Tiểu luận môn Phương pháp nghiên cứu khoa học THỰC TRẠNG CÁCH TRÍCH VÀ DẪN - Pdf 26

MỞ ĐẦU
Cách trích dẫn và liệt kê tài liệu tham khảo đóng vai trò quan trọng trong
nghiên cứu khoa học vì khoa học không đến từ chân không. Bất kỳ đề tài nghiên cứu
nào cũng phải kế thừa các công trình khoa học trước đó. Vì vậy, trích dẫn đúng và đủ
là dấu hiệu đầu tiên minh chứng khả năng khoa học của nhà nghiên cứu. Trích dẫn
thể hiện tính trung thực trong khoa học. Nếu kế thừa mà không trích dẫn nguồn tham
khảo thì chúng là của tác giả. Như vậy, tác giả đã không có tính trung thực trong khoa
học. Tất cả các trích dẫn trong nghiên cứu khoa học cần phải liệt kê đầy đủ trong tài
liệu tham khảo và tài liệu tham khảo chỉ liệt kê những gì có trích dẫn trong báo cáo
nghiên cứu của mình
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Trích dẫn
1.1.1 Khái niệm trích dẫn
Trích dẫn tài liệu là một phương pháp được chuẩn hóa trong việc ghi nhận
những nguồn tin và ý tưởng mà người viết sử dụng trong bài viết của mình trong đó
người đọc có thể xác định rõ từng tài liệu được trích dẫn, tham khảo. Các trích dẫn
nguyên văn, các số liệu và thực tế cũng như các ý tưởng và lý thuyết lấy từ các nguồn
đã được xuất bản hay chưa xuất bản đều cần phải được trích dẫn
Trích dẫn tài liệu tham khảo là một yêu cầu bắt buộc đối với các nghiên
cứu. Việc thể hiện các trích dẫn tài liệu tham khảo có ý nghĩa quan trọng trong
việc đánh giá độ chuyên sâu và tính nghiêm túc của nghiên cứu. Vì vậy trích dẫn
tài liệu tham khảo phải được trình bày đúng quy chuẩn. Tạp chí áp dụng tiêu
chuẩn Harvard cho việc trình bày trích dẫn tài liệu tham khảo. Trích dẫn tài liệu
tham khảo được chia làm 2 dạng chính: trích dẫn trong bài (in-text reference) và
danh sách tài liệu tham khảo (reference list).
1.1.2 Vai trò của trích dẫn trong văn bản
- Trích dẫn tài liệu là một trong những việc rất quan trọng trong các bài viết
khoa học, báo cáo nghiên cứu, các luận văn thạc sĩ, và luận án tiến sĩ. Việc làm này
thể hiện được sự nghiên cứu, tham khảo sâu rộng các kết quả nghiên cứu của những
người khác, thừa nhận sở hữu trí tuệ của những người đó. Những trích dẫn trong bài
cũng là những bằng chứng, cơ sở cho những tranh luận của học viên trong bài viết

Tài liệu được trích dẫn trong bài viết phải có trong danh mục tài liệu tham
khảo (trừ những thông báo cá nhân và kết quả nghiên cứu chưa công bố).
Tài liệu liệt kê trong danh mục tham khảo phải có trích dẫn trong bài viết.
Chỉ trích dẫn và liệt kê trong danh mục tham khảo những tài liệu đọc được
trực tiếp toàn văn.
Không trích dẫn cũng như liệt kê trong danh mục những tài liệu không được
đọc trực tiếp toàn văn.
Cách trích dẫn phải có tính thống nhất trong toàn bộ bài viết và phù hợp với
cách trình bày danh mục tham khảo. Ngoài ra khi trích dẫn tài liệu tham khảo cần
tuân thủ theo các quy định như sau:
- Trích có chọn lọc
- Không trích (chép) liên tục và tất cả
- Không tập trung vào một tài liệu
- Trước và sau khi trích phải có chính kiến của người viết
- Các nội dung trích dẫn phải tuyệt đối chính xác
- Câu trích, đoạn trích để trong ngoặc kép, in nghiêng
- Tất cả trích dẫn đều có chú thích chính xác đến số trang
- Chú thích các trích dẫn từ văn bản phải để trong ngoặc vuông
Ví dụ: [15,177] nghĩa là: trích dẫn từ trang 177 của tài liệu số 15.
- Chú thích các trích dẫn phi văn bản, không có trong thư mục tài liệu tham
khảo, thì đánh số 1, 2, 3 và đưa footnote
- Lời chú thích có dung lượng lớn, đánh số 1, 2, 3 và đưa xuống cuối cuốn sách
hoặc khoá luận.
1.1.6 Quy trình viết trích dẫn trong bài báo cáo
Quy trình viết trích dẫn được trình bày theo mô hình sau:
Diễn giải: Quy trình viết trích dẫn được thực hiện theo ba bước chính như sơ đồ trên:
Bước 1: Xác định nguồn thông tin cần được trích dẫn là gì, sau đó tìm cách để
tiếp cận và khai thác nguồn thông tin đó (có thể qua sách, báo, phương tiện truyền
thông, các mối quan hệ quen biết…). Lưu ý khi khai thác nguồn thông tin cần thiết
phải phù hợp, chính xác với yêu cầu của người viết, tránh trường hợp tập hợp quá

