nghiên cứu khả năng sinh trưởng phát triển và một số biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất, phẩm chất một số giống vải chín sớm ở miền bắc việt nam - Pdf 33

1

Mục lục
Lời cam đoan..................................................(i)
Lời cảm ơn...................................................(ii)
Mục lục.......................................................(iii)
Danh mục các bảng..........................................(vii)
Danh mục các đồ thị..................................................(ix)
Danh mục các ảnh minh hoạ................................................(x)
Danh mục các chữ viết tắt................................................. .(xi)
1.1.2. Phân loại giống và giống vải......................................................................9
1.1.2.1. Phân loại giống........................................................................................9
1.1.2.2. Các giống vải...........................................................................................9
1.2.1. Tình hình sản xuất....................................................................................13
Trên thế giới, hiện có trên 20 nớc trồng vải, trong đó các nớc Châu á có diện
tích trồng và sản lợng vải cao nhất. Theo GS. Trần Thế Tục [48], diện tích
trồng vải của Thế giới năm 1990 là 183.700 ha, sản lợng 251.000 tấn. Năm
2000 đạt xấp xỉ 780.000 ha với tổng sản lợng đạt tới 1,95 triệu tấn. Trong đó
các nớc Đông Nam á chiếm khoảng 600.000 ha và sản lợng đạt xấp xỉ 1,75
triệu tấn (chiếm 77% diện tích và 90% sản lợng vải của thế giới) [55]...........13
Trung Quốc là nớc đứng đầu thế giới về diện tích và sản lợng vải. ở miền Nam
Trung Quốc trồng vải đã trở thành ngành sản suất chủ lực từ những năm 1980.
Theo Mitra S.K.(1999), diện tích vải của Trung Quốc đạt 530.000ha với sản lợng là 950.000 tấn; năm 2001, diện tích trồng vải của Trung Quốc là 584.000
ha với sản lợng thu đợc 958.700 tấn quả tơi, trong đó tỉnh Quảng Đông là tỉnh
đứng đầu cả về diện tích và sản lợng: 303.080 ha và 793.200 tấn với các giống
chủ lực nh: Fay Zee Siu, Bah Lup, Baitang Ying, Haak yip, Kwai May, No
Mai Chee và Wai Chee [70], [82], [85], [100]. ấn Độ là nớc đứng thứ 2 về diện
tích và sản lợng vải trên thế giới. Theo Singh H. P. và Babita B. (1990), Ghosh
(2000); năm 1990 sản lợng vải của ấn độ mới chỉ đạt con số 91.860 tấn thì đến
năm 2000 diện tích vải của ấn Độ đã là 56.200 ha, với sản lợng đạt 428.900
tấn. Vùng sản xuất vải chủ yếu của ấn Độ là Bihar (310.000 tấn), West Bengal

.............................................................................................................................37
Chơng 3...............................................................................................................59
Kết quả nghiên cứu...........................................................................................59
Cả nớc.................................................................................................................60
3.1.2. Hiện trạng các giống vải ở miền Bắc Việt nam......................................63
2,69 0,17........................................................................................................102
2,59 0,22........................................................................................................102
Bảng 36. Mức độ nhiễm một số loại sâu bệnh chủ yếu..................................106
tại một số vùng sinh thái..................................................................................106
Các công trình đã công bố liên quan đến luận án
Tài liệu tham khảo

Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cây vải (Litchi chinensis Sonn.) là cây ăn quả á nhiệt đới có giá trị dinh
dỡng và giá trị kinh tế cao, đợc xác định là loại cây đặc sản trên thị trờng
trong nớc và thế giới.
Những năm gần đây, cây vải đợc coi là loại cây tiên phong trong phong
trào xoá đói giảm nghèo và từng bớc giúp ngời dân làm giầu đặc biệt là ở các
vùng đồi núi và trung du các tỉnh phía Bắc. Phần lớn các mô hình chuyển đổi
cơ cấu cây trồng đều lấy cây vải làm cây chủ lực để phát triển.
Tính đến năm 2007, tổng diện tích vải của cả nớc đã đạt 88.900 ha với
sản lợng 428.900 tấn. Trong đó diện tích cho sản phẩm là 77.500 ha với năng
suất trung bình 55,3 tạ/ha và giống trồng chủ yếu là vải thiều Thanh Hà với
thời gian thu hoạch ngắn (chủ yếu trong tháng 6) nên việc thu hoạch, vận
chuyển, bảo quản chế biến và tiêu thụ gặp nhiều khó khăn, làm giảm hiệu quả
kinh tế của ngời trồng vải [55].


