BÀI TIỂU LUẬN
MÔN : ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Đề bài: Mục tiêu, quan điểm và chủ trương xây dựng Hệ thống chính trị
thời kỳ đổi mới.
BÀI LÀM
I.
Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Sau thắng lợi của Cách mạng tháng 8 năm 1945, dưới con đường mà chủ tịch
Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã lựa chọn, đất nước ta đã tiến theo
con đường xã hội chủ nghĩa.; một xã hội lý tưởng mà lãnh đạo là giai cấp công
nhân và nhân dân lao động đoàn kết. Đây là một bước ngoặt lịch sử hết sức to lớn
và quan trọng trong tiến trình lịch sử dân tộc và mở ra một trang sử hào hùng
chói lọi cho đất nước Việt Nam sau gần 100 năm dưới ác nô lệ thuộc địa. Tư
những nhiệm vụ mới được đặt ra và phải hoàn thành, dù gặp không ít khó khăn,
gian khổ thậm chí còn không biết bao đau thương mất mát nhưng dưới sự lãnh
đạo của Đảng, nhân dân ta đã hoàn thành thắng lợi công cuộc kháng chiến chống
thực dân Pháp và đế quốc Mỹ; hoàn thành thắng lợi cuộc Cách mạng dân tộc dân
chủ và thống nhất đất nước, quy lãnh thổ quốc gia về một mối. Đây là những
thắng lợi vô cùng to lớn vĩ đại mà không phải đảng nào, quốc gia nào cũng có thê
làm được. Chúng ta và thế hệ mai sau không những luôn luôn phải biết ơn về
những điều đó mà còn có quyên tự hào về một sử hào hùng như vậy.
Tư sau năm 1975, đất nước ta lại bước vào một chặng đường mới những
nhiệm vụ mới. Một công cuộc to lớn là xây dựng đất nước theo định hướng xã
hội chủ nghĩa đã lựa chọn; quá độ lên CNXH trong cả nước. Cùng với việc xây
1
tư trước nhằm tăng cường nhận thức của bản thân đồng thời cũng có những nhận
xét và quan điêm của riêng mình về vấn đề đây. Đây cũng chính là phạm vi của
bài làm, vì nhận thức và trình độ bản thân còn có hạn nên mong muốn bài làm
được sâu sắc và đồ sộ như những tác phẩm nghiên cứu khác là không thê đạt
được mà chỉ dưng lại ở một giới hạn phù hợp nhất định.
II.
Khái niệm hệ thống chính trị và những quan điểm về hệ thống
chính trị ở Việt Nam.
1. Khái niệm về hệ thống chính trị :
Trong bất ky một xã hội có sự phân chia giai cấp, tầng lớp, quyền lực của một
chủ thê cầm quyền tức là giai cấp cầm quyền trong xã hội đó đều được biêu hiện
bằng một hệ thống các thiết chế và tổ chức nhất định. Đó là hệ thống chính trị.
Khái niệm hệ thống chính trị xuất hiện trong triết học và đặc biệt là triết học Mác
– Leenin. Đồng thời nó cũng là đối tượng trong các quan điêm, đường lối và
chính sách của Đảng và Nhà nước ta đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay.
Hệ thống chính trị thực chất được hiêu như là một chỉnh thê các tổ chức chính
trị trong xã hội bao gồm Đảng chính trị, Nhà nước và các tổ chức chính trị – xã
hội hợp pháp được lien kết với nhau trong một hệ thống tổ chức nhằm tác động
vào quá trình của đời sống xã hội đê củng cố, duy trì và phát triên chế độ đương
thời phù hợp với lợi ích của giai cấp cầm quyền.
Hệ thống chính trị xuất hiện cùng với sự thống trị của giai cấp, Nhà nước và
thực hiện đường lối chính trị của giai cấp cầm quyền, do đó hệ thống chính trị
mang bản chất của giai cấp cầm quyền. Như vậy theo khái niệm trên, hệ thống
chính trị đúng với khái niệm hệ thống nghĩa là không chỉ bao gồm một hay một
3
Bản chất của hệ thống chính trị và vị trí đặc điểm của các tổ chức chính
trị :
2.1.
Bản chất
Đảng Cộng sản Việt Nam – đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam
giữa vai trò quan trọng nhất trong lãnh đạo toàn thê dân tộc Việt Nam đoàn kết
lại đứng lên làm Cách mạng, giành chính quyền, đòi lại độc lập tự do và tổ chức
hệ thống chính trị của mình. Vì thế hệ thống chính trị của nước ta có những bản
chất sau :
• Một : Hệ thống chính trị đó mang bản chất của giai cấp công nhân Việt
Nam, tất cả các tổ chức trong hệ thống chính trị này đều phải đứng trên lập
trường quan điêm của giai cấp công nhân; tư đó nó đã quy định đến chức
năng, nhiệm vụ, phương thức hoạt động của toàn bộ hệ thống chính trị,
đảm bảo quyền làm chủ của giai cấp công nhân và nhân dân lao động.
• Hai : Bản chất dân chủ của hệ thống chính trị Việt Nam thê hiện ở chỗ
quyền lực thuộc về nhân dân với việc Nhà nước mang bản chất Nhà nước
của dân, do dân và vì dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam,
đại biêu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và
của toàn dân tộc, thiết lập sự thoogns trị của đại đa số nhân dân với thiêu
số bóc lột.
• Ba : Bản chất thống nhất trong hệ thống mà không đối kháng với hệ thống
đó. Bản chất này dựa trên cơ sở chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ
yếu, về sự thống nhất giữa những lợi ích căn bản của giai cấp công nhân,
nhân dân lao động và của toàn dân tộc.
Ở đây chúng ta xét đến bản chất của hệ thống chính trị nước ta nhằm thấy ra
những điêm, quan điêm trong đường lối xây dựng hệ thống chính trị Việt Nam
thời ky đổi mới của Đảng có phù hợp với những bản chất đó, phát huy được cao
6
III.
Mục tiêu, quan điểm và chủ trương xây dựng hệ thống chính trị
thời kỳ mới
1. Yêu cầu đặt ra phải tiến hành xây dựng hệ thống chính trị thời kỳ
mới
Trước năm 1986, Đảng ta sử dụng khái niệm hệ thống chuyên chính vô sản
hay chuyên chính vô sản nhưng tư tháng 3-1989, tại Hội nghị Trung ương lần 6
khoá VI của Đảng, Đảng ta đã chính thức sử dụng khái niệm hệ thống chính trị
đê thay thế. Điều đó cho thấy một sự đổi mới tư duy, nhận thức sâu sắc của Đảng
ta về vấn đề này và là cơ sở quan trọng cho việc hoạch định đường lối, chính sách
cho phát triên hệ thống này.
Cách mạng tháng 8-1945 thắng lợi, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
ra đời đánh dấu sự hình thành ở nước ta một hệ thống chính trị cách mạng với
những đặc trưng riêng. Hệ thống này đã thê hiện rõ sự cần thiết của mình và góp
phần to lớn vào thắng lợi của cả dân tộc trong suốt tiến trình kháng chiến chống
thực dân Pháp và đế quốc Mỹ của cả dân tôc.
Tư sau tháng 4-1975, với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu
nước, Cách mạng nước ta đã chuyên sang 1 giai đoạn mới – giai đoạn tiến hành
Cách mạng Xã hội chủ nghĩa trên phạm vi cả nước. Vì vậy hệ thống chính trị
nước ta cũng chuyên sang giai đoạn tư hệ thống chuyên chính dân chủ nhân dân
làm nhiệm vụ lịch sử của chuyên chính vô sản trên phạm vi cả nước sang hệ
thống chuyên chính vô sản hoạt động trên phạm vi cả nước. Rõ ràng ở đay đã có
sự chuyên biến về chất trong xác định hệ thống chuyên chính vô sản ở Việt Nam.
Trong suốt một giai đoạn lâu dài sau này, hệ thống chuyên chính vô sản
Việt Nam đã góp phần mang lại những thành tựu mà nhân dân ta đã đạt được.
chính trị tại Đại hội VII (1991) nhấn mạnh : Thực chất của việc đổi mới và kiện
toàn hệ thống chính trị nước ta là xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Dân
chủ vưa là mục tiêu, vưa là động lực của công cuộc đổi mới. Điều đó cho thấy
Đảng ta vẫn đặc biệt quan tâm đến dân chủ và chế độ dân chủ trong công cuộc
đổi mới, không những trong kinh tế - xã hội mà trong cả đổi mới hệ thống chính
trị nước nhà.