nghiên cứu sâu hơn.
1.1.7. Trích dẫn trong đoạn văn
Trích dẫn tài liệu trong đoạn văn có nghĩa là chỉ ra trong bài viết khi nào sử
dụng ý tưởng/ kiến thức của người khác.
Kiểu trích dẫn Harvard sử dụng họ của tác giả, tiếp đó là năm xuất bản. Về
cơ bản, số trang nên được ghi trong các phần trích dẫn trong bài viết (trích dẫn
nguyên văn hoặc diễn giải) để người đọc dễ tìm kiếm đến thông tin họ cần.
Có hai cách trích dẫn trong đoạn văn:
a. Trích dẫn nguyên văn (quotation): sao chép chính xác từ ngữ, câu, đoạn văn
mà tác giả dùng. Câu trích dẫn nguyên văn phải được để trong dấu ngoặc kép.
Trường hợp này bắt buộc phải ghi cả số trang của nguồn trích.
b. Trích dẫn diễn giải (paraphrasing): diễn giải câu chữ của tác giả khác bằng câu
chữ của mình, sử dụng từ ngữ khác mà không làm khác đi nghĩa nguyên gốc. Khi
trích dẫn kiểu diễn giải thì không bắt buộc phải ghi số trang. Tuy nhiên việc ghi số
trang là cần thiết, nhất là khi trích dẫn từ sách hoặc từ một tài liệu dài để người đọc có
thể dễ dàng xác định thông tin mình cần.
Tùy thuộc vào cách mà bạn trình bày ý tưởng này và kiểu trích dẫn mà bạn sử
dụng (trong bài này kiểu trích dẫn Harvard được sử dụng), các câu trích dẫn của bạn
có thể được thể hiện như sau:
• Những công trình nghiên cứu khác (Brown, 1999) cũng ủng hộ quan điểm này.
(trích dẫn kiểu diễn giải).
• Công trình nghiên cứu của Brown (1999) cho thấy quan điểm tương đồng về
việc …(trích dẫn kiểu diễn giải).
• "This theory is sutrorted by recent work" (Brown, 1999, tr. 25) (trích dẫn
nguyên văn).
* Nếu các tác giả từ nhiều nguồn trích có cùng họ thì phải ghi cả những chữ cái
đầu của tên và tên đệm, ví dụ (Hamilton, CL 1994) hoặc CL Hamilton (1994).
* Trường hợp tác giả có tên Việt Nam thì phải ghi đầy đủ cả họ, tên đệm và
tên theo trật tự HỌ-ĐỆM-TÊN để tránh nhầm lẫn vì ở Việt Nam có rất nhiều
người có trùng họ.

