MỞ ĐẦU
1/. Lý do chọn đề tài:
Đảng và nhà nước ta đã từ lâu khẳng đònh : “giáo dục là quốc
sách hàng đầu ” và Bác Hồ của chúng ta đã nói “Vì lợi ích mười năm
trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”. Vì vậy nên việc giáo dục
cho thế hệ tương lai là rất quan trọng.
Trong xu thế hội nhập với tình hình thế giới về công tác triển khai
cải cách giáo dục, Việt Nam tiến hành đổi mới với mục tiêu: xây dựng
nội dung chương trình, phương pháp giáo dục, SGK phổ thông nhằm
nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng yêu cầu phát
triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước,
phù hợp với thực tiển và truyền thống Việt Nam, tiếp cận trình độ giáo
dục phổ thông ở các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới.
Đổi mới chương trình giáo dục phổ thông là 1 quá tình đổi mới từ
mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, đánh giá chất lượng giáo
dục đến cả những hoạt động của quá trình này toàn chương trình coi
trọng thực hành, vận dụng… Phương pháp dạy học cũng đổi mới để hỗ trợ
cho quá trình tự học, tự chiếm lónh tri thức… chỉ có đổi mới phương pháp
mới có thể đạt được hiệu quả giáo dục cao.
Hiện nay vấn đề đổi mới phương pháp dạy học nói chung và
phương pháp dạy học giáo dục công dân nói riêng đặt biệt là kết hợp
giữa phương pháp dạy học với thảo luận nhóm, phương pháp dạy học
đóng vai với các phương pháp dạy học đang được giáo dục quan vâm, và
đó cũng là vấn đề cấp thiết cần được giải quyết để nâng cao chất lượng
giáo dục.
1
Khác với các môn học khác, môn GDCD nói chung và môn GDCD
ở trường THPT nói riêng là môn học có vai trò quan trọng trong việc
tiểu luận tốt nghiệp.
2/. Lòch sử nghiên cứu :
Nghiên cứu về đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính
tích cực của học sinh đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều đề tài bàn
bạc xung quanh đặc biệt là kết hợp các phương pháp dạy học khác nhau
khi truyền thụ một tri thức mới cụ thể như: kết hợp phương pháp thảo
luận nhóm với các phương pháp khác trong dạy học các bài “công dân
với các vấn đề chính trò- xã hội” của Đặng Xuân Điều cùng Vũ Đình
Bảy (tạp chí khoa học- Gd trường ĐHSP Huế, 2009); Tuy nhiên, vấn đề
kết hợp phương pháp dạy học thảo luận nhóm với phương pháp dạy học
đóng vai trong dạy học. Phần công dân với pháp luật trong trường trung
học phổ thông còn tương đối mới mẻ và xa lạ, ít ai nghiên cứu, nếu có
chỉ dưới góc độ lý luận mà thôi.
3/. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu:
Mục đích :
Thông qua việc nghiên cứu, tìm hiểu các phương pháp dạy học môn
GDCD, đề tài này đề xuất thêm việc sử dụng phương pháp dạy học thảo
luận nhóm và phương páp dạy hcoj đóng vai trong dạy phần công dân
với PL. Qua đó còn cung cấp thêm cho tôi trong quá trình giảng dạy
những kinh nghiệm quý báu về phương pháp dạy học
Nhiệm vụ :
3
- Tìm hiểu các phương pháp dạy học môn GDCD đang được sử dụng
hiện nay, cụ thể là kết hợp 2 phương pháp dạy hcoj thảo luận
nhóm và đóng vai.
- Khảo sát việc sử dụng các phương pháp dạy học đóng vai và thảo
luận nhóm trong phần dạy học công dân với PL, đưa ra 1 số giải
trong dạy học phần công dân với pháp luật.
1.1 Môn GDCD ở trường THPT
1.1.1 Vò trí, mục tiêu, cấu trúc chương trình của môn GDCD trong trường
THPT
Môn GDCD được đưa vào giảng dạy trong các trường THPT ở
nước ta từ lâu với những hình thức tên gọi khác nhau. Trước đổi mới và
ngay cả những năm đầu của đổi mới, trong các trường THPT, môn
GDCD được gọi là môn chính trò, là dạy và học chính trò, bởi nó phục vụ
cho việc đònh hướng chính trò tư tưởng trong nhà trường.