Trong nhận thức mới về đấu tranh giai cấp và động lực chủ yếu phát triên
đất nước trong giai đoạn mới, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX nhấn mạnh:
“Trong thời ky quá độ có nhiều hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất, nhiều thành
phần kinh tế, giai cấp, tầng lớp xã hội khác nhau nhưng cơ cấu, vị trí, tính chất
của các giai cấp trong xã hội đã có nhiều thay đổi cũng với những tiến bộ to lớn
về kinh tế, xã hội. Mối quan hệ giữa các giai cấp, các tầng lớp xã hội là quan hệ
hợp tác và đấu tranh trong nội bộ nhân dân, đoàn kết và hợp tác lâu dài trong sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Lợi ích giai cấp
công nhân thống nhất với lợi ích toàn dân tộc trong một mục tiêu chung : độc lập
dân tốc gắn liền với Chủ nghĩa xã hội; dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh”.
Động lực chủ yếu phát triên đất nước là đại đoàn kết toàn dân dựa trên cơ
sở nòng cốt là liên minh công nông và trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng, kết
hợp cho được sự hài hoà lợi ích, phát huy mọi tiềm lực, thế mạnh của xã hội.
Nhận thức về cơ cấu và cơ chế vận hành của hệ thống chính trị thì được đặt
đưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý,… hoạt động
trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật.
Nhận thức mới về xây dựng Nhà nước pháp quyền trong hệ thống chính trị
và về Mặc trận Tổ quốc Việt Nam. Hai bộ phận này quan trọng trong hệ thống
9
chính trị Việt Nam thực hiện chức năng, nhiệm vụ quan trọng của mình dưới sự
lãnh đạo của Đảng.
không chỉ thê hiện ở các khẩu hiệu, lời nói mà phải đi vào thực tiễn hành động,
tạo cho ky được những chuyên biến tích cực. Nghĩa là phát huy dân chủ toàn
diện, thực chất trong xã hội mà không phải là kiêu dân chủ hình thức.
Muốn làm được điều đó thì các tổ chức trong hệ thông sch trị phải không
ngưng nâng cao vai trò, vị trí, sức chiến đấu và ảnh hưởng của mình, đặc biệt là
Đảng Cộng sản, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc.
3.2.
Quan điêm
Một là, kết hợp chặt chẽ ngay tư đầu việc đổi mới kinh tế với đổi mới
chính trị; lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng thời tưng bước đổi mới chính
trị.
Năm 1986, với sự thay đổi, đổi mới về nhận thức của Đảng mà nước ta đã đề ra
đường lối đổi mới toàn diện, phát huy sức mạnh toàn dân tộc vượt qua thời ky
khó khăn, khủng hoảng, đặt nền móng cho sự phát triên trong tương lai của đất
nước.
Khi kinh tế phát triên, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngưng
được nâng cao thì đó là điều kiện tiên quyết cho sự ổn định của xã hội cũng như
sự ổn định về tình hình chính trị. Thực tế những năm qua cho thấy Việt Nam
được đánh giá là quốc gia ổn định về chính trị - xã hội – an ninh, thu hút đầu tư
quốc tế và không ngưng nâng cao vai trò, vị thế của mình trên trường quốc tế.
11
Một phần là do đặc thù ở Việt Nam chỉ duy nhất có một Đảng lãnh đạo, tâm lý
của con người muốn yên ổn làm ăn. Nhưng phần lớn là cũng do đời sống kinh tế
không ngưng đựơc nâng cao, nhân dân được thoải mái hơn trong mọi hoạt động.
Hai là, đổ mới tổ chức và phươgn thức hoạt động của hoạt động chính trị là
toàn bộ hệ thống chính trị làm nên những đột phá và những thắng lợi mới trong
tình hình mới.
Bốn là, đối mới quan hệ giữa các bộ phận cấu thành hệ thống chính trị với
nhau và với xã hội, tạo ra sự vận động cùng chiều theo hướng tác động, thúc đẩy
xã hội phát triên, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Công việc này đòi hỏi sự
chung tay tham gia của cả hệ thống chính trị ở mọi cấp độ, ban ngành chứ không
phải bó gọn ở một vài bộ phận nào đó. Nó yêu cầu sự sáng tạo, lòng quyết tâm
cao và có cách làm phù hợp nếu không dễ dẫn đến những sai lầm như : Đảng làm
thay vai trò quản lý của Nhà nước; hay Mặt trận Tổ quốc Việt Nam không còn có
thê đại diện cho toàn xã hội nữa,… những sai lầm như thế thậm chí là một nguy
cơ mà cả hệ thống chính trị phải đề phòng và triệt tiêu.
Chủ trương xây dựng hệ thống chính trị
• Xây dựng Đảng trong hệ thống chính trị :
3.3.
Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và toàn xã hội đã được quy định rõ
trong Hiến pháp. Về vị trí, vai trò của Đảng trong hệ thống chính trị, Cương lĩnh
xây dựng đất nước năm 1991 xác định: “Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng
thời là một bộ phận của hệ thống ấy. Đảng liên hệ mật thiết với nhân dân, chịu sự
13
giám sát của nhân dân, hành động trong khuôn khổ cho phép của Hiến pháp và
pháp luật”.
Trọng tâm trong đổi mới hệ thống chính trị là đổi mới tổ chức và phương
thức hoạt động của các bộ phận cấu tạo nên toàn bộ hệ thống. Trong đổi
mới phương thức hoạt động của hệ thống chính trị, vấn đề mấu chốt là đổi
mới phương thức hoạt động của Đảng, khắc phục khuynh hướng Đảng bao
nghiệm, đánh giá hiệu quả hoạt động đê đạt được những kết quả tốt nhất.
• Xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa :
Chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền là một khẳng định đúng đắn
và thưa nhận Nhà nước pháp quyền là một tất yếu lịch sử. Xây dựng Nhà
nước pháp quyền là điều cần thiết và là điêu kiện đảm bảo sự ổn định của
chế độ xã hội
Nhà nước quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật. Phap luật giữ vị trí
tối cao trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội và kê cả hệ thống chính trị.
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam được xây dựng theo 5
điêm sau :
Là Nhà nước của dân, do dân và vì dân, tất cả quyền lực thuộc về
nhân dân.
Quyền lực của Nhà nứoc là thống nhất, có sự phân chia trách nhiệm
công việc và phối hợp đồng bộ chặt chẽ trong thực hiện các quyền
lập pháp, hành pháp và tư pháp
Nhà nước hoạt động trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật và đảm bảo
Hiến pháp, pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh trong xã hội.
Tôn trọng và đảm bảo các quyền con người, quyền công dân; nâng
cao trách nhiệm pháp lý giữa Nhà nước và công dân; thực hành dân
chủ, tăng cường kỷ cương, kỷ luật.
15
Do duy nhất một Đảng lãnh đạo, có sự giám sát của nhân dân, sự
phản biện của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên
của Mặt trận.
Một số biện pháp nhằm xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa :
Hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng hiệu quả của pháp luật với việc
quan lý, nhân dân làm chủ.
Nhà nước ban hành cơ chế, chính sách đê Mặt trận và các tổ chức
chính trị - xã hội thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội.
Thực hiện tốt Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Luật Thanh niên,
Luật Công đoàn,…. Quy chế dân chủ ở mọi cấp
IV. Kết luận
1. Đánh giá việc thực hiện đường lối
Kết quả và ưu điểm :
• Trong những năm qua, hệ thống chính trị ở nước ta nhờ việc thực hiện tốt
đường lối, chính sách xây dựng hệ thống chính trị thời ky đổi mới đã đạt
được những kết quả đảng kê. Tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị
có nhiều đổi mới góp phần xây dựng và tưng bước hoàn thiện nền dân chủ
xã hội chủ nghĩa, đảm bảo quyền lực thuộc về nhân dân. Tổ chức bộ máy
của hệ thống được đảm bảo tinh gọn, hiệu quả.
• Nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan Nhà nước được phân định rõ ràng,
tưng bước hoàn thiện cơ chế chính sách, quản lý Nhà nước bằng pháp luật.
• Đảng Cộng sản không ngưng được củng cố về cả chính trị, tư tưởng, tổ
chức, vai trò lãnh đạo ngày càng gia tăng; Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thê
chính trị xã hội tưng bước đổi mới nội dung và phương thức hoạt động
đem lại hiệu quả thiết thực; Quyền làm chủ của nhân dân trên các lĩnh vực
kinh tế, xã hội, chính trị, văn hoá, tư tưởng được phát huy.