của tên sách (trong tiếng Anh, bỏ qua các từ như the, an, a).
e. Kiểu trích dẫn Harvard yêu cầu dòng thứ hai trở đi của mỗi tài liệu phải
được lùi vào 1 tab (xem trang 12), với mục đích là làm nổi bật thứ tự chữ cái.
* Nếu là tên tổ chức có từ 3 từ trở lên và tên viết tắt của tổ này thông dụng với
bạn đọc, có thể dùng từ viết tắt. Ví dụ: ILO (International Labor Organisation) 2003.
1.2. Tài liệu tham khảo
1.2.1 Tài liệu tham khảo là gì?
Tài liệu tham khảo là danh sách các nguồn tài liệu đã được trích dẫn sử dụng
trong bài viết khoa học. Phần này cung cấp thông tin chi tiết về nguồn trích dẫn như:
họ tên tác giả, năm xuất bản, tên bài báo, tên sách, tên tạp chí, số xuất bản, số trang
đã trích dẫn, nhà xuất bản và nơi xuất bản. Trình tự và nội dung thông tin sẽ khác
nhau đối với từng loại tài liệu, phải sử dụng nhất quán trong danh mục.
Tài liệu tham khảo bao gồm: sách, bài báo khoa học, tài liệu hội thảo, tài liệu
điều tra, thông tin thống kê, thông tin khoa học, thông tin kinh tế, hình ảnh, bản đồ,
… đã được đăng tải và công bố dưới mọi dạng thức: bản in, báo chí, trang web,
video, hình ảnh, CD,… mà các tài liệu này người đọc có thể truy tìm để tham khảo,
đối chứng. Phải liệt kê đầy đủ các tài liệu đã trích dẫn trong bài
Danh sách tài liệu tham khảo được đặt cuối bài viết, mỗi trích dẫn trong
bài viết (in-text reference) phải tương ứng với danh mục nguồn tài liệu được liệt
kê trong danh sách tài liệu tham khảo.
1.2.2 Mục đích của danh mục tài liệu tham khảo
Mục đích của tài liệu tham khảo trong một bài báo khoa học là để xác định tất
cả những dữ kiện trình bày, đó là một nguyên tắc nền tảng của lập luận khoa học. Tài
liệu tham khảo cho phép người đọc kiểm tra hiện tượng này và để tìm hiểu sâu hơn
các chi tiết nếu muốn biết ví dụ như xem phương pháp nào cho phép rút ra kết luận
như vậy. Cũng như vậy, không được dẫn chứng các tác giả trong một bài báo khoa
học mà không đưa ra tài liệu tham khảo chỉ rõ công trình của họ. Các tài liệu tham
khảo có thể đưa người đọc tới những bài báo, các cuốn sách, các chương sách, các bài
ghi nhớ, các tài liệu chính thức, các ngân hàng dữ liệu hoặc tất cả các dạng xuất bản
có thể dễ dàng tiếp cận khác.

23. Nguyễn Phú Trọng, Trần Xuân Sầm (2001), Luận cứ khoa học cho việc nâng cao
chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
. . .
Trình bày tài liệu tham khảo bằng tiếng Anh
28. Anderson J. E. (1985), The Relative Inefficiency of Quaota, The Cheese Case,
American Economic Review, 75(1), pp.178-90.
29. Bolding K. E. (1995), Economics Analysis, Hamish Hamiltion, London.
30. Borakati R. P., Virmani S. S. (1997), Genetics of thermosensive genic male
sterility in Rice, Euphytica 88, pp. 1-7.
31. Burton G. WW. (1998), “Cytoplasmic male-sterility in pearl millet (penni-
setum glaucum L.)”, Agronomic Journal 50, pp. 230-231.
32. Lane, C. et al. 2003. The future of professionalised work: UK and Germany
compared [Trực tuyến]. London: Anglo-German Foundation for the Study of
Industrial Scoiety. Địa chỉ: http://www.agf.org.uk/pubs/pdfs/1232web.pdf [Truy cập:
10/10/2010].
33. FAO (1971), Agricultural Commodity Projections (1970-1980), Vol. II. Rome.
34. Institute of Economics (1998), Analysis of Expenditure Pattern of Urban
Households in Vietnam, Departement of Economics, Economic Research Report,
Hanoi.
1.2.4 Các Quy chuẩn trình bày danh mục tài liệu tham khảo:
1.2.4.1. Quy chuẩn trình bày sách tham khảo
Mẫu quy chuẩn: Họ tên tác giả (năm xuất bản), tên sách, nhà xuất bản, nơi xuất bản
Ví dụ: Nguyễn Văn B (2009), Kinh tế Việt Nam năm 2008, Nhà xuất bản ABC, Hà
Nội.
Thành phần thông tin Giải thích
Nguyễn Văn B Tên tác giả
(2009), Năm xuất bản trong ngoặc đơn, tiếp sau là dấu phẩy (,)
Kinh tế Việt Nam năm
2008,

