1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm gan siêu vi B là một bệnh lây qua đường máu và dịch tiết rất nghiêm
trọng, do vi rút viêm gan B gây hại cho tế bào gan, mặc dù không gây suy gan
cấp tính hoặc tử vong, nhưng sẽ gây ra bệnh nhiễm siêu vi B mãn tính suốt đời,
lâu dần sẽ dẫn đến xơ gan và ung thư gan [1]. Người bệnh viêm gan B mãn tính
thì rất dễ lây bệnh cho người khác qua dịch tiết và máu, mẹ truyền sang con hoặc
lây qua đường tình dục. Những người có nguy cơ cao dễ bị nhiễm siêu vi B là
nhân viên y tế vì thường xuyên tiếp xúc với máu và dịch tiết của người bệnh,
nhân viên khoa chạy thận nhân tạo, Điều dưỡng khoa ung bướu và hóa trị liệu,
nhân viên làm trong phòng xét nghiệm, khoa hô hấp, phẩu thuật viên, bác sĩ, nha
sĩ và cả sinh viên Điều dưỡng – Kỹ thuật y học khi thực tập tại bệnh viện [34].
Nhưng qua nhiều nghiên cứu gần đây cho kết quả nhân viên y tế chưa thấy được
tầm quan trọng trong việc tiêm chủng phòng ngừa siêu vi viêm gan B trước khi
hành nghề, chưa tuân thủ chấp hành đầy đủ và nghiêm túc mọi quy chế phòng
bệnh [8].
Theo thống kê của Tổ Chức Y Tế Thế Giới, có khoảng 2 tỷ người nhiễm vi
rút viêm gan B (Hepatitis B vi rút – HBV) (WHO.2012). Trong đó 350 triệu
người mang vi rút mạn tính. Những người mang vi rút viêm gan B mạn tính là
nguồn lây nhiễm quan trọng trong cộng đồng và có nguy cơ cao mắc các bệnh
gan nguy hiểm liên quan đến nhiễm vi rút viêm gan B [39]. Hàng năm ước tính
có khoảng 2 triệu người mang vi rút viêm gan B mạn tính tử vong vì xơ gan và
ung thư gan trên thế giới. Có đến 90% trẻ sơ sinh, 25 – 50% trẻ từ 1 – 5 tuổi và
chỉ 5 – 10% người lớn bị nhiễm vi rút viêm gan B trở thành người mang vi rút
mạn tính [3],[33].
2
Việt Nam thuộc về khu vực có tỉ lệ mắc bệnh cao nhất thế giới với 10-25%
Do đó, nghiên cứu này nhằm cung cấp cho sinh viên Điều dưỡng – Kỹ
thuật y học những kiến thức cơ bản về phòng bệnh viêm gan siêu vi B. Đồng
thời với những kiến thức này sinh viên sẽ có thái độ và thực hành đúng trong
phòng bệnh cho bản thân cũng như gia đình và đặc biệt sinh viên được trang bị
đầy đủ hành trang trước khi tốt nghiệp để trở thành những nhân viên y tế thực
thụ, chăm sóc và phục vụ người dân ngày một tốt hơn. Ngoài ra, nghiên cứu này
cũng sẽ giúp các nhà quản lý đại học hợp tác với các nhà quản lý các cơ sở lâm
sàng về hiệu quả của việc tiêm chủng HBV từ đó phát triển hơn nữa các chiến
lược để thúc đẩy và cải thiện sự cần thiết của việc chủng ngừa viêm gan siêu vi
B cho các sinh viên. Từ đó góp phần quan trọng ngăn ngừa sự lây nhiễm vi rút
viêm gan B trong cộng đồng.
Câu hỏi nghiên cứu:
Tỉ lệ sinh viên Điều dưỡng – Kỹ thuật y học chính quy năm cuối, năm học
2013-2014 của trường Đại Học Y Dược Tp.HCM có kiến thức, thái độ và thực
hành đúng về phòng bệnh viêm gan siêu vi B là bao nhiêu?
Có hay không mối liên quan giữa kiến thức, thái độ và thực hành của sinh
Điều dưỡng – Kỹ thuật y học chính quy năm cuối về phòng bệnh viêm gan siêu
vi B?
Mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu tổng quát: Xác định tỉ lệ sinh viên Điều dưỡng – Kỹ thuật y học hệ
chính quy năm cuối 2013-2014 có kiến thức, thái độ, thực hành đúng về phòng
bệnh viêm gan siêu vi B và mối liên quan giữa kiến thức, thái độ, thực hành.