Mục tiêu của môn GDCD được xác đònh như sau :
Về kiến thức : Cung cấp cho học sinh những hiểu biết ban đầu về thế
giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng; hiểu các giá trò đạo
đức, pháp luật cơ bản của người Việt Nam giai đoạn ngày nay; biết được
bản chất của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghóa Việt Nam; vai trò
của nhà nước trong việc đảm bảo thực hiện páp luật, hoạch đònh chính
sách và quản lý kinh tế; hiểu đường lối, quan điểm của Đảng; các chính
sách quan trọng của nhà nước về xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong giai
đoạn hiện nay, hiểu trách nhiệm công dân trong việc thực hiện đường
lối, quan điểm của Đảng và chính sách, pháp luật của nhà nước, hiểu
5
trách nhiệm đạo đức, trách nhiệm tham gia phát triển kinh tế của công
dân.
Về kỹ năng : Trên cơ sở những kiến thức được cung cấp, học sinh biết
vận dụng những kiến thức đó vào phân tích, đánh giá các hiện tượng, các
sự kiện, các vấn đề trong thực hiện các hành vi ứng xử phù hợp với các
giá trò xã hội; biết bảo vệ cái tốt, cái đúng, cái đẹp và đầu tranh phê
phán đối với các hành vi, hiện tượng tiêu cực trong cuộc sống phù hợp
Chương trình GDCD lớp 12 nhằm giúp học sinh
Về kiến thức :
- Hiểu được bản chất giai cấp và xh của PL, mối quan hệ biện
chứng giữa PL với kinh tế, chính trò, đạo đức.
- Nhận biết được vai trò của PL đối với sự tồn tại và phát triển của
mỗi cá nhân, nhàn nước và xã hội.
- Nắm được một số nội dung cơ bản của PL liên quan đến việc thực
hiện và bảo vệ quyền bình đẳng, liên quan đến việc thực hiện và
bảo vệ quyền bình đẳng, tự do, dân chủ và phát triển của công
dân.
Về kỹ năng :
- Từng bước hình thành năng lực phân tích đánh giá các sự kiện, tình
huống PL trong đời sống hàng ngày của bản thân gia đình và xh.
- Biết cách tìm hiểu, tiếp cận các văn bản PL đã được trang bò trong
nhà trường để tự điều chỉnh hành vi bản thân trong các mối quan
hệ xh mà hs tham gia hàng ngày.
Về thái độ :
7
- Tôn trọng, tin tưởng lẽ phải, sự công bằng, ý thức trách nhiệm và
tính tích cực của công dân trog việc xây dựng nhà nước pháp
quyền XHCN.
- Tôn trọng và tự giác sống, học tập theo PL, trước tiên là tuân thủ
các quy đònh của PL về quyề, nghóa vụ của học sinh trong nhà
trường, trong các hoạt động XH cũng như chủ động góp phần
phòng chống các biểu hiện vi phạm pháp luật và đạo đức xh.
Cấu trúc chương trình :
Chương trình môn GDCD lớp 12 “Công dân với PL” được cụ thể hóa
Học sinh học các tri thức của phàn 5 ( công dân với PL ) : Đây là
những tri thức thuộc bộ môn PL, là sự phát triển tiếp nối phần PL ở
bậc THCS, nhằm cung cấp những hiểu biết cơ bản về bản chất, vai
trò, vò trí của PL giúp hs chủ động, tự giác điều chỉnh ành vi của cá
nhân và đánh giá được hành vi của người khác theo quyền hạn và
nghóa vụ của công dân trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền
XHCN Việt Nam.
1.2 Vai trò việc kết hợp phương pháp thảo luận nhóm và phương pháp
dạy học đóng vai trong dạy học phần công dân với PL
1.2.1 Phương pháp dạy học thảo luận nhóm và phương pháp dạy học
đóng vai trong dạy học GDCD.