tháng 11 năm 2010, < http://tapchiy.org/tangtruong.pdf>.
Thành phần thông tin Giải thích
Nguyễn Văn A Tên tác giả
(2010), Năm xuất bản trong ngoặc đơn, tiếp sau là dấu phẩy (,)
Tăng trưởng bền vững, Tên bài viết in nghiêng, tiếp sau là dấu phẩy (,)
Tạp chí Y, Tổ chức xuất bản, tiếp sau là dấu phẩy (,)
truy cập ngày 04 tháng 11 năm 2010, ngày tháng năm truy cập, tiếp sau là dấu phẩy (,)
< http://tapchiy.org/tangtruong.pdf>. Liên kết đến bài viết trên website, kết thúc bằng dấu
chấm.
1.2.4.4 Quy chuẩn trình bày một số tài liệu tham khảo đặc biệt
Loại tài liệu
tham khảo
Quy chuẩn trình bày
Ví dụ
(thông tin chỉ có tính minh họa)
Bài viết xuất
bản trong ấn
phẩm kỷ yếu
hội thảo, hội
Họ tên tác giả (năm), ‘tên bài
viết’, tên ấn phẩm hội thảo/
hội nghị, tên nhà xuất bản, nơi
xuất bản, trang trích dẫn.
Nguyễn Văn A (2010), ‘sinh viên nghiên
cứu khoa học: những vấn đề đặt ra’, Kỷ
yếu Hội nghị tổng kết hoạt động khoa học
và công nghệ giai đoạn 2006-2010, Nhà
nghị. xuất bản ABC, Hà Nội, tr. 177-184.
Bài tham luận
trình bày tại

cập, <liên kết đến ấn phẩm/bài
báo trên website>.
Nguyễn Văn A (2010), ‘Tăng trưởng tín
dụng gần lấp đầy chỉ tiêu’, Báo điện tử
Thời báo Kinh tế Việt Nam Vneconomy,
truy cập ngày 04 tháng 11 năm 2010,
<http://vneconomy.vn/156.htm>.
Báo cáo của
các tổ chức
Tên tổ chức là tác giả báo cáo
(năm báo cáo), tên báo cáo, mô
tả báo cáo (nếu cần), địa danh
ban hành báo cáo.
Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước
(2009), Báo cáo hoạt động nghiên cứu
khoa học 2008, Hà Nội.
Văn bản pháp
luật
Loại văn bản, số hiệu văn bản,
tên đầy đủ văn bản, cơ quan/tổ
chức/người có thẩm quyền ban
hành, ngày ban hành.
Thông tư số 44 /2007/BTC hướng dẫn
định mức xây dựng và phân bổ dự toán
kinh phí đối với dự án khoa học và công
nghệ có sử dụng ngân sách nhà nước, Bộ
Tài chính ban hành ngày 07 tháng 5 năm
2007.
Các công trình
chưa được

- Mẫu trích dẫn được quy định riêng về cách đánh dấu gọi tham khảo
- Không liệt kê tài liệu trích dẫn gián tiếp trong danh mục tham khảo
- Một tài liệu có yêu cầu khoa học càng cao thì càng hạn chế trích dẫn gián tiếp mà
phải tiếp cận càng nhiều càng tốt đến các tài liệu gốc.
- Trong thực tế rất thường xuyên bị vi phạm, vì nhiều người tự cho phép lấy tác giả/ tài
liệu (A) trong danh mục tham khảo của một tài liệu đọc được (B) để đưa vào danh
mục tham khảo của mình, dù không đọc được toàn văn tài liệu đó (A).
Ví dụ: Nghiên cứu hàn lâm trong một ngành khoa học nào đó… (Nguyễn Văn A,
Trần Tú B, Đinh Thanh C, 2011).
2.1.3 Trích dẫn diễn ngữ (paraphrase):
Trích dẫn thông tin từ một tác giả có tài liệu được tham khảo trực tiếp cho bài
viết, nhưng đã dùng kĩ thuật diễn ngữ để tái cấu trúc lại thông tin gốc để có cách diễn
đạt khác (đảm bảo trung thành về nội dung)
- Mẫu trích dẫn được đánh dấu gọi tham khảo theo số thứ tự hay theo tên tác giả và
năm, thường đặt trong ngoặc đơn.
- Là cách phổ biến trong tài liệu khoa học. Khi dùng cần cẩn trọng và chính xác
để tránh diễn dịch sai, đảm bảo trung thành với nội dung văn bản gốc
2.1.4 Gọi cước chú:
Các đoạn trích trong bài được đánh số "gọi cước chú" (call to footnote/appel
de note de bas de page), và biểu chú dẫn (footnote/note de bas de page) được ghi
ngay dưới chân trang.
- Cách gọi cước chú thường dùng trích dẫn nguyên văn: số gọi chú dẫn nằm ngay sau
dấu câu cuối cùng và trước dấu ngoặc kép đóng mẩu trích dẫn
- Số gọi chú dẫn được treo liền kề mẩu trích dẫn dưới dạng luỹ thừa, không có ngoặc
đơn
- Số gọi chú dẫn có thể được đánh theo thứ tự trong từng trang hay liên tục giữa các
trang.
- Biểu chú dẫn gọi lần đầu hoặc lần duy nhất được ghi theo quy định trình bày danh
mục tham khảo, có kèm theo số trang ở sau cùng.
- Khi gọi chú dẫn về một tác giả đã dẫn liền trước đó, biểu chú dẫn chỉ ghi "ibid." (gốc