3


Cây vải có nguồn gốc ở vùng giữa miền Nam Trung Quốc, bắc Việt
Nam và bán đảo Malay và đã đợc trồng trọt cách đây trên 3.000 năm. Hiện tại
ở Trung Quốc vẫn còn có những cây vải tổ ở huyện Bồ Điền tỉnh Phúc Kiến có
tuổi cây trên 1.000 năm; trong đó có cây to nhất chu vi thân đến 5,6m; đờng
kính tán cây chỗ lớn nhất đến 40m và chiều cao cây trên 16m; năm cho thu
hoạch cao nhất đến 1,5 tấn quả [34], [60].
Trên thực tế, nhiều tài liệu của Trung Quốc cho biết ở nhiều nơi có cây
vải mọc dại nh ở núi Tạ Hoài Sơn, huyện Liên Giang, tỉnh Quảng Đông;
Thạch Phợng Sơn, huyện Bác Bạch, tỉnh Vân Nam. Từ Tờng Hạo và cộng sự
căn cứ điều tra thực địa và từ góc độ lịch sử, hình thái và đặc trng quần lạc
sinh thái đã kết luận: Đảo Hải Nam có nhiều cây vải dại. Ngoài ra ở Dơng
Xuân, Hóa Châu, Liêm Giang và trên sáu vạn núi lớn ở vùng giáp gianh huyện
Bác Bạch và huyện Hồ Bắc của tỉnh Quảng Tây... đều có cây vải dại chứng tỏ
cây vải có nguồn gốc từ Trung Quốc [34].
Cuối thế kỷ thứ 17, cây vải từ Trung Quốc đầu tiên đợc đa vào Mianma,
cuối thế kỷ 18 đợc đa sang ấn Độ (Singh, 1954), năm 1775 vải đợc đa sang
quần đảo Tây ấn, năm 1854 đợc đa sang Ôxtralia (Queens và Anon, 1962).
Thế kỷ 18 vải đợc đa sang Nam Phi (Meulen, 1957), năm 1873 vải đợc
đa sang Hawai của Mỹ (Grove, 1952), năm 1886 vải đợc đa vào Florida của
Mỹ (Barley, 1916)... Vào những năm 30 của thế kỷ 20, các công nhân Hoa
Kiều gốc Quảng Đông đã đa vải vợt qua xích đạo vào Công Gô (bảng 1) (Cao
Lệ Hoa, 1985) [34].
Hiện nay, vải đợc trồng ở trên 20 nớc trên thế giới nhng chủ yếu phân
bố ở các nớc vùng Đông Nam á, Châu Đại Dơng, các đảo ở Thái Bình Dơng
và miền Nam Châu Phi.
ở Châu á có các nớc trồng vải nh: Trung Quốc, ấn Độ, Thái Lan, Việt
Nam, Mianma, Bănglades, Campuchia, Lào, Malaixia, Philippin, Srilanca,
Indonexia và Nhật Bản.
ở Châu Phi có: Nam Phi, Madagasca, Công Gô, GaBông, Morithiuyt và

1764
Năm du nhập
5
Madagasca
1770
Năm du nhập
6
West Indies
1775
Năm du nhập
7
India
1800
Năm du nhập
8
England
1800
Năm du nhập
9
France
1800
Năm du nhập
10 Australia
1854
Năm du nhập
11
Hawai
1873
Năm du nhập
12 South Africa

hội làng để tởng nhớ ngời có công đã mang cây vải - cây xoá đói giảm nghèo
và làm giầu về vùng quê này, góp phần đem lại ấm no cho ngời dân nơi đây.
Ngời dân vùng này cho biết, cách đây gần 1,5 thế kỷ, cụ Hoàng Văn
Cơm - thân sinh của cụ Hoàng Văn Thu ngày nay trong một chuyến đi buôn
bằng tầu biển với ngời Trung Quốc đã đợc họ chiêu đãi tiệc trên tầu, cuối bữa
tiệc có món tráng miệng là một thứ quả có mầu hồng tơi, hình cầu, ăn có vị
ngọt, thơm đã mang hạt về gieo tại đất Thanh Hà, Hải Dơng ngày nay. Trong 5
hạt gieo mọc đợc 3 cây và đây chính là những cây giống đầu tiên sau lan rộng
đi các vùng thành thứ cây đặc sản, giá trị kinh tế cao ngày nay. Tên vải Thiều
xuất phát từ tên địa danh mà cụ Hoàng Văn Cơm thu hạt vải về là vùng Thiều
Châu của Trung Quốc sau gọi tắt là vải Thiều.
Từ vùng Thanh Hà - Hải Dơng cây vải đã đợc đa đi trồng trọt ở hầu hết
các tỉnh miền Bắc, miền Trung và cả một số tỉnh Tây Nguyên. ở thời điểm
hiện tại, đã hình thành một số vùng trồng vải mang tính sản xuất hàng hoá nh
Thanh Hà, Chí Linh, Tứ Kỳ (Hải Dơng); Đông Triều, Hoành Bồ (Quảng