4
Mục tiêu cụ thể:
1. Xác định tỉ lệ sinh viên Điều dưỡng - Kỹ thuật y học chính quy năm cuối
khoảng 1-1,25 triệu người có siêu vi trùng viêm gan B trong máu. Bệnh có nhiều
hơn ở dân Mỹ gốc Phi, dân Hispanic và người gốc châu Á, một số khác hay bị
VGSV B là dân Eskimo, dân gốc đảo Thái Bình Dương và thổ dân Úc [3],[2].
VGSV B là nguyên nhân của 5-10% bệnh hoại gan mạn tính và 10-15% ung thư
gan. VGSV B làm khoảng 5.000 người chết mỗi năm, nhiều hơn ở tuổi trên 12
tuổi (lý do có lẽ là vì sinh hoạt tình dục bắt đầu nhiều hơn sau tuổi này). Các yếu
6
tố nguy cơ khác gồm sử dụng thuốc cocaine và các loại thuốc cấm chích mạch,
nhiều bạn tình, ly dị, trình độ giáo dục thấp [28].
1.2 Thực trạng bệnh viêm gan siêu vi B tại Việt Nam
Việt Nam là một trong chín nước tại Tây Thái Bình Dương được Tổ Chức
Y Tế Thế Giới “liệt” vào danh sách những nước có tỷ lệ nhiễm vi rút viêm gan
cao đáng báo động. Hiện có khoảng 10-20% dân số nhiễm vi rút viêm gan B, 45% nhiễm vi rút viêm gan C. Hai loại vi rút này là nguyên nhân chính gây ra cái
chết cho hàng chục vạn người ở nước ta do xơ gan và ung thư gan. Chi phí cho
người điều trị viêm gan cũng rất lớn. Trung bình mỗi người phải điều trị tiền
thuốc khoảng 60-200 triệu đồng/năm và kéo dài 1-2 năm. Vì thế, việc tuyên
truyền để phòng ngừa vi rút viêm gan và phát hiện bệnh sớm là rất cần thiết và từ
năm 2005 nước ta đã chính thức đưa vắc-xin ngừa Viêm gan siêu vi B vào
chương trình quốc gia tiêm chủng mở rộng [3],[11].
Theo TCYTTG (WHO) tỉ lệ nhiễm HBsAg trong cộng đồng dân Đông
Nam Á vào khoảng 8-15% và các nghiên cứu ở nhiều địa phương khác cũng xác
nhận tỉ lệ này. Tại Hà Nội: tỉ lệ người mang HBsAg vào khoảng 15-20%. Tại
Tiền Giang: tỉ lệ nhiễm HBV vào khoảng 21-28%. Tại trung tâm truyền máu,
huyết học TPHCM: tỉ lệ người mang HBsAg vào khoảng 10% [3].
Tùy theo ngành nghề, tùy theo mức độ nguy cơ, tỉ lệ mang HBsAg có
khác nhau, nhưng nhìn chung tỉ lệ nhiễm HBsAg (+) vẫn cao >10%. Kết quả này
HBV thuộc loại siêu vi trùng (hay vi rút) Hepadna với khả năng tồn tại
cao. HBV bền vững với nhiệt độ:100 oC vi rút sống được 30 phút, ở -20 oC sống
tới 20 năm, HBV kháng ete (eter), nhưng bất hoạt trong formalin (fócmon). Xét
nghiệm máu có thể có 3 loại HBV với kích thước cỡ 22nm, 42nm và 22-200nm.
Kháng nguyên HBcAg chỉ có ở vi rút kích thước 42nm. Trong máu bệnh nhân có
cả hạt nhiễm và không nhiễm (virion). Các hạt không nhiễm không có bộ gene
của vi rút (dsDNA) nên không có khả năng gây bệnh. Nồng độ các hạt không
nhiễm có thể tới 1010 virion/ml. Vì vậy có tới 65% bệnh nhân có HBsAg không
có triệu chứng bệnh, 35% có các triệu chứng của viêm gan [1].
Bộ gene gồm một DNA có phần gập đôi, khoảng 3.2 kilo cặp base, tạo nên
các antigen:
1. HBsAg (kháng nguyên bề mặt): thuộc lớp vỏ của HBV dùng trong xét
nghiệm máu để biết có HBV trong cơ thể.
2. HBcAg (kháng nguyên lõi): thuộc lớp lõi của HBV - dùng để biết HBV
đang phát triển.
3. HBeAg (kháng nguyên nội sinh): nếu có trong máu bệnh nhân đang có
khả năng lây rất cao.
4. Gen X : có thể là nguyên nhân tạo ung thư gan.
5. Gen P.
Sau khi HBV nhập vào cơ thể, hệ miễn dịch sẽ tạo kháng thể cho từng
kháng nguyên của HBV. Một tuần hay một tháng sau khi nhiễm vi rút, HBsAg
xuất hiện trong máu, tiếp theo là HBeAg và kháng thể IgM và IgG kháng
HBcAg (anti-HBc). Khi HBsAg biến mất, thì kháng thể chống sAg (anti-HBs)
mới xuất hiện.
10
Phần lớn khi bị viêm mạn tính cảm thấy bệnh nhân hoàn toàn bình thường.
Một số bị viêm mạn tính nặng thì tiếp tục bị các triệu chứng viêm cấp như mệt
mỏi, chán ăn, đau bụng, và suy gan .
Biểu hiện lâm sàng: Gan to, bàn tay ửng đỏ, spider nevi. Khi bị biến
chứng xơ gan có thể bị ứ nước trong bụng, vàng da, loãng máu, chảy máu trong
dạ dày, tĩnh mạch toả lớn từ rốn (do tăng áp làm giãn tĩnh mạch cửa gan), nam
vú lớn như vú nữ, tinh hoàn teo nhỏ (vì gan yếu làm thay đổi cân bằng của các
hormone giới tính) [1], [7].
Biến chứng
•
Suy gan.
•
Xơ gan.
•
Ung thư gan.
Điều trị viêm gan B
Việc điều trị chủ yếu là ngăn chặn sự sinh sôi, nhân lên của vi rút hoặc các
chất làm rối loạn quá trình tổng hợp, tự nhân lên của vi rút.
Lưu ý: Khi nhiễm bệnh, cần tăng cường sức khỏe và tính đề kháng của cơ
thể bằng chế độ ăn uống, chú ý đến các loại thực phẩm có lợi cho gan.
Hạn chế uống rượu vì rượu không những gây ra xơ gan mà còn hỗ trợ quá trình
Trường hợp bị HBV từ người mẹ có mầm bệnh lây qua nhau khi sanh:
Nếu mẹ có HBsAg thì tỉ lệ truyền cho con khoảng 20%. Nếu mẹ có HBcAg thì tỉ
lệ truyền cho con là khoảng 90%, nếu mẹ có HBeAg thì con dễ bị viêm gan mãn
tính. Tuy nhiên điều này hoàn toàn có thể được ngăn chặn, nếu tiêm vắc xin cho
trẻ trong vòng 12 giờ sau khi sinh [23].
Trường hợp bị HBV do lây khi đã trưởng thành: Một số ít có thể bị viêm
mạn tính nhưng khả năng bị biến chứng không nhiều.
12
1.4 Đường lây và phương thức lây viêm gan B
HBV chỉ lây cho người và khỉ. Người là nguồn bệnh duy nhất gồm người
mang mầm bệnh, người bệnh, người ở giai đoạn hồi phục bệnh, trong đó người
mang mầm bệnh là nguồn lây quan trọng nhất. Đường lây quan trọng nhất của
HBV là đường máu [3], [5]. Vi rút lây lan qua các phương thức:
- Lây qua đường máu và các sản phẩm của máu khá phổ biến ở các nước
-
đang phát triển.
Lây qua da khi tiếp xúc với máu và dịch tiết của bệnh nhân: cách lây
-
bệnh phổ biến trong NVYT, đặc biệt ở những vùng lưu hành dịch cao.
Lây truyền qua quan hệ tình dục thường gặp. Quan hệ tình dục đồng tính
luyến ái hay khác phái đều có khả năng lây lan nhưng đồng tính cao hơn
khác phái. Nhiều bạn tình cũng là nguyên nhân quan trọng lây truyến
-
1.5 Sự nguy hiểm của bệnh viêm gan siêu vi B
Sơ sinh nhiễm HBV 90-95% không có triệu chứng, chỉ có 5-10% có triệu
chứng. Dù có hay không có triệu chứng đều có thể dẫn đến người lành mang
bệnh 70-90%. Trong số người mang mầm bệnh mãn tính này có đến 30-50%
bệnh gan mãn tính và có thể dẫn đến chết vì xơ gan, ung thư gan [4], [30].