đó rất cần quán triệt tinh thần Thông điệp của UNESCO về giáo dục trong thế kỷ
XXI: “Học để biết, học để làm, học để làm người và học để sống với nhau”. Đây là
bốn yêu cầu cơ bản hay là bốn cột trụ để xây dựng một xã hội học tập suốt đời (6, tr.
54). Người học tiếp thu những tri thức ấy để dần dần hướng đến chân lý, tức là
“những tri thức phù hợp với hiện thực khách quan và được thực tiễn kiểm nghiệm”
(7)
6. Vũ Ngọc Hải. Các mô hình quản lý nhà nước về giáo dục. Trong: Đặng Bá Lãm, chủ biên. Quản lý
nhà nước về giáo dục : Lý luận và thực tiễn. Hà Nội: Chính trị Quốc gia; 2005.
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo. Giáo trình Triết học Mác – Lênin (Dùng trong các trường đại học, cao
đẳng). Hà Nội: Chính trị Quốc gia; 2003. tr. 310.
2.1.7 Kiểu Harvard (Harvard style):
Đây là một kiểu trích dẫn đang được sử dụng ngày càng phổ biến, còn được
gọi là "hệ thống tác giả - năm")
- Danh mục tham khảo kiểu Harvard được xếp theo thứ tự chữ cái tên tác giả (với các
tác giả phương Tây là family name/nom de famille), không cần đánh số thứ tự
- Mẩu trích dẫn được chú thích liền phía sau bằng tên tác giả và năm xuất bản tài liệu,
trong ngoặc đơn
- Nếu mẩu trích dẫn kiểu diễn ngữ với tên tác giả là một thành phần trong câu, năm
xuất bản của tài liệu đó sẽ được đặt trong ngoặc đơn liền sau tên tác giả,
- Nếu một tài liệu của một tác giả, ghi tên tác giả (không ghi phần tên viết tắt) trong
ngoặc đơn và năm xuất bản, cách nhau bằng khoảng trắng (không có dấu phẩy), nếu
cần thì chỉ rõ số trang
- Nếu mẩu trích dẫn có nguồn gốc từ một tác giả A, nhưng không đọc trực tiếp tác giả
A mà biết thông qua tác giả B, ghi trong ngoặc đơn tên tác giả A và năm xuất bản tài
liệu của tác giả A (không được đọc trực tiếp), đi kèm theo sau bằng "in: " cùng với tên
và năm xuất bản của tác giả B (được đọc trực tiếp)
- Nếu một tài liệu của hai tác giả, ghi tên hai tác giả trong ngoặc đơn, nối bằng dấu
"&", và năm xuất bản sau tên tác giả thứ hai, không có dấu phẩy
- Nếu một tài liệu của ba tác giả, lần đầu tiên trích dẫn ghi tên ba tác giả, nối hai tác giả
đầu bằng dấu phẩy, tác giả thứ ba bằng dấu "&", năm xuất bản sau tên tác giả cuối