9

Ninh); Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế (Bắc Giang); Đồng Hỷ (Thái Nguyên)...
ở những nơi này cây vải thực sự đóng vai trò tiên phong trong công cuộc xoá
đói, giảm nghèo cho ngời dân trồng vải.
1.1.2. Phân loại giống và giống vải.
1.1.2.1. Phân loại giống
Vải (Litchi chinensis Sonn.) thuộc họ Bồ hòn (Sapindaceae), bộ Bồ hòn
(Sapindales), phân lớp hoa hồng (Rosidae). Họ Bồ hòn có 150 chi với khoảng
2000 loài đợc phân bố ở vùng Nhiệt đới và á nhiệt đới ấm áp, chủ yếu tập
trung ở vùng Châu á và một số ít loài thuộc Nam Mỹ, Châu Phi và Australia
[92], [95].
Vải có 3 loài phụ:

giống chín sớm, khả năng thích nghi với điều kiện môi trờng cao (khối lợng
quả lớn: 35,3 - 62g/quả, tỷ lệ quả hạt lép cao trên 90%, đờng tổng số > 17%;
tỷ lệ ăn đợc > 80%) [34], [77], [85], [101].
ở ấn Độ, vải đợc trồng tập trung ở các bang vùng phía Đông chiếm
60% tổng diện tích, các bang ở Bắc ấn Độ với diện tích khoảng 16%. Các
bang trồng vải chủ yếu của ấn Độ là: Bihar (chiếm trên 74% diện tích), West
Belgan, Tripura, Asam và Uttaranchal. Các giống trồng quan trọng ở ấn độ là:
Shahi, Bombai, Chi na, Deshi, Calcutta, Rose Scented, và Mazaffarpur. Hai
giống lai mới đợc chọn tạo là H-105 và H-73 có tiềm năng cho năng suất cao
và đang đợc phát triển mạnh trong sản xuất [70], [72], [87].
ở Thái Lan, các giống chính đợc trồng là Haak Yip, Taiso, Wai Chee
(tên địa phơng là Baidum, Hong Huey và Kim Cheng). Các giống vải trồng
của Thái Lan đợc phân thành 2 nhóm: nhóm vải Nhiệt đới và nhóm vải á
nhiệt đới. Nhóm vải Nhiệt đới thích hợp và trồng có tính thơng mại ở các tỉnh
vùng miền Trung Thái Lan với các tháng mùa đông ấm áp. Có khoảng 20
giống thuộc nhóm này. Nhóm vải á nhiệt đới đợc trồng chủ yếu ở các tỉnh
vùng Bắc Thái Lan nơi có mùa đông mát mẻ hơn. Có khoảng 10 giống thuộc
nhóm này. Giống Kom đợc coi là giống quan trọng của nhóm vải Nhiệt đới,
giống Hong Huay là giống chủ đạo của vùng á nhiệt đới [58], [64].
Có khoảng trên 40 giống vải đợc trồng ở Australia. Các giống hiện tại
đang đợc trồng ở Bắc Queensland là Kwai May Pinhk, Fay Zee Siu và Souey
TungKwai May Pinhk là giống trồng phổ biến ở miền Trung và Nam
Queensland và Bắc New South Wales cùng với 2 giống Salathiel và Wai Chee.
Các giống quan trọng nhất hiện nay là: Tai So, Haak Ip, Kwai May Pink,
Bosworth No3, Wai Chi, Fay Zee Siu, Salathiel [68], [81].
Giống vải trồng chủ yếu của Đài Loan là: Hak Ip, Yu Her Pau, No Mai
Chi, Sa Ken, Kwai Mi, trong đó Hak Ip là giống trồng phổ biến nhất (chiếm
khoảng trên 90% diện tích trồng trọt), tiếp sau đó là giống Yu Her Pau (10%)
đợc trồng ở phía Nam và No Mi Tsu đợc trồng ở miền Trung [85], [99].


Rose Scented, Green, Kasba, Longia, Purbi, và
Mazaffarpur.