Người lớn bị nhiễm HBV thì tỉ lệ có triệu chứng cao hơn (30-40%) và tỉ lệ
tử vong tại bệnh viện vì viêm gan cấp thấp (1,0%), người lành mang bệnh thấp
hơn chỉ đạt 6-10%. Cuối cùng cũng có thể dẫn đến tử vong do xơ gan, ung thư
gan [26].
Tuổi bị nhiễm trùng và khả năng chuyển sang mãn tính:
Tuổi
Tỉ lệ chuyển mãn tính
≤1
70-90%
2-3
40-70%
4-6
10-40%
≥7
6-10%
Nguồn: Cetherine L. Troisi F. Balaine Hollinge
1.6 Phòng ngừa bệnh viêm gan siêu vi B
1.6.1 Các biện pháp phòng ngừa chung
Biện pháp kiểm soát sự lan tỏa của vi rút viêm gan B quan trọng và hiệu quả
nhất là tạo hàng rào bảo vệ khi tiếp xúc và vệ sinh cá nhân, bao gồm:
-
Giáo dục người mang HBV về phương thức lây truyền và các biện pháp
-
-
HBsAg.
Hạn chế lây HBV trong phòng xét nghiệm: vô trùng dụng cụ xét nghiệm,
không dùng pipet bằng miệng, không hút thuốc, không ăn uống trong
-
phòng xét nghiệm. Chủng ngừa là biện pháp tốt nhất.
Quản lý người mang HBV mãn tính.
1.6.2 Chủng ngừa
•
Tạo miễn dịch thụ động
HBIG (Hepatitis B Immuno – Gtobuine) là một globuline miễn dịch chứa
anti-Hbs có thể phòng ngừa viêm gan B cho những người tiếp xúc và những trẻ
em có mẹ HBsAg lúc mang thai, đặc biệt có HBsAg(+). Nên sử dụng càng sớm
càng tốt, đối với trẻ sơ sinh nên tiêm trong vòng 12-24 giờ sau sinh, còn người
lớn có thể tiêm trong vòng 7 ngày sau khi tiếp xúc [22],[38].
•
Tạo miễn dịch chủ đông
Là biện pháp hiệu quả nhất trong chương trình phòng chống viêm gan B
15
Lịch chủng ngừa HBV hiện nay, tiêm cho những người có xét nghiệm HBsAg
khuyết không che phủ toàn bộ cách tay hoặc có thể bị rách trong quá trình sử
dụng và bàn tay có thể bị nhiễm trong quá trình loại bỏ găng tay [20].
2. Áo choàng: mặc áo choảng để ngăn ngừa ô nhiễm từ quần áo của bệnh
nhân và bảo vệ da cho nhân viên y tế từ máu và dịch cơ thể bệnh nhân. Nhân
viên y tế mặc áo trong việc chăm sóc bệnh nhân nhiễm vi vi rút hoặc vi khuẩn
gây bệnh và khi thực hiện các phẩu thuật có thể có hiện tượng bắn những tia
máu và chất dịch cơ thể của bệnh nhân vào người. Điều này được thực hiện
để làm giảm cơ hội để truyền các mầm bệnh từ bệnh nhân ra môi trường xung
quanh .
3. Giầy: Mang giầy mục đích là giúp cho việc bảo vệ da ở vùng chân tránh
tiếp xúc với các tác nhân gay bệnh có thể do kim rơi hoặc các dụng cụ y tế
khác vô tình rơi vào chân, mặc khác nó giúp công việc chăm của chúng ta trở
nên nhanh nhẹn hơn.
4. Mặt nạ, kính bảo hộ và tấm che mặt: Chúng được mang một mình hoặc kết
hợp để cung cấp một hàng rào bảo vệ trong quá trình làm thủ thuật có khả
năng tạo ra những tia máu hoặc chất dịch cơ thể (Leighner 2001:34)
5. Rửa tay: Ngoài việc sử dụng các dụng cụ bảo vệ để tạo rào cản bảo vệ, rửa
tay là biện pháp hiệu quả nhất để giảm truyền vi sinh vật gây bệnh cho bệnh
nhân hoặc nhân viên y tế. Nên rửa tay kịp thời và triệt để khi chăm sóc giữa
hai bệnh nhân và khi tiếp xúc với máu, dịch cơ thể, chất tiết, chất thải, và các
thiết bị nhiễm bởi họ Thiết bị y tế an toàn : Điều này bao gồm các thiết bị
không cần thiết và không sử dụng kim bị phạm vô khuẩn, không hiệu quả,
17
tránh dùng kim tiêm sài lại và xử lý kịp thời và đúng nơi quy định hủy vật sắc
nhọn thích hợp. Nhân viên y tế phải báo cáo mối nguy hiểm tiềm ẩn từ kim
tiêm và giúp cơ sở của họ để lựa chọn và đánh giá các thiết bị an toàn. Kim
đâm hoặc các tiếp xúc khác với máu hoặc chất dịch cơ thể của bệnh nhân phải
Theo Huỳnh Thị Kim Truyền, nghiên cứu “ Kiến thức, thái độ, thực hành về
phòng bệnh viêm gan siêu vi B của sinh viên ở ký túc xá trường cao đẳng sư
phạm Nha Trang, Khánh Hòa, tháng 4 năm 2010”. Dân số lấy mẫu 400 sinh
viên[18]. Kết quả:
-
Kiến thức: Tỉ lệ sinh viên có kiến thức chung đúng về bệnh viêm gan
siêu vi B khá cao 69,9%.