tham khảo, tương tự như kiểu Vancouver.
2.2 Các kiểu trình bày tài liệu tham khảo hiện tại:
2.2.1 Tài liệu nghiên cứu là tạp chí khoa học:
Các thành phần bắt buộc phải ghi đối với một tài liệu là bài báo đăng trong tạp
chí
khoa
học:
- Tên tác
giả
- Năm xuất bản (nằm trong ngoặc
đơn)
- Tên bài viết (nằm trong dấu nháy
đơn)
- Tên tờ báo hoặc tạp chí (in
nghiêng)
- Số,
kỳ
- Ngày tháng xuất bản và số
trang

dụ:
Theo ISO
690
Deleu, M et al. Apercu des techniques d’analyse conformationelle des
macromolecules
biologiques. Biotechnologie, Agronomie, Societé et Environnement, 1998, vol 2, no
4,
p.234-247
Theo cách tổng quan khoa
h

- Tên sách (in nghiêng hoặc gạch
dưới)
- Tên nhà xuất
bản
- Tên địa danh nơi nhà xuất bản tọa
lạc
- Lần tái bản (nếu
có)

dụ:
Theo ISO
690
Gall, J-C. Paléoécologie. Paysages et environnements disparus. 2e éd. Paris:
Masson,
1998. 239p. ISBN
2-225-83084-3
Theo cách tổng quan khoa
h
ọc
Gall, J-C. (1998). Paléoécologie. Paysages et environnements disparus. 2e éd.
Paris:
Masson
Theo các cách phổ biến
k
h
ác
Aigner, D. J: Basic Econometrics, Prentice Hall, Englewood Cliffs, N.J.,
1971.
2.2.3. Tài liệu nghiên cứu là các bài viết hoặc chương trong các sách (được viết trong các
dấu “ ”)

2.2.5.5 Những luận đề hoặc luận án (chưa được in thành ấn phẩm)
Bailey, T.O. (l976), The Relationship Between Income and Share Investment, Unpublished
Master Thesis, Monash University, Melbourne
2.2.5.6 Những bài diễn thuyết không phải là ấn phẩm
Atkins, J.M. (l976), Foreigner Funding, Speech at the Rotary Club, Melbourne, April,
21.
2.2.5.7 Các tài liệu kỹ thuật
World Bank (1992), Viet Nam: Population, Health and Nutrition Sector Review,
Report No. 102849-VN, East Asia and Pacific Regional Office, Washington, D.C.,
September.
2.2.5.8 Trang WEB
Đối với nguồn từ
I
n
t
erne
t
- Tên tác
giả
- Năm xuất bản (nằm trong ngoặc
đơn)
- Tên bài viết (nằm trong dấu nháy
đơn)
- Tên trang web chính (in
nghiêng)
- Địa chỉ chi tiết của bài viết (nếu
có)
- Ngày tháng năm truy
cập


w n

l o

a d

s / p d

f /I n

vesti n

g_ fa r m

e rs. p

d

f >
Theo cách tổng quan khoa
h
ọc
Ashby J.A., Braun A.R., Gracia T., Del Pilar Guerrero L., Hernandez L.A.,
Quiros
C.A.,
Roa J.I. (2000). Investing in Farmers as Researchers. Ciat publication n
0
318
[online]. Cali,
Colombia: CIAT, 2000. Available on World Wide


g_farm

ers.p

d

f>, Consulted Jan
20
th
2002
2.2.5.9 Những nguồn tài liệu của Việt Nam hoặc không phải tài liệu tiếng Anh.
Đưa danh mục tham khảo của các ấn phẩm bằng tiếng Việt hoặc ngôn ngữ khác tiếng Anh sẽ
áp dụng giống như liệt kê các ấn phầm bằng tiếng Anh (ví dụ: Tên (Năm), tên ấn phẩm, Nhà
xuất bản, Địa điểm). Đưa tham khảo các ấn phẩm của Việt Nam bằng tiếng Việt (không dịch
sang thứ tiếng khác). Liệt kê những tài liệu này trong cùng một danh mục tham khảo, coi như
là ấn phẩm bằng tiếng Anh).
Tên tác giả Việt Nam không được viết tắt chữ đầu hoặc sắp xếp lại, chỉ viết đúng họ tên.
Ví dụ:
Vũ Thiếu chứ không phải là Thieu, V. và Vu Hung Phuong chứ không phải Phuong, V.H. Chỉ
viết Thieu, V. nếu đây là cách được viết tại ấn phẩm không phải tiếng Việt.
2.3 Những hạn chế của cách viết trích dẫn và trình bày tài liệu tham khảo hiện tại:
Nếu không có điều kiện tiếp cận được một tài liệu gốc mà phải trích dẫn thông qua
một tài liệu khác thì phải nêu rõ cách trích dẫn này, đồng thời tài liệu gốc đó không được liệt
kê trong danh mục Tài liệu tham khảo của luận văn. Đối với các tài liệu dịch cũng được thực
hiện tương tự.
Nếu sử dụng tài liệu của người khác và của đồng tác giả (bảng biểu, hình vẽ, công
thức, đồ thị, phương trình, ý tưởng ) mà không chú dẫn tác giả và nguồn tài liệu thì bị coi là
thiếu trung thực trong khoa học, sẽ không được công nhận trước Hội Đồng báo cáo nghiên
cứu khoa học.