3

Thái Lan

Tai So, Wai chee, Baidum, Chacapat và Kom

4

Đài Loan

Haak Yip, Sah Keng, Yu Her Pau, No Mai Chi, Sa Ken
và Kwai Mi.

5

Australia
Nam Phi

Fay Zee Siu, Tai So, Bengal, Wai Chee, Kwai May
Pink, và Salathiel
Tai So, Bengal,

Madagascar

Tai So

Mauritius

Soveytung, Sumyehong và Feyzeesiu, [7].
Năm 1997, tập đoàn 5 giống vải đợc nhập nội và đánh giá tại Viện
Nghiên cứu Rau quả là Mỏ Gà, Phi Tử Tiếu, Tam Nguyệt Hồng, Hắc Diệp và
Bạch Đờng Anh. Qua thời gian đánh giá cho thấy, giống vải Mỏ gà có triển
vọng. Đặc điểm: có khả năng sinh trởng tốt, ra quả đều qua các năm, khối lợng
trung bình quả: 25 - 30g, tỷ lệ ăn đợc xấp xỉ các giống hạt lép trồng tại Trung
Quốc 80%. Ngoài ra các giống vải u tú của Trung Quốc nh Bạch Đờng Anh,
Đại Hồng, Diệp Xuân... cũng đã đợc nhập về Việt Nam thông qua các cơ quan
quản lý, sản xuất nông nghiệp nh Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn các
tỉnh: Bắc Giang, Quảng Ninh, Yên Bái... [14].
ở nớc ta, theo GS. Trần Thế Tục [48], các giống vải có thể phân chia theo
thời vụ hoặc theo đặc điểm sinh trởng và phẩm chất quả. Các tác giả đều thống
nhất ở miền Bắc Việt Nam các nhóm giống và giống vải đợc phân chia nh sau:
- Theo thời vụ có: Nhóm chín sớm, nhóm chín chính vụ và nhóm chín
muộn.
- Theo đặc điểm sinh trởng và phẩm chất quả: Nhóm Vải chua, nhóm
vải nhỡ và nhóm vải thiều.
* Các giống vải chín sớm: Là các giống vải có thời gian chín từ 5/5 đến
25/5 hàng năm trong điều kiện các tỉnh phía Bắc Việt Nam. Chùm hoa có phủ
một lớp lông tha màu nâu. Khối lợng trung bình quả đạt 30 - 40g, tỷ lệ phần
ăn đợc 65 - 72%, quả hình tim hay hình trứng, vỏ quả khi chín có màu xanh
vàng hay đỏ sẫm, ăn có vị ngọt hơi chua. Các giống này thờng có năng suất
cao, ổn định, có khả năng thích ứng rộng hơn các giống chính vụ và chín
muộn. Các giống thuộc nhóm này là: Hùng Long, Yên Hng, Yên Phú, Phúc
Hoà, Bình Khê.
* Các giống vải chính vụ: Là các giống vải có thời gian chín tập trung
trong khoảng từ 1/6 đến 25/6 trong điều kiện các tỉnh phía Bắc Việt Nam.
Chùm hoa có phủ lớp lông màu trắng. Khối lợng quả trung bình quả đạt 18 25g, tỷ lệ phần ăn đợc 68 - 82%. Quả hình cầu, vỏ quả khi chín có màu đỏ tơi,
ăn có vị ngọt thanh, cùi ráo, vị thơm, năng suất khá cao. Các giống thuộc nhóm
này là: Thiều Thanh Hà, Thiều Phú Hộ, Thiều Lục Ngạn.

triệu tấn (chiếm 77% diện tích và 90% sản lợng vải của thế giới) [55].
Trung Quốc là nớc đứng đầu thế giới về diện tích và sản lợng vải. ở
miền Nam Trung Quốc trồng vải đã trở thành ngành sản suất chủ lực từ những
năm 1980. Theo Mitra S.K.(1999), diện tích vải của Trung Quốc đạt
530.000ha với sản lợng là 950.000 tấn; năm 2001, diện tích trồng vải của
Trung Quốc là 584.000 ha với sản lợng thu đợc 958.700 tấn quả tơi, trong đó
tỉnh Quảng Đông là tỉnh đứng đầu cả về diện tích và sản lợng: 303.080 ha và
793.200 tấn với các giống chủ lực nh: Fay Zee Siu, Bah Lup, Baitang Ying,
Haak yip, Kwai May, No Mai Chee và Wai Chee [70], [82], [85], [100].