-
Thái độ: Tỉ lệ sinh viên có thái độ chung đúng về phòng ngừa về phòng
bênh viêm gan siêu vi B là 89,6%.
-
Thực hành: Tỉ lệ sinh viên có thực hành chung đúng về phòng bệnh
viêm gan siêu vi là rất thấp 18,1%.
-
Có mối liên quan giữa kiến thức với trình độ học vấn của sinh viên. Và
có mối liên quan giữa kiến thức và thực hành phòng ngừa viêm gan
siêu vi B.
19
Theo Phạm Thị Lan nghiên cứu “ Kiến thức, thái độ, thực hành về phòng bệnh
viêm gan siêu vi B của thai phụ từ 18 – 45 tuổi đến khám tại bệnh viện Từ Dũ
Coi bệnh VGSV B là bệnh nguy hiểm 93,83%.
-
Thực hành về phòng ngừa bệnh VGSV B: đã tiêm ngừa vắc xin VGSV
B 21.45%, đã xét nghiệm VGSV B 36,73%, thực hành phòng bệnh
VGSV B 45.04%.
-
Kiến thức đúng chung, thái độ đúng chung, thực hành đúng chung về
phòng bệnh VGSV B lần lượt là 29,22%, 38,34% và 32,71%. Có mối
liên quan giữa kiến thức và thực hành về phòng bệnh VGSV B.
20
Theo Nguyễn Văn Quân, Nguyễn Quang Tập, “Đánh giá hiểu biết, thái độ,
thực hành phòng lây nhiễm vi rút viêm gan B của cán bộ y tế thành phố Hải
Phòng”, dân số nghiên cứu 602 cán bộ y tế [16]. Kết quả:
-
Hiểu biết về đường lây vi rút B là 78,0%
-
Các biến chứng nguy hiểm của VGB 74,0%
-
21
-
Thái độ về phòng bệnh VGSV B: Thái độ đúng khi được đề nghị xét
nghiệm để biết mình có bị VGSV B 86,4%, VGSV B là bệnh nguy hiểm
65,24%, VGSB là bệnh phổ biến 54,41%.
-
Có mối liên quan giữa kiến thức và thái độ về phòng bệnh VGSV B.
Ngoài ra theo nghiên cứu của Đoàn Thị Kim Liên “Kiến thức, thái độ, thực
hành của các bà mẹ có con dưới 1 tuổi về chủng ngừa viêm gan siêu vi B tại
Long An 2002”. Với dân số nghiên cứu 838 người [13]. Kết quả:
-
Các bà mẹ có nghe nói về bệnh viêm gan siêu vi B là 80.5%.
-
Kiến thức đúng của các bà mẹ về sự nguy hiểm của bệnh viêm gan B
(bệnh viêm gan B là nguy hiểm, nguy cơ xơ gan, ung thư gan) là 82.6%.
-
Kiến thức đúng về đường lây (mẹ sang con, đường máu, quan hệ tình dục)
là 15,6%.
-
những dự báo của viêm gan B tiêm phòng trong số 251 sinh viên đại học người
Mỹ gốc Việt. Hơn một nửa số người tham gia đã nhận thức được rằng viêm gan
B có thể lây truyền qua quan hệ tình dục không an toàn và máu bị nhiễm HBV,
mặc dù hầu hết các học viên nghĩ rằng viêm gan B đã được truyền qua thực
phẩm và nước. Ít hơn một phần ba biết rằng người Mỹ gốc Á có nguy cơ cao bị
nhiễm HBV hơn những người khác. Khoảng 87,0% đã nghe nói về viêm gan B
trước và họ đã có kiến thức lớn hơn đáng kể so với những người đã không nghe
nói về căn bệnh này. Kiến thức cũng lớn hơn trong số những người đã được sàng
lọc, hoặc chủng ngừa viêm gan B, hoặc có các thành viên gia đình được chẩn
đoán viêm gan B và ung thư gan. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng phụ nữ có kiến
thức về viêm gan B cao so với nam giới [25].