Phương pháp dạy học GDCD là cách thức hoạt động phối
hợp thống nhất của giảng viên nhằm phát hiện những quy luật của
quá trình dạy học môn GDCD, xây dựng hệ thống các nguyên tắc,
9
hệ thống các hình thức và phương pháp dạy học cụ thể để tổ chức
thành công hoạt động dạy học môn GDCD ở trường trung học
Phương pháp dạy học thảo luận nhóm trong môn GDCD
Quan niệm về phương pháp thảo luận nhóm là sự phát triển
của phương pháp thảo luận trên lớp ( vemina)
Phương pháp thảo luận nhóm là phương pháp dạy học trong đó
nhóm lớn ( lớp học) được chia thành các nhóm nhỏ để tất cả các
thành viên trong lớp đều được làm việc, được bàn bạc, trao đổi về
một chủ đề cụ thể và đưa ra ý kiến chung của nhóm mình về vấn
đề đó.
Ưu điểm và khuyết điểm của phương pháp thảo luận nhóm.
của các thành viên trong nhóm.
+ Đây là phương pháp dễ gây hứng thú cho học sinh những cũng dễ tạo
ra trạng thái mệt mỏi, trì trệ.
Một số gợi ý về cách tiến hành phương pháp thảo luận nhóm :
- Làm việc chung cả lớp
- Làm việc theo nhóm
- Tổng kết trước lớp
Một số lưu ý sư phạm khi thực hiện phương pháp thảo luận nhóm.
- Có nhiều cách chia nhóm, có thể theo sổ điểm danh, theo lứa tuổi,
theo đội, theo giới tính, theo vị trí ngồi… Quy mô nhóm có thể lớn
hoặc nhỏ, tùy theo vấn đề thảo luận.
- Nội dung thảo luận của các nhóm có thể giống hoặc khác nhau.
- Cần quy định rõ thời gian thảo luận và tình bày kết quả thảo luận cho
các nhóm
- Mỗi nhóm cần chọn một tỏng những thành viên trong nhóm làm
trưởng nhóm
11
- Kết quả thảo luận có thể được tình bày dưới nhiều hình thức, bằng
lời, đóng vai, viết hoặc vẽ trên giấy.
- Trong thời gian học sinh thảo luận nhóm nhỏ, giáo viên cần đi vòng
quanh các nhóm và lắng nghe ý kiến của học sinh, giúp đỡ, gợi ý nếu
cần thiết
- Đảm bảo các yếu tố cạnh tranh và thi đua giữa các nhóm, GV không
nên tiết kiệm lời khen đối với thành công và sự tiến bộ của các nhóm
Phương pháp dạy học đóng vai trong dạy học GDCD
Quan niệm về PPDH đóng vai là 1 trong những phương pháp mang
tính chất tương tác giữa giáo viên và học sinh, giữa học sinh với học
- Các nhóm thảo luận đóng vai
- Cá nhóm tiến hành đóng vai
- Lớp thảo luận, nhận xét, thường thì thảo luận bắt đầu về cách ứng xử
của các nhân vật cụ thể hoặc tình huống vở diễn, nhưng sẽ mở rộng
phạm vi sang thảo luận, những vấn đề khái quát hơn hay những vấn
đề mà vở diễn chứng mình.
- Giáo viên nhận xét, góp ý và kết luận
Khi thực hiện phương pháp dạy học đóng vai cần chú ý điến các yêu
cầu sư phạm sau :
- Tình huống đóng vai phải là những chủ đề phù hợp với nội dung tri
thức của môn GDCD, phù hợp với tâm lý lứa tuổi, trình độ học sinh
và điều kiện, hoàn cảnh lớp học.
- Tình huống nên để mở, không cho trước “kịch bản” lời thoại
- Phải dành thời igan phù hợp cho các nhóm chuẩn bị đóng vai
- Người đóng vai phải hiểu rõ vai của mình trong bài tập đóng vai để
không lạc đề
- Nên khích lệ tất cả học sinh cùng tham gia, kể cả học sinh nhút nhát.
- Nên hoát trang và đạo cụ đơn giản để tăng tính hấp dẫn của trò chơi
đóng vai
- Trao quyền cho học sinh để các em tự bộc lộ khả năng của mình.