14
ấn Độ là nớc đứng thứ 2 về diện tích và sản lợng vải trên thế giới. Theo
Singh H. P. và Babita B. (1990), Ghosh (2000); năm 1990 sản lợng vải của ấn
độ mới chỉ đạt con số 91.860 tấn thì đến năm 2000 diện tích vải của ấn Độ
đã là 56.200 ha, với sản lợng đạt 428.900 tấn. Vùng sản xuất vải chủ yếu của
ấn Độ là Bihar (310.000 tấn), West Bengal (36.000 tấn), Tripura (27.000 tấn)
và Uttar Pradesh (14.000 tấn). Ngoài ra nó còn đợc sản xuất ở một số nơi khác
nh Assam (17.000 tấn), Punjab (13.000 tấn), Orissa, Himachal Pradesh và
Nilgiri. Các giống trồng chủ yếu là Shahi, China, Cancuttia, Bendana, Late
bendana, Rose Scented, Bombai, Muzaffarpur và Longia.
Diện tích vải ở Thái Lan năm 1999 đạt 22.200 ha với sản lợng 85.083
tấn. Vùng sản xuất vải chủ yếu của Thái Lan là vùng khí hậu á nhiệt đới nh
Chiang Mai, Chiang Rai, Phayao, Nan, Lamphun, Phrae và Fang với các giống
chính: Tai So (Hong Huay), Chacapat, Wai chi (Kim Cheng), Haak Yip (Ohia)
và Kom, [85].
ở Bănglades, vải đợc trồng tập trung ở các huyện Dinajpur, Rangpur và
Rangshahi với tổng diện tích trồng trọt năm 1998 đạt 4.750ha và sản lợng đạt
12.755tấn.


2001
2000
1999
2001
1998
2001
1999
2001

Diện tích (ha)
584.000
56.200
22.200
12.000
4.750
2.500
2.830
486

Sản lợng (tấn)
958.000
429.000
85.083
108.668
12.755
6.000
13.875
-



Theo Xuming H., Lian Z. (2001), gần một nửa sản lợng vải của Trung
Quốc tiêu thụ tại thị trờng nội địa. Hàng năm, Trung Quốc chỉ xuất khẩu một


17

lợng vải khoảng 10.000 đến 20.000 tấn (chiếm khoảng trên 2% sản lợng vải).
Thị trờng xuất khẩu của Trung Quốc chủ yếu là Hồng Kông, Singapore và một
số nớc Đông Nam á. Giá vải của Trung Quốc giao động từ 0,5 đến 2,5
USD/kg tuỳ thuộc vào chất lợng quả và thời vụ thu hoạch, cao nhất là giá của
các giống No Mai Chee và Kwai May hạt nhỏ với giá 10,0 USD/kg, giá trung
bình tại Singapore và Anh là 6 USD/kg; tại Nam Mỹ là 15 USD/kg [82], [100].
Đài Loan hàng năm xuất khẩu khoảng 5.700 tấn vải cho các nớc: Philippines:
2.000tấn; Nhật: 1.000 tấn; Singapore: 500 tấn; Mỹ: 1.200 tấn; Canada:
1.000tấn.
Australia là nớc sản xuất vải với số lợng ít, nhng lại tập trung chủ yếu
cho xuất khẩu. Khoảng 30% sản lợng vải của Australia xuất khẩu cho Hồng
Kông, Singapore, Châu âu và các nớc ả rập nhng Australia lại phải nhập khẩu
vải của Trung Quốc vào những tháng trái vụ.
Thị trờng nội địa là thị trờng mạnh tiêu thụ vải tơi của hầu hết các quốc
gia sản xuất vải trên thế giới. Các nớc hàng năm chỉ xuất khẩu một lợng vải
rất nhỏ trên thị trờng thế giới [82].
ở Việt Nam, khoảng 75% sản lợng vải của cả nớc đợc tiêu thụ ngay
trong thị trờng nội địa, phần còn lại đợc sơ chế, xuất khẩu tơi và chế biến. Các
sản phẩm sơ chế và chế biến gồm vải sấy khô, vải lạnh đông, vải nớc đờng và
Purê vải (bảng 4). Thị trờng xuất khẩu vải tơi còn rất hạn chế do nhiều nguyên
nhân nh: khả năng bảo quản của quả vải ngắn, chất lợng về sinh an toàn thực
phẩm hạn chế, điều kiện vệ sinh cơ sở hạ tầng sau thu hoạch kém.
Thị trờng xuất khẩu vải của nớc ta chủ yếu là Trung Quốc, Hồng Kông,
Hàn Quốc, Nhật Bản, Hà Lan, Thuỵ Sỹ, Mỹ và một số quốc gia khác trong



18

Thị trờng vải tơi chủ yếu ở Hà Nội và Thành Phố Hồ Chí Minh, vải sấy
khô chủ yếu bán sang Trung Quốc và một phần sang Lào, Campuchia. Hầu hết
sản phẩm vải qua t thơng tiêu thụ, có rất ít tổ chức đứng ra thu mua vải cho
ngời sản xuất.
Bảng 5. Lợng xuất khẩu các mặt hàng từ quả vải 6 tháng
năm 2007
TT
1
2
3

Mặt hàng
Vải tơi
Vải hộp
Vải đông
lạnh
Tổng cộng

Nớc nhập khẩu
Hàn Quốc
Nhật Bản,
Pháp
Hà Lan,
Hàn Quốc

Sản lợng (tấn)

mùa Vải là những năm có nhiệt độ thấp nhất trong phạm vi 1,5 - 140 C. Trong
vòng 25 năm có 10 năm đợc mùa Vải thì nhiệt độ thấp nhất đều nằm trong
phạm vi này. Nghê Diệu Nguyên (1985) cho rằng cờng độ và thời gian kéo dài
của nhiệt độ thấp có ảnh hởng đến sự phân hoá mầm hoa của giống vải Hắc
Diệp. Nhiệt độ không khí bình quân từ thợng tuần tháng 12 đến trung tuần
tháng 1 trong khoảng trên hoặc bằng 15 0C, nhiệt độ bình quân thấp nhất là
khoảng 120C thì thời gian phân hoá mầm hoa kéo dài, còn thời gian ra hoa t-


19

ơng ứng lại ngắn. Ngợc lại nếu nhiệt độ không khí bằng hoặc dới 130C, nhiệt
độ không khí bình quân thấp nhất 100C, thì thời gian phân hoá mầm hoa
ngắn và thời gian ra hoa kéo dài. Trên cơ sở tích luỹ dinh dỡng đạt đến mức
độ nhất định trong cây khi nhiệt độ thấp nhất đến càng sớm thì sự phân hoá
mầm hoa càng sớm. Thời gian nhiệt độ thấp càng dài thì chùm hoa càng to, số
lợng hoa càng nhiều.
Nhiệt độ có liên quan đến tỷ lệ hoa cái và hoa đực của vải trong thời
gian phân hoá mầm hoa từ tháng 1 đến tháng 3, nhiệt độ bình quân trong ngày
thấp thì tỷ lệ hoa cái cao, nhiệt độ tăng cao thì tỷ lệ hoa cái giảm (bảng 6)
[34].
Bảng 6. Quan hệ giữa nhiệt độ và tỷ lệ hoa cái của vải
Nhiệt độ (0C)
12.8
13.1
14.9
15.4
15.9
16.1
16.4

quả. Nhiệt độ bình quân hữu hiệu càng cao thì quả sinh trởng phát triển càng
nhanh, ngợc lại, nhiệt độ bình quân hữu hiệu càng thấp thì sinh trởng của quả
càng chậm [34].
Theo C. M. Menzel và D. R. Simpson, hoa vải chỉ phân hoá sau khi qua
thời kì ức chế sinh trởng ở nhiệt độ < 200C. ở úc vải phân hoá mầm hoa và
thời kì từ tháng 3 - 6 nhiệt độ tối thấp và tối cao trong thời kì này giao động từ
6 - 180 C đến 18 - 260C.
Theo GS. Vũ Công Hậu và GS. Trần Thế Tục, nhiệt độ có ảnh hởng sâu
sắc đến sinh trởng và phát triển của cây vải. Những vùng trồng vải thờng có
nhiệt độ bình quân 10 - 170 C, nhiệt độ thấp nhất không quá - 2 0, nhiệt độ
thích hợp cho sinh trởng là 24 - 290C [24], [49]. Theo PGS. Phạm Văn Côn
(2004), nhiệt độ là một trong những nhân tố khí hậu chính không điều khiển
đợc, nó quyết định diện tích trồng trọt và ảnh hởng rõ rệt đến năng suất cây
trồng. Với cây vải, khi ra hoa, đậu quả cần nhiệt độ hơi lạnh và khô, tổng tích
ôn khoảng 2.500 - 2.6000C. ở thời kỳ hình thành chồi hoa tháng 11, 12 gặp
trời lạnh và khô đọt hoa ra thoát, ngợc lại trời nóng và ẩm thì ra đọt lá. Vào
tháng 1, 2 khi nở hoa, đậu quả gặp thời tiết tốt, không gặp gió bắc, ma phùn
kéo dài thì thụ phấn thuận lợi, đậu quả nhiều [5].
Nh vậy, nhìn chung vải cần có nhu cầu nhiệt độ thấp trong một thời
gian cần thiết cho sự phân hoá hoa tuy nhiên thời gian và nhu cầu lạnh rất
khác nhau giữa các giống, thờng yêu cầu nhiệt độ lạnh từ tháng 10 đến tháng
1 năm sau tuỳ theo đặc tính của giống.
1.3.2. Yêu cầu về ánh sáng
Vải là cây a ánh sáng, vì vậy ngời Trung Quốc có câu Đơng nhật lệ
chi, bối nhật long nhãn nghĩa là nhãn có thể chịu bóng râm Quay lng về
phía mặt trời còn Vải phải trồng ở chỗ có ánh sáng chiếu chính diện. Cây vải
là cây cần ánh sáng quanh năm, nhất là vải tháng 11, 12 nắng càng nhiều càng
thuận lợi cho sự phân hoá mầm hoa và tháng 2, 3 có nắng thì quá trình thụ
phấn thụ tinh thuận lợi. Cây vải cần tổng số giờ chiếu sáng trong năm từ 1800
giờ trở nên là khá hợp.

quả rất thấp có thể dẫn đến mất mùa. Phấn hoa trong nớc nửa giờ có một bộ
phận bắt đầu nẩy mầm, 1 - 1,5 giờ phần lớn hạt phấn nảy mầm, sau 2 giờ cơ
bản ngừng nảy mầm.


22

Nếu ngâm phấn hoa trong nớc quá nửa giờ, màng ngoài của 70% số hạt
phấn bắt đầu trơng lên, khoảng 1 giờ, đầu trên ống phấn hoa bị vỡ ra, nguyên
sinh chất chảy ra ngoài và ngừng sinh trởng.
ở các tỉnh phía Bắc nớc ta, có chế độ ma và ẩm tơng đối thích hợp cho
sinh trởng, phát triển của cây vải. Mùa khô bắt đầu vào các tháng 11, 12 và
cũng là lúc vải cần điều kiện khô và lạnh để phân hoá mầm hoa, ra hoa. Mùa
ma bắt đầu vào tháng 4, 5 là lúc vải cần nhiều nớc để nuôi quả đang lớn [5].
1.3.4. Yêu cầu về đất đai
Cây vải có khả năng thích nghi với điều kiện đất đai. Các loại đất phù
xa, đất có tầng canh tác dày, đất giàu dinh dỡng, đất đồng bằng... thích hợp
cho vải sinh trởng, phát triển. Theo Nghê Diệu Nguyên (1991), đất núi, đất đồi
địa thế cao, tầng đất dày, tiêu nớc tốt nhng nghèo chất hữu cơ và độ phì thấp,
muốn trồng vải cho hiệu quả kinh tế cao cần cần phải cày xới, bón phân, tới nớc đầy đủ cải tạo đất thì bộ rễ mới ăn sâu, rộng, tăng đợc thế sinh trởng của
cây. So với vải trồng ở vùng đồng bằng thì cây vải trồng ở vùng đồi núi có tuổi
thọ cao hơn, vỏ quả dày hơn, mã quả tơi hơn, vị ngọt, chất lợng khá [34].
Theo các kết quả nghiên cứu của GS. Trần Thế Tục, Vũ Thiện Chính
(1997) và của Vũ Thiện Chính (1999), ở nớc ta, cây vải là loại cây không kén
đất, có thể trồng đợc trên nhiều loại đất từ đất bãi ven sông, đất ruộng đến đất
gò, đồi. Mức độ thích nghi của cây vải thiều đối với các loại đất đợc thể hiện ở
bảng 7 [10], [33], [47] (bảng 7).
Bảng 7. Mức độ thích nghi của cây vải thiều đối với đất đai.
Chỉ tiêu


70 - 100

50 - 70

< 50

N1

N2

N3

Độ phì đất

Ghi chú: S1: Rất thích hợp;
S2: Thích hợp;
S3: ít thích hợp.
P: Đất phù sa;
Fa: đất đỏ vàng trên đá macma axit; Fp: đất nâu vàng trên phù sa cổ; Fq: đất vàng nhạt
trên đá cát; Fk: đất nâu đỏ trên macma bazơ và trung tính; Fs: đất đỏ vàng trên phiến
thạch sét và biến chất; Fv: đất nâu đỏ trên đá vôi.