• Những kết quả, thành tựu đạt được khẳng định đường lối đổi mới nói
chung, đường lối đổi mới hệ thống chính trị nói riêng là đúng đắn, sáng
tạo, phù hợp với thực tiễn, bước đầu đáp ứng được yêu cầu của tình hình
mới.
17
trình độ lãnh đạo của tổ chức Đảng ở các cấp đê phát huy tính chủ động, sáng tạo
và tinh thần trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thống chính trị trong việc thực
hiện đường lối của Đảng.
Hai là, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng cần nâng cao nhận thức và
có quan niệm đúng đắn về sự lãnh đạo toàn diện của Đảng. Trước hết là việc đổi
mới, việc ra Nghị quyết và chỉ đạo thực hiện các Nghị quyết của Đảng. Phát huy
dân chủ trong sinh hoạt Đảng, giữ vững đoàn kết thống nhất trong Đảng. Tăng
cường công tác kiêm tra, thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ và
quy chế làm việc; tăng cường công tác giáo dục rèn luyện nâng cao phẩm chất
đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên của Đảng...
b. Đổi mới và nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước.
Đê Nhà nước làm nhiệm vụ quản lý và lãnh đạo xã hội, cần làm tốt một số
vấn đề sau:
- Phát huy mạnh mẽ vai trò của hệ thống chính quyền Nhà nước trong việc
mở rộng và thực hiện dân chủ, hoàn thiện cơ chế dân chủ, thực hiện tốt quy chế
dân chủ ở cơ sở, cụ thê hoá phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiêm
tra.
- Chăm lo xây dựng, kiện toàn bộ máy của Nhà nước tư Trung ương đến cơ
sở, có cơ cấu gọn nhẹ, hoạt động có hiệu quả, đội ngũ cán bộ có phẩm chất và
năng lực với tinh thần trách nhiệm cao. Hoạt động của cơ quan Nhà nước phải
đặt nhiệm vụ phục vụ nhân dân lên trên hết, giải quyết đúng đắn và nhanh chóng
các công việc có liên quan trực tiếp đến đời sống của nhân dân. Giáo dục cán bộ,
công chức Nhà nước xây dựng và thực hành phong cách "Trọng dân, gần dân,
19
hiêu dân, học dân và có trách nhiệm với dân", "Nghe dân nói, nói dân hiêu, làm
dân tin"...
- Xây dựng cơ chế và biện pháp đê kiêm tra, kiêm soát, ngăn ngưa và trưng
Bài tiêu luận trên đây còn nhiều hạn chế do nhận thức có hạn tuy nhiên
cũng đã nhấn mạnh đựơc một số vấn đề chung về hệ thống chính trị Vịêt
Nam, đặc biệt có tìm hiêu sâu sắc về mục tiêu, quan điêm và chủ trương
xây dựng hệ thống chính trị Việt Nam thời ky đổi mới nhằm góp phần
quan trọng vào công cuộc xây dựng đất nước thời ky quá độ lên Chủ nghĩa
xã hội ở nước ta.
Với vai trò, vị trí là thanh niên, một lực lượng trẻ và là tương lai của đất
nước, lực lượng sinh viên cần nhận thức đầy đủ trách nhiệm, góp phần vào
việc xây dựng hệ thống chính trị Việt Nam. Tham gia tích cực vào các
cuộc vận động lớn của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thê.
Thực hiện nghiêm chỉnh và góp phần tuyên truyền đường lối chính sách,
pháp luật của Đảng và Nhà nước. Tích cực tham gia và thực hiện quy chế
dân chủ cơ sở, hăng hái đi đầu trong mọi lĩnh vực học tập, nghiên cứu và
công tác. Trực tiếp xây dựng tổ chức Đoàn và phong trào Đoàn đê góp
phần vào việc xây dựng hệ thống chính trị Việt Nam ngày càng vững
mạnh.
21
Tài liệu tham khảo
1./ Tài liệu trang tin điện tử
tusach.thuvienkhoahoc.com
www.thanhdoan.hochiminhcity.gov.vn
www.hanhchinhvn.com
www.tapchicongsan.org.vn
2./ T ài liệu sách báo
. Giáo trình lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam/ Chủ biên: PGS, NGND.Lê