13
1.2.2 Cơ sở và vai trò để kết hợp phương pháp dạy học thảo luận nhóm với
phương pháp dạy học đóng vai tỏng phần dạy công dân với PL.
Cơ sở của việc kết hợp phương pháp dạy học thảo luận nhóm và
phương pháp dạy học đóng vai trong dạy học môn công dân như sau :
- Định hướng đổi mới phương pháp dạy học
+ Mục tiêu “xây dựng nội dung chương trình, phương pháp giáo dục,
SGK phổ thông mới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện
chăm lo cho từng hs nên đã hình thành kiểu dạy “ thông báo – đồng
loạt”. GV quan tâm trước hết đến việc hoàn thành trách nhiệm của
mình là truyền đạt cho hết nội dung quy định trong chương trình và
SG, cách dạy này làm cho hs thụ động, thiên về ghi nhớ, ít chịu suy
nghĩ, cho nên hiệu quả dạy và học không đáp ứng yêu cầu phát triển
năng động của xh hiện đại.
• Một số yêu cầu của đổi mới PPDH
- Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập cho hs
Trong đổi mới PPDH, hs – đối tượng của hoạt động “dạy”, đồng thời
là chủ thể của hoạt động “học” – do GV tổ chức và chỉ đạo. HS trực
tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo
suy nghĩ của mình, từ đó nắm được kiến thức kỹ năng mới. Dạy học
theo cách này thì GV không chỉ giản đơn truyền đạt tri thức mà còn
giúp cho từng HS tích cực tham gia các chương trình hành động của
cộng đồng.
- Dạy học phải chú trọng rèn luyện phương pháp tự học
Phải quan tâm dạy cho hs phương pháp học, trong các phương pháp
học thì cốt lõi là phương pháp tự học. Ngày nay người ta nhấn mạnh
mặt hoạt động tự học trong quá trình dạy học, nỗ lực tạo ra sự chuyển
biến từ học tập thụ động sang học tập chủ động.
- Dạy học phải tăng cường học tập độc lập, phối hợp với học tập hợp
tác
Trong nhà trường, phương pháp học tập hợp tác được tổ chức ở cấp
nhóm, tổ, lớp hoặc trường. Được sử dụng phổ biến trong dạy học là
15
hoạt động hợp tác trong nhóm nhỏ 4 đến 6 người. Học tập hợp tác
làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc phải giải quyết những vấn đề
gay cấn, lúc xuất hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để
trường tiên tiến vững mạnh xuất sắc... Trường hiện có 40 giáo viên ( kể cả
THCS), trong đó :
+ Số giáo viên đạt chuẩn: 38
+ Số giáo viên chưa đạt chuẩn: 02 giáo viên
+ Số giáo viên trên chuẩn : 0
Về cơ sở vật chất trường gồm có :
+ Tổng số lớp học :
Năm học
TS lớp
2009-2010
05
2010-2011
07
Số học sinh của các khối lớp:
Khối 10
03
03
Khối 11
02
02
Khối 12
00
02
Năm học
TS HS
Khối 10
HS
205
Giỏi
Khá
TB
Yếu
Kém
TS %
TS %
TS
%
TS %
TS %
2
0.98 15 7.32 49 23.90 103 50.24 36 17.56
17
2010-2011
306
4
1.30
28
9.15
chuẩn bị khá công phu của giáo viên, nhưng việc xử lý các thông tin và áp
dụng phương pháp TLN và PP đóng vai vào trong bài giảng còn hạn chế .
Chính vì thế mà học sinh không có điều kiện phát huy được tính tích cực
của, tư duy tìm tòi sáng tạo cũng còn hạn chế và việc giáo dục đạo đức cho
học sinh tất cả đều vắng bóng thực tiễn.
Để nâng cao được chất lượng giáo dục trước tiên cần có nội dung
chương trình và sách giáo khoa ổn định, cần đổi mới phương pháp và các
hình thức giảng dạy môn Giáo dục công dân để nâng cao chất lượng đào
tạo, đồng thời tăng cường công tác tập huấn, công tác bồi dưỡng, thông báo
18
6.86
kịp thời những chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước để
đội ngũ giáo viên giảng dạy môn Giáo dục công dân nắm bắt được tốt. Đổi
mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học; Đổi mới kiểm tra đánh giá và
tăng cường quản lý đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá…
2.2 Việc dạy học GDCD, những kết quả đạt được và những hạn chế cần
khắc phục trong việc kết hợp PP thảo luận nhóm và PP đóng vai trong DH
phần công dân với pháp luật ở trường THPT Vĩnh Hòa.
2.2.1 Việc dạy học môn GDCD ở trường THPT Vĩnh Hòa
Trong quan điểm của các cấp lãnh đạo nhà trường và giáo viên thường hay
tầm thường hoá môn học, coi nó là một môn bổ trợ, cho nên công tác giám
sát đối với giờ dạy của giáo viên giáo dục công dân là buông lỏng và hạn
chế, nó được thể hiện trong các giờ thao giảng rất ít sự có mặt của Ban
giám hiệu cho nên mới có hiện tượng dạy trái quy định, thậm chí sai kiến
thức cơ bản, giáo viên vẫn sử dụng, thậm chí sử dụng thường xuyên
phương pháp dạy học truyền thống mà không cần đổi mới phương pháp
dạy học dẫn đến tình trạng học sinh chán học môn Giáo dục công dân. Mặt
Khích lệ sự thay đổi thái độ, hành vi của HS theo hướng tích cực. Có
thể thấy ngay tác động và hiệu quả của lời nói hoặc việc làm của các
vai diễn.
Hạn chế
Trong quá trình thảo luận nhóm có thể có một vài thành viên trong nhóm nổi trội hơn
nhưng cũng có một vài thành viên khác trong nhóm cũng có thể bị co lại và ít tham gia
vào hoạt động nhóm hơn. Đối với phương pháp này tốn nhiều thời gian hơn để có thể
cho tất cả các thành viên đều tham gia. Phương pháp này cũng không phù hợp với lớp
đông.
- Mất nhiều thời gian
Chương 3 : Vận dụng việc kết hợp PPTLN với PPDH đóng vai để giảng
dạy bài
“Quyền bình đẳng của công dân trong một số lĩnh vực của đời sống xã hội”
và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc dạy học môn
GDCD ở THPT.
3.1 Vận dụng việc kết hợp PPTLN với PP đóng vai trong dạy học bài
“Quyền bình đẳng của công dân trong một số lĩnh vực của đời sống xã hội”
I. Mục tiêu bài học :
1/. Về kiến thức :
- Nêu được nội dung một số quyền bình đẳng của công dân trong các
lĩnh vực của đời sống xã hội
- Nêu được trách nhiệm của nhà nước đối với việc đảm bảo cho công
dân thực hiện quyền bình đẳng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội
2/. Về kĩ năng:
20
- Biết thực hiện và nhận xét việc thực hiện quyền bình đẳng của công
GV đặt câu hỏi : Thế nào là bình
đẳng trong hôn nhân & GĐ?
21
- HS đọc thông tin SGK và trả lời câu
hỏi
=> GV kết luận
Bình đẳng trong hôn nhân và gia đình là bình
đẳng về nghĩa vụ và quyền giữa vợ, chồng và
giữa các thành viên trong gia đình trên cơ sở
nguyên tắc dân chủ, công bằng, tôn trọng lẫn
nhau, không phân biệt đối xử trong các mối
quan hệ ở phạm vi gia đình và xã hội, được PL
qui định và được nhà nước bảo đảm thực hiện.
GV: Giải thích cho HS thấy được hôn
nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau
khi kết hôn. Mục đích là xây dựng GĐ
hạnh phúc, thực hiện các chức năng
sinh con, nuôi dạy con và tổ chức đời
sống vc, tinh thần của gia đình.
Hoạt động 2 : Tìm hiểu nội dung 2. Nội dung bình đẳng trong hôn nhân và gia
bình đẳng trong hôn nhân và gia đình
đình.