1.3.5. Yêu cầu về các điều kiện khác


23

Cây vải ít chịu đợc gió do có tán dầy và rộng, vải thờng trồng bằng cành
chiết nên bộ rễ kém phát triển và thờng ăn nông, nên chống gió bão kém. Cây
trồng bằng hạt rễ ăn sâu ít bị gió bão hơn nhng nếu gió nhỏ thờng có lợi cho



24

ớc và phân bón thì sau khi thu hoạch quả chỉ ra đợc 1 đợt cành thu vào tháng 8
- 9. Đó là lứa cành mẹ tốt cho năm sau.
Trên những cây vải có ít hoa, ở những cành không có hoa thì trong
tháng 3 - 4 ra một đợt cành, đến mùa thu ra thêm một đợt cành nữa, đợt cành
thu này là cành mẹ tốt cho năm sau. Nếu cây ra hoa xong, gặp điều kiện thời
tiết không thuận lợi, toàn bộ hoa và quả đều bị rụng thì đến tháng 6 - 7 ở đầu
mầm ngọn của cành này mọc ra những cành hè, nếu cây khoẻ thì trên đợt cành
hè này tiếp tục nảy một đợt cành thu vào tháng 8 - 9. Trong điều kiện đủ phân,
nớc, nhiệt độ thì từ khi nảy lộc đến thành thục một đợt lộc cần 50 ngày. Cây
đã già chỉ mọc đợc 1 - 2 đợt cành.
Theo Nghê Diệu Nguyên và Ngô Tố Phần (1991), do cây trong thời kỳ
này sinh trởng liên tục nên chất dinh dỡng dự trữ không nhiều từ đó rất khó
hình thành mầm hoa, tỷ lệ hoa cái thấp, thông thờng chỉ chiếm 20% trở
xuống.
Đối với cây 7 - 20 năm tuổi, bộ khung tán đã cơ bản ổn định, sinh trởng
khoẻ nhng không quá mạnh. Thời kỳ này, quá trình sinh trởng sinh thực chiếm
u thế, lợng hoa quả nhiều. Sau vài năm sai quả, cây sẽ bị suy yếu, nếu không
bù đắp lợng chất đã bị tiêu hao trong quá trình ra hoa đậu quả thì cây có thể
rụng lá và già cỗi nhanh.
Những cây trên 20 năm tuổi, lợng quả và sinh trởng của cây bắt đầu
giảm, lợng cành phát sinh ít, yếu, cành khô nhiều lên, rễ mới ít, bộ rễ suy yếu,
cây già cỗi nhanh, nếu không có biện pháp chăm sóc và cải tạo hợp lý (bón bổ
sung dinh dỡng, đốn phớt, đốn đau, đốn trẻ lại, phòng trừ sâu bệnh...) [34].
b. Đặc điểm lá vải
Lá vải là loại lá kép hình lông chim chẵn. Cây vải thực sinh non thì lá
kép thứ nhất và thứ hai chỉ có một đôi lá nhỏ, lá kép thứ hai và thứ ba có hai

4 loại hoa: Hoa cái, hoa đực, hoa lỡng tính, hoa biến thái.
1.4.2. Đặc điểm ra lộc
Thời tiết và điều kiện chăm sóc khác nhau có ảnh hởng rất lớn đến thời
gian ra lộc dài hay ngắn và sự biến đổi mầu sắc của lộc.
1.4.2.1. Lộc xuân:
Lộc xuân thờng mọc ra từ tháng 2 đến tháng 3, nhng thời gian phát sinh
thay đổi theo thế cây khoẻ yếu, nhiệt độ không khí cao hay thấp, chế độ chăm
sóc đầy đủ hay hạn chế. Cây khoẻ mạnh thì lộc thu năm trớc ra sớm, cây
không có lộc đông đến cuối tháng 12 chồi ngọn và mấy chồi bên phía dới khá
mập, nên ra lộc xuân khá sớm, phần nhiều phát sinh vào giữa hoặc cuối tháng
1 sau khi có ma phùn. Cây hơi yếu năm trớc ra lộc thu muộn hoặc nhiệt độ
đông xuân lại thấp thì lộc xuân phát sinh hơi muộn vào tháng 2 - 3, số ít ra
muộn vào tháng 4, thời gian lộc thành thục 60 - 70 ngày. Các giống chín chính
vụ và chín muộn tháng 2 - 3 chùm hoa phát triển, cuối tháng 3 đầu tháng 4 nở
hoa. Trong cùng một cây nếu lộc xuân ra nhiều sẽ ảnh hởng tới số lợng và chất



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status