Nghiên cứu của Taylor và đồng nghiệp (2005) đã nghiên cứu kiến thức,
thái độ và thực hành về bệnh viêm gan B ở người trưởng thành được lựa chọn
ngẫu nhiên những người Việt Nam sống tại Hoa Kỳ. 81,0% trong 715 người lớn
đã tham gia vào nghiên cứu này đã nghe nói về bệnh viêm gan B và 67,0% đã
được xét nghiệm HBV. Các kiến thức về phơi nhiễm nói chung là tốt, với
khoảng ba phần tư biết cách lây truyền khác nhau nhưng chỉ có 69,0% biết về
nhiễm trùng qua đường tình dục không an toàn [35].
23
Theo nghiên cứu của Maqbool Alam (2006) “Kiến thức, thái độ và thực
hành về viêm gan B, C của sinh viên” tại Sargodha từ tháng 6 -12/2006. Dân số
nghiên cứu 3.028 người. Với kết quả, kiến thức về bệnh VGSV B là 30,7%, thái
độ đồng ý xét nghiệm VGSV B và tiêm ngừa VGB là 100% [20].
1.9.3 Một số nghiên cứu KAP về vắc xin phòng ngừa HBV
Một báo cáo của Hoa Kỳ về thái độ của nhân viên y tế về tiêm chủng cho
thấy rằng họ không muốn được chủng ngừa vì họ sợ vắc xin có nguồn gốc huyết
tương vì nó có chứa vi-rút viêm gan B giảm độc tố [33]. Tuy nhiên, nhiều nghiên
biến số để tìm ra đặc tính của các cá thể nghiên cứu hay các hiện tượng trong quá
khứ để trên cơ sở đó nhằm đạt được các biến số phục vụ cho mục tiêu nghiên
cứu. Các biến số này có liên quan mật thiết với một số hành vi sức khỏe hoặc
một nhóm cá thể nghiên cứu nhất định. Tuy nhiên, trong một số hành vi và một
cá thể khác, các biến số này chưa được thể hiện rõ. Các khái niệm và mối quan
hệ tương hỗ này được mô tả dựa theo cách mà mô hình này được phân loại
chúng theo các đặc tính và kinh nghiệm của từng cá nhân, nhận thức và các tình
cảm cụ thể hay các kết quả của hành vi sức khỏe nhất định nào đó.
Theo Pender và cộng sự (2002) mỗi người ai cũng có những đặc tính và
kinh nghiệm cá nhân không giống với ai khác được. Chính những đặc tính và
kinh nghiệm này chi phối các hoạt động tiếp tục của cá nhân. Chúng vừa thúc
đẩy vừa gây cản trở đối với các hành vi mà chúng ta mong đợi. Mô hình này còn
nhấn mạnh thêm rằng kinh nghiệm sống của các cá nhân có ảnh hưởng trực tiếp
hoặc gián tiếp đến việc lôi cuốn họ tham gia vào các hành vi nhằm nâng cao sức
khỏe của họ. Ảnh hưởng trực tiếp có thể hình thành nên các thói quen nhằm thúc
đẩy họ hành động một cách tự giác, hoặc ít chú ý tới hậu quả của các hành vi
25
này. Ảnh hưởng gián tiếp của kinh nghiệm bản thân trong việc cải thiện sức khỏe
có thể được thể hiện trong nhận thức của các cá nhân về lợi ích và tác hại của
hành vi. Nếu người ta nhận thấy hành vi nào có lợi, người ta sẽ có xu hướng lập
lại hành vi đó. Ngược lại nếu hành vi nào người ta cho là có hại, người ta cũng
nhớ chúng nhưng lại xem chúng như là trở ngại sức khỏe và cuộc sống của họ.
Chỉ khi nào các trở ngại này được xóa bỏ, cá nhân mới có thể thành công trong
công việc lựa chọn hành vi [31].
Cũng theo Pender, con người ai cũng bị chi phối bởi các yếu tố như: đặc
điểm cá nhân, kinh nghiệm sống và ý thức của các cá nhân. Những yếu tố này có
tác động đến hành vi, sự nhận thức cuối cùng là sức khỏe của bản thân con