Trong gia đình có nhiều mối quan hệ
nhưng quan hệ hôn nhân và quan hệ
huyết thống là 2 mối quan hệ quan
trọng nhất.
hỏi cho từng nhóm và yêu cầu đại
chung, thể hiện ở các quyền chiếm hữu, sử
diện nhóm trình bày
dụng và định đoạt…
b. Bình đẳng giữa các thành viên trong gia đình
* N1 :
- Bình đẳng giữa vợ và chồng trong
gia đình được thể hiện ở những điểm
22
cơ bản nào?
- Bình đẳng giữa cha mẹ và con: Cha mẹ (cả
bố dượng, mẹ kế) có quyền và nghĩa vụ ngang
nhau đối với các con, thương u, ni dưỡng,
=> GV kết luận : Vợ, chồng bình chăm sóc... Khơng được phân biệt, đối xử,
đẳng với nhau, có nghĩa vụ và quyền ngược đãi, hành hạ con (cả con ni)...Con trai,
ngang nhau về mọi mặt trong gia con gái phải chăm sóc, gd, tạo đk như
đình.
nhau...Con phải u q, kính trọng, chăm sóc,
ni dưỡng cha mẹ...
* N2 : Bình đẳng giữa cha mẹ và con
cái, thể hiện ở những điểm nào?
- Bình đẳng giữa ơng bà và các cháu: Ơng bà
chăm sóc, gdục, là tấm gương tốt cho các cháu;
các cháu kính trọng, phụng dưỡng ơng bà.
- Bình đẳng giữa anh, chị em: u thương
chăm sóc giúp đỡ lẫn nhau, ni dưỡng nhau
khi khơng còn cha mẹ...
Hoạt động 3 : Tìm hiểu trách nhiệm
của nhà nước trong việc đảm bảo
quyền bình đẳng trong hơn nhân và
gia đình.
- GV cho hs đóng vai tình huống
sau :Một người chồng do quan niệm
vợ mình khơng đi làm, chỉ ở nhà làm
cơng việc nội trợ, khơng thể quyết
định việc lớn, nên khi bán xe ơtơ ( tài
sản chung của vợ và chồng, đang sử
dụng vào cơng việc kinh doanh của
gia đình) đã khơng bàn bạc với vợ,
Người vợ phản đối, k đồng ý bán.
Câu hỏi sau phần diễn:
1. Theo em, người vợ có quyền đó
khơng? Vì sao?
2. Nếu em là người vợ, trong trường
hợp này, em sẽ làm gì?
- GV nêu một số quy phạm PL trong luật
hơn nhân và gia đình : Điều 63, điều 32
trong Hiến pháp 1992 để hs giải quyết các
vấn đề đặt ra trong tình huống trên.
GV hỏi :
-
Vì sao nhà nước lại đưa ra các quy
phạm PL?
Nhà nước đã làm gì để những quy
định PL trên thực sự tác động đến
nhiệm của NN trong việc đảm bảo quyền
bình đẳng trong hơn nhân và gia đình?
=> GV kết luận: Nhà nước bảo đảm cho
quyền và lợi ích hợp pháp của các thành
viên trong gia đình được thực hiện. Cùng
với Nhà nước, các thành viên cần tự giác
thực hiện quyền và nghóa vụ của mình để
xây dựng gd hoà thuận, ấm no, tiến bộ, hp.
2/Bình đẳng trong lao động
a. Thế nào là bình đẳng trong lao động?
Tiết 2
Hoạt động 1 : Tìm hiểu thế nào là
bình đẳng trong lao động
- GV cho hs xem 1 số hình ảnh về
hoạt động lao động của con người trên
1 số lĩnh vực khác nhau.
HS : quan sát tranh
- GV : Hãy cho biết nội dung của
những hình ảnh trên là gì?
HS : H/ả trên mơ tả cuộc sống lao
Bình đẳng trong lao động được hiểu là bình
động của nhân dân trên nhiều lĩnh vực đẳng giữa mọi cơng dân trong thực hiện quyền
khác nhau ( liệt kê từng lĩnh vực tùy lao động thơng qua việc tìm việc làm, bình
đẳng giữa người sử dụng lao động và người lao
theo nội dung của bức tranh
động thơng qua hợp đồng lao động, bình đẳng
giữa lđ nam và lao động nữ trong từng cơ