MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp, nông thôn luôn là vấn đề trọng yếu đối với mỗi quốc gia,
kể cả những nước đã đạt đến trình độ phát triển cao. Với một đất nước có
đến 74,1% dân số và hơn 57% lao động sống dựa vào nghề nông như Việt
Nam thì vai trò của nông nghiệp càng quan trọng hơn. Xã hội có thể thiếu
nhiều loại sản phẩm nhưng không thể thiếu lương thực, thực phẩm, mà
nông nghiệp lại là lĩnh vực duy nhất có thể thoả mãn nhu cầu này. Nền
nông nghiệp càng hiện đại thì mức độ thỏa mãn nhu cầu lương thực, thực
phẩm cho nhân dân càng cao. Nhưng sự phát triển của nông nghiệp lại phụ
thuộc rất lớn vào mức độ trang bị các phương tiện sản xuất tiên tiến và
công nghệ hiện đại cho nó. Nói cách khác, sự phát triển của nông nghiệp
phụ thuộc vào việc ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật nông nghiệp
như cơ khí hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa, hóa học hóa và sinh học hóa sâu
rộng đến mức nào. Chính vì lẽ đó mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác
định một trong những nội dung cơ bản của sự nghiệp công nghiệp hóa đất
nước những năm trước mắt là phải “đặc biệt coi trọng công nghiệp hóa,
hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn”. Thực hiện đường lối đó, những năm
gần đây, nông nghiệp được tập trung nguồn vốn để trang bị thêm nhiều
phương tiện sản xuất hiện đại, nhờ đó đã có những bước phát triển mạnh
mẽ cả về số lượng và chất lượng, trong đó nổi bật nhất là sự kiện Việt Nam
từ một nước thiếu lương thực triền miên trở thành một trong những nước
xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới. Người nông dân Việt Nam đã từng bước
làm quen với việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ vào
sản xuất, nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng nông sản trên thị trường
trong và ngoài nước. Nam Định được coi là một trong những địa phương đi
đầu trong tiến trình chung đó.
Là một tỉnh nằm ở vị trí trung tâm khu vực đồng bằng sông Hồng,
Nam Định có nhiều điều kiện thuận lợi cả về tự nhiên, kinh tế, xã hội để
phát triển nền nông nghiệp theo hướng hội nhập, bền vững. Tuy vậy, do
nhiều khó khăn chủ quan và khách quan, nên sản xuất nông nghiệp của
2
- “Phát triển công nghiệp chế biến nông sản ở Việt Nam” của Mai Thị
Thanh Xuân và Ngô Đăng Thành, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà