảm thấy hài long sẵn sàng mua
hơn.
Chúng ta đều có những mô hình như vậy. Tuy nhiên thông thường chúng đều
là những ẩn số và không rõ ràng.
Một ví dụ khác là khi các công ty quảng cáo để tìm, họ thường đòi hỏi những
yêu cầu về bằng cấp. Như là trình độ học vấn, tuổi, kinh nghiệm … Điều này có