PHẪU THUẬT NỘI SOI ĐIỀU TRỊ BỆNH DÂY THANH
TẠI KHOA TAI MŨI HỌNG BỆNH VIỆN NHÂN DÂN GIA ĐỊNH
(2000 – 2010)
Trần Việt Hồng*
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Bệnh ở dây thanh gây rối loạn giọng nói làm ảnh hưởng đến công việc và
giao tiếp xã hội ngày càng tăng. Điều trị loại bỏ tổn thương thực thể trên dây thanh trước
đây chủ yếu là vi phẫu qua kính hiển vi (7). Ngày nay, ở Việt Nam cũng như trên thế giới đã
ứng dụng phẫu thuật bệnh ở dây thanh bằng phương pháp nội soi. Từ năm 2000 – 2010 tại
khoa TMH BV Nhân Dân Gia Định, chúng tôi đã ứng dụng kỹ thuật vi phẫu thuật qua nội
soi điều trị các bệnh ở dây thanh quản.
Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị bệnh ở dây thanh qua phẫu thuật nội soi ống cứng
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Cỡ mẫu 415 bệnh nhân bị bệnh ở dây thanh
chia ra các nhóm u lành tính ở dây thanh như: hạt dây thanh, pôlýp dây thanh, u nang dây
thanh, papillome thanh quản, phù Reinke, viêm dầy niêm mạc dây thanh, sẹo hẹp dính dây
thanh. Nhóm hở thanh môn do liệt dây thanh, teo dây thanh, khuyết lõm niêm mạc dây thanh
và nhóm ung thư dây thanh. Một nghiên cứu tiến cứu mô tả có can thiệp được thực thực hiện
vi phẫu thuật điều trị các tổn thương thực thể ở dây thanh và đánh giá kết quả điều trị theo
dõi sau phẫu thuật từ 1 đến 3 tháng.
Kết quả: 415 bệnh nhân gồm: nữ 63,4%, nam 36,4% tuổi trung bình 35,4 có các bệnh lý
dây thanh được phẫu thuật qua nội soi. Kết quả số bệnh nhân u lành tính dây thanh chiếm
85,8%, sau phẫu thuật kết quả thành công cải thiện giọng nói là 93,12%. Số bệnh nhân bị
hở thanh môn là 12%, sau phẫu thuật được cải thiện giọng nói thành công là 92%. Số bệnh
nhân bị ung thư dây thanh là 2,2%, có 2 bệnh nhân sau phẫu thuật trên 5 năm chưa thấy tái
phát. Tất cả bệnh nhân được phẫu thuật qua nội soi không có tai biến và biến chứng trong,
sau mổ.
Kết luận: Phẫu thuật nội soi điều trị bệnh ở dây thanh là phương pháp hiện đại, mới, an
toàn, tiện lợi. Kết quả điều trị hiệu quả cao ở tất cả các nhóm bệnh u lành tính và hở thanh
môn đạt tỷ lệ thành công từ 92% - 93,12%. Bệnh nhân hài lòng cao với sự cải thiện giọng
nói sau phẫu thuật.
Từ khóa: Vi phẫu thanh quản qua ống nội soi cứng.
được cải thiện trước đây được vi phẫu qua kính hiển vi để loại bỏ tổn thương. Ngày nay
do phát triển của nội soi ngành Tai Mũi Họng ở Việt Nam cũng như trên thế giới đã áp
dụng điều trị các bệnh ở dây thanh bằng kỹ thuật nội soi. Từ năm 2000 khoa Tai Mũi
Họng Bệnh Viện Nhân Dân Gia Định chúng tôi đã áp dụng kỹ thuật nội soi để vi phẫu
thuật các bệnh ở thanh quản. Chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu trong 10 năm với mục
tiêu nghiên cứu là đánh giá kết quả điều trị bệnh ở dây thanh qua phẫu thuật nội soi ống
cứng.
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu
Tiến cứu mô tả có can thiệp
Đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân ≥ 16 tuổi có các bệnh lý ở dây thanh gây rối loạn giọng nói có chỉ định phẫu
thuật đến khám tại phòng khám Tai Mũi Họng từ 6/2000 - 6/2010.
Tiêu chuẩn chọn bệnh
- Triệu chứng cơ năng: Bệnh nhân bị rối loạn giọng nói khàn tiếng, nói hụt hơi, khó thở
- Qua nội soi và soi hoạt nghiệm thanh quản (Stroboscopy) có các tổn thương ở dây
thanh:
Nhóm u lành tính như: Hạt dây thanh, pôlýp dây thanh, u nang dây thanh, papilloma
thanh quản, phù Reinke, sẹo hẹp thanh môn, viêm dầy niêm mạc dây thanh
Nhóm hở thanh môn do: liệt dây thanh một bên, teo dây thanh, khuyết lõm niêm mạc dây
thanh.
Nhóm ung thư dây thanh.