Ví dụ: Yếu tố C có ảnh hưởng mạnh nhất đến sản lượng nền kinh tế quốc dân (Nguyễn Văn
A, 2009)
Tên tác giả là thành phần của câu, năm xuất bản đặt trong ngoặc đơn.
Ví dụ: Nguyễn Văn A (2009) cho rằng yếu tố C có ảnh hưởng mạnh nhất đến sản lượng
nền kinh tế quốc dân.
Số trang tài liệu trích dẫn có thể được đưa vào trong trường hợp bài viết trích dẫn nguyên
văn một đoạn nội dung của tài liệu tham khảo.
Ví dụ: Nguyễn Văn A (2009, tr.19) nêu rõ “yếu tố C có ảnh hưởng mạnh nhất đến sản
lượng nền kinh tế quốc dân”
3.2. Danh sách tài liệu tham khảo (reference list)
Danh sách tài liệu được đặt cuối bài viết, được bắt đầu bằng tiêu đề “Tài liệu tham
khảo”, tiếp theo là danh mục liệt kê tài liệu tham khảo (sách, bài báo, nguồn ấn phẩm điện
tử) được sắp xếp thứ tự Alphabet theo tên tác giả, tên bài viết, không đánh số thứ tự.
Mỗi danh mục tài liệu tham khảo bao gồm các thông tin: tên tác giả, tên tác phẩm,
năm xuất bản, nơi xuất bản.
a. Quy chuẩn trình bày sách tham khảo
Mẫu quy chuẩn: Họ tên tác giả (năm xuất bản), tên sách, nhà xuất bản, nơi xuất bản
Ví dụ: Nguyễn Văn B (2009), Kinh tế Việt Nam năm 2008, Nhà xuất bản ABC, Hà
Nội.
Thành phần thông tin
Giải
thích
Nguyễn Văn B Tên tác giả
(2009), Năm xuất bản trong ngoặc đơn, tiếp sau là dấu phẩy (,)
Kinh tế Việt Nam năm 2008, Tên sách, chữ in nghiêng, chữ cái đầu tiên viết hoa, tiếp
sau là dấu phẩy (,)
Nhà xuất bản ABC, Tên nhà xuất bản, tiếp sau là dấu phẩy (,)
Hà Nội. Nơi xuất bản, kết thúc là dấu chấm (.)
b. Quy chuẩn trình bày tài liệu tham khảo là bài báo đăng trên tạp chí khoa học
Mẫu quy chuẩn: Họ tên tác giả (năm xuất bản), “tên bài báo”, tên tạp chí, số phát hành,


y.org/t

angtruo

ng.

pdf>.
Thành phần thông tin
Giải
thích
Nguyễn Văn A Tên tác giả
(2010), Năm xuất bản trong ngoặc đơn, tiếp sau là dấu phẩy (,)
Tăng trưởng bền vững, Tên bài viết in nghiêng, tiếp sau là dấu phẩy (,)
Tạp chí Y,
Tổ chức xuất bản, tiếp sau là dấu phẩy (,)
truy cập ngày 04 tháng 11 năm
2010,
ngày tháng năm truy cập, tiếp sau là dấu phẩy (,)
<
http://tapc h

i

y .org/ t

ang t

ruong.pd f>.
Liên kết đến bài viết trên website, kết thúc bằng dấu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status