Quản lý nhà nước về đất đai và bất động sản - Pdf 33

Bài tập nhóm 5 : Môn quản lí nhà nước về đất đai và nhà ở
Thành viên nhóm :
1.
2.
3.
4.
5.

Đoàn Ngọc Anh
Hà Văn Long
Trần Tiến Đạt
Nguyễn Trọng Nghĩa
Phạm Kim Tiến

Câu 28 : Năm 2005, con tôi chuyển vào Tây Nguyên để lại cho tôi mảnh vườn ở
làng rộng 700m2, gồm 3 gian nhà cấp 4, nay tôi muốn sang tên đất từ tên con tôi
sang tên tôi thì phải làm thế nào? Tôi có phải nộp thuế và gì khác không?
Trả lời :
Theo điều 127 luật đất đai : Trình tự, thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
1. Việc nộp hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất được quy định như sau:
a) Hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất nộp tại văn phòng đăng ký quyền sử
dụng đất; trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất tại nông thôn thì nộp tại Uỷ
ban nhân dân xã nơi có đất để chuyển cho văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất;
b) Hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất gồm hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải có chứng nhận của công chứng
nhà nước; trường hợp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hộ gia đình,
cá nhân thì được lựa chọn hình thức chứng nhận của công chứng nhà nước hoặc
chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất.
2. Trong thời hạn không quá mười lăm ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ
sơ hợp lệ, văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất có trách nhiệm thẩm tra hồ sơ, gửi




Như vậy, người được nhận chuyển nhượng quyền SD đất trong trường hợp
này không phải nộp phí trước bạ mà chỉ thực hiện các nghĩa vụ tài chính
khác như phí địa chính, phí đánh giá.


Câu 30 : Một dự án được nhà nước giao đất có thu tiền SD đất trong vòng 40 năm.
Vậy số tiền SD đất mà dự án phải nộp cho nhà nước được tính như thế nào?
Trả lời :

Theo khoản 2 điều 5 nghị định số 198/2004/NĐ- CP về thu tiền sử dụng đất khi
nhà nước giao đất :
Trường hợp giao đất có thời hạn trong thời hạn dưới 70 năm: dự án có thời hạn sử
dụng đất dưới 70 năm thì giảm tiền thu đất của mỗi năm không được giao đất SD
là 1.2 % của mức phí 70 năm.
Công thức tính thu tiền SD đất trong trường hợp này như sau:
Tiền SD đất của thời hạn giao đất( nnăm) = sốtiền SD đất của thời hạn 70 năm –
( tiền SD đất của thời hạn 70 năm x (70-n) x 1.2%).

CÂU 6 : Trong các nguyên tắc quản lí nhà nước về đất đai và nhà ở, nguyên tắc
nào quan trọng nhất ? Vì sao?

I, TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÍ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI VÀ NHÀ Ở

Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là
thành phần quan trọng hang đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu
dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng.


+ Nhà nước nắm quyền quản lí về các vấn đề cơ bản liên quan đó la về
đất đai & bất động sản.
+ Nhà nước thực hiện phân cấp, phân quyền.giao nhiệm vụ và trách
nhiệm cho các cơ quan quản lí cấp dưới.

b .Nguyên tắc đảm bảo kết hợp quyền sở hữu và quyền sử dụng:
*

Phân biệt quyền sở hữu và quyền sử dụng:
_ Quyền sở hữu :


+ Quyền định đoạt số phận pháp lí
+ Quyền chiếm hữu

:loại bỏ người sử dụng khác

+ Quyền sử dụng : khai thác lợi ích
_Quyền sử dụng là một phần trong quyền sở hữu.
c. Nguyên tắc đảm bảo sự kết hợp hài hòa giữa các lợi ích.
Nhà ở là yếu tố liên quan đến tất cả mọi người, bởi vì ai cũng cần phải có nhà để
ở để tồn tại và phát triển, nhằm thỏa mãn ngày càng đầy đủ hơn nhu cầu cá nhân và
gia đình.Như vậy nhà ở liên quan chặt chẽ đến lợi ích cá nhân,lợi ích của mọi tổ
chức kinh tế, chính trị , xã hội , đến lợi ích chung của toàn xã hội.

Đất đai cũng phản ánh mối quan hệ về lợi ích cá nhân , tập thể và lợi ích của
cộng đồng xã hội.Đối với các tổ chức kinh tế, đất đai là yếu tố sản xuất,còn các tổ
chức chính trị xã hội, đất đai là cơ sở,là nên móng để tồn tại và phát triển.Mặt khác
đất đai là tài sản quốc gia,vì vậy nó phản ảnh lợi ích chung của xã hội.


.II, ĐẢM BẢO SỰ TẬP TRUNG VÀ THỐNG NHẤT CỦA NHÀ NƯỚC LÀ
QUAN TRỌNG NHẤT

1, Sự cần thiết phải quản lí Nhà nước về đất đai tập trung và thống nhất

Xuất phát từ vai trò, vị trí của đất đai đối với sự sống và phát triển của xã hội loài
người nói chung, phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia riêng, mà đất đai đòi
hỏi phải có sự quản lí của nhà nước. Đât đai là tài sản quốc gia thể hiện quyền lãnh
thổ của quốc gia đó. Vì vậy cần thiết phải có sự quản lí Nhà nước về đất đai.


Do đặc điểm của đất đai có hạn về số lượng, diện tích trên toàn cầu noi chung và
từng vùng , từng quốc gia nói riêng : có vị trí cố định, sự phân bố các loại đất rất đa
dạng gắn liền với tính chất của đất và điều kiện tự nhiên khác nhau… vì vây, mỗi
quốc gia đều có sự quản lí Nhà nước đối với đất đai – nguồn tài nguyên quý giá có
hạn này, nhằm sử dụng tiết kiệm hiệu quả cao trong việc khai thác mọi tiềm năng
lợi thế của đất đai ở quốc gia mình.

Vấn đề quản lí Nhà nước về đất đai và nhà thống nhất, tập trung cần xem xét
trong mối quan hệ với chủ sở hữu đất đai và người sử dụng đất đai, nhằm đem đến
một quan điểm rõ rang xác đáng hơn về quan hệ hai chiều giữa quản lí và việc
chấp hành các nội dung đó của cơ quan quản lí nhà nước về đất đai và người sử
dụng đất đai để tạo được sự thống nhất trong nguyên tắc làm việc.

Do tầm quan trọng và vai trò rộng lớn của đất đai với xã hội, đất đai không những
là sản phẩm của tự nhiên mà còn là sản phẩm của xã hội, và cũng thể hiện ý chí
quyền lực của bộ máy nhà nước, đại diện cho lợi ích giai cấp mình cho cả quốc gia
nói chung, nên đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước đại diện chủ sở hữu
đứng ra quản lí. Thực tiễn nền kinh tế nước ta đang trên đà phát triển từ nên kinh tế
tập chung sang nền kinh tế hang hóa nhiều thành phần hoạt động theo cơ chế thị

- Đầu tư tương xứng cho quản lí đất đai

- Cải cách bộ máy hành chính quản lí đất đai
- Công tác thanh tra giám sát, giải quyết kịp thời các tồn đọng để nâng cao hiệu
quả quản lí của nhà nước………………

III. KẾT LUẬN


Đất đai là yếu tố quan trọng, liên quan đến mọi hoạt động đời sống kinh tế xã hội
đang diễn ra hằng ngày và nó quyết định đến sự tồn tại phát triển của xã hội loài
người và sự phồn thịnh của mỗi quốc gia. Nhưng thực tế nguồn tài nguyên này
đang được khai thác và sử dụng vô cùng đa dạng và phong phú, tuy nhiên còn gây
ra nhiều sự lãng phí sử dụng chưa hiệu quả vì vậy cần có sự quản lí của Nhà nước
về đất đai và nguyên tắc quan trọng nhất là tạo được sự thống nhất tập trung là
quan trọng nhất để đảm bảo sử dụng đất đai một cách hiệu quả, tiết kiệm trong nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cho công cuộc xây dựng đất nước
hiện nay.
Câu 26 : Tại một tỉnh có rừng đầu nguồn, chính quyền địa phương đã chia đất
rừng đầu nguồn cho các hộ gia đình quả lý và sử dụng. Việc làm này có vi phạm
những nguyên tắc quản lý đất đai hay không? Nếu vi phạm thì vi phạm nguyên tắc
nào? Vì sao?
Trả lời:
Rừng đầu nguồn và vai trò của rừng đầu nguồn:
Rừng đầu nguồn là một loại của rừng phòng hộ, rừng phòng hộ có vai trò đẻ
bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đát, chống xói mòn, chống sa mạc hóa, hạn chế thiên
tai, điều hòa khí hậu và bảo về môi trường.
Rừng phòng hộ đầu nguồn có vai trò điều tiết nguồn nước cho các dòng
chảy, các hồ chứa để hạn chế lũ lụt, giảm xói mòn, bảo vệ đất, ngăn ngừa bồi lấp
lòng sông, lòng hồ.

giao đất đối với cộng đồng dân cư.
3. Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn cho thuê đất thuộc quỹ đất nông nghiệp sử
dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn.
4. Cơ quan có thẩm quyền quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục
đích sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này không được ủy quyền.
=> Như vậy, đất rừng đầu nguồn không thuộc quản lý của chính quyền địa phương
cấp xã, phường, thị trấn. Việc chính quyền địa phương đã tự ý chia đất rừng đầu
nguồn cho các hộ gia đình quản lý và sử dụng là vi phạm pháp luật về đất đai.


Theo như khoản 3 của điều 37, Luật đất đai thì Chính quyền địa phương( cấp xã)
chỉ có quyền giao đất với đất thuộc quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích
công ích của địa phương. Mà đất rừng đầu nguồn không thuộc quỹ đất của địa
phương, nó không thuộc quyền quản lý của cấp địa phương. Do đó mà chính quyền
quyền địa phương cấp xã sẽ không có quyền trong việc quản lý đất rừng đầu nguồn
này, nó thuộc về quản lý của cáp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Theo 76, Luật đất đai năm 2003:
“Điều 76. Đất rừng phòng hộ
1. Đất rừng phòng hộ bao gồm:
a) Đất rừng phòng hộ đầu nguồn;
b) Đất rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay;
c) Đất rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển;
d) Đất rừng phòng hộ bảo vệ môi trường sinh thái.
2. Nhà nước giao đất rừng phòng hộ đầu nguồn cho tổ chức quản lý rừng phòng hộ
để quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
3. Tổ chức quản lý rừng phòng hộ giao khoán đất rừng phòng hộ đầu nguồn cho hộ
gia đình, cá nhân đang sinh sống tại đó để bảo vệ, phát triển rừng. Uỷ ban nhân dân
huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giao đất ở, đất sản xuất nông nghiệp cho hộ gia
đình, cá nhân đó sử dụng.
4. Đất rừng phòng hộ mà chưa có tổ chức quản lý và đất quy hoạch trồng rừng




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status