Dụng cụ nghiên cứu:
- Máy nội soi chẩn đoán ống mềm, ống cứng, máy soi hoạt nghiệm thanh quản (KarlStorz)
- Máy nội soi phẫu thuật có ống nội soi thanh quản 5,0 (0o,30o,70o,120o)
- Dụng cụ vi phẫu thanh quản: kìm, kéo, bóc tách vi phẫu, ống hút các cỡ và các chiều
thẳng, cong P, cong T, nghiêng 45o, các loại que đốt điện có ống hút
- Bộ soi treo thanh quản tôi tự chế dựa theo kiểu dáng bộ Chevalier Jackson có cải tiến để
- Có 415 bệnh nhân được điều trị phẫu thuật nội soi trong đó nam chiếm 36,4%, nữ
63,6%, tuổi trung bình 35,4 nhỏ nhất là 16 lớn nhất là 71
- Kết quả cụ thể đối với từng nhóm bệnh
- Nhóm u lành tính dây thanh có 356 bệnh nhân chiếm 85,8%
Bảng 1: Các bệnh tổn thương lành tính ở dây thanh
Loại tổn thương
Số bệnh
nhân
Tỉ lệ %
Hạt dây thanh
188
52,8
Pôlýp dây thanh
72
20,3
U nang, u biểu bì dây
thanh
54
15,2
100
Nhóm hở thanh môn: 50 bệnh nhân tỉ lệ 12%
Bảng 2: Các bệnh gây hở thanh môn
Loại tổn thương
Số bệnh
nhân
Tỉ lệ
%
Liệt dây thanh một bên
35
70
Teo dây thanh
8
16
Khuyết lõm niêm mạc dây
thanh
299
83,99%
Giảm khàn tiếng
32
8,99%
Không giảm + tái phát
25
7,02%
Tổng số
356
100%
Bảng 4: Triệu chứng thực thể hình dây thanh qua nội soi và soi hoạt nghiệm thanh quản
(Stroboscopy)
Mức độ hình dây
thanh
Số bệnh
Nhóm hở thanh môn đánh giá kết quả sau phẫu thuật 1- 3 tháng dựa vào triệu chứng
cơ năng trước phẫu thuật khàn tiếng và hụt hơi là 100%. Sau phẫu thuật bệnh nhân được
cải thiện giọng nói và thấy hài lòng cao, vừa, không hài lòng.
Bảng 5: Mức độ hài lòng về giọng nói khàn tiếng và hụt hơi được cải thiện
Mức độ hài lòng về
giọng nói
Số bệnh
nhân
Tỷ lệ
%
Hài lòng cao
35
70%
Hài lòng vừa
11
22%
Không hài lòng
4
8%
4
8%
Tổng số
50
100%
Tổng hợp nhóm hở thanh môn thành công sau phẫu thuật là 92%.
Nhóm ung thư dây thanh: có 2 bệnh nhân được cắt dây thanh toàn phần qua nội soi trên 5
năm chưa thấy tái phát. 7 bệnh nhân được sinh thiết và phẫu thuật qua đường ngoài kết hợp
hóa, xạ trị chưa thấy tái phát.
BÀN LUẬN
Bàn luận về phương pháp phẫu thuật nội soi điều trị bệnh dây thanh
- Từ 1958 Salco đã dùng kính hiển vi Zeiss để quan sát vi phẫu thuật ở thanh quản. Năm
1995 Mario Andrea(4) đã đưa kỹ thuật nội soi vào vi phẫu thanh quản, chúng tôi đã ứng dụng
kỹ thuật này từ năm 2000, nghiên cứu dùng ống nội soi thanh quản 5,0 (0 0 , 300, 700, 1200)
dài 24 cm với ưu điểm là khi lắp vào camera sẽ ở xa đầu ngoài của ống nội soi treo thanh
quản do đó ít ảnh hưởng đến thao tác của phẫu thuật viên khi đưa dụng cụ phẫu thuật vào
trong lòng ống soi treo hẹp. Đường kính của ống soi thanh quản 5,0 lớn hơn ống nội soi
xoang 4.0. Do có nhiều sợi quang học nên có độ nét hình ảnh cao, hình bệnh lý được phóng
to, rõ nét hơn. Mặt khác với ống nội soi (0 0, 300, 700, 1200) chúng ta có thể quan sát được
mọi tổn thương ở các ngách sâu, bờ tự do, mặt trên, dưới dây thanh. Những ưu điểm này
kính hiển vi và ống nội soi mũi xoang nhìn thẳng không có được.
- Với ưu điểm của máy nội soi, phẫu thuật viên nhìn trên màn hình Tivi để phẫu thuật rất
tiện lợi, không mỏi mắt và thao tác trong tư thế thoải mái hơn. So sánh kỹ thuật này với kỹ
1.
Bouchayer M (1992). Nodules, polypes, pseudo-myxomes dans pratique
phoniatrique en ORL. Masson pp. 42 - 46.
2.
Guerrier Y (1987). ‘‘Indications opératoires dans les tumeurs bénignes du larynx’’.
Traité de technique chirurgical ORL et cervico – facial, Tome 3, pp. 221-222.
3.
Hsiung MW, Lu Pai (2006). “Autogenous fat injection for glottic insufficiency:
analysis of 101 cases and correlation with patients’ self-assessment”. Acta Otolaryngol,
126 (2), pp. 191 – 196.
4.
Mario A, Dras O (1995) “Rigid endoscopy associated with microlaryngeal surgery
(REMS)”, Lisbon, Portugal, Karl – Storz – Endoskope.
5.
Nguyễn Đức Tùng (2003). Vi phẫu thanh quản kết hợp ống nội soi quang học cứng
tại BV Đại học Y Dược TP.HCM cơ sở II từ tháng 09/2002 đến tháng 09/2003. Luận
văn Thạc sỹ Y khoa, Đại học Y Dược TPP.HCM
6.
Nguyễn Phương Mai (1999). Nhận xét lâm sàng và kết quả điều trị tổn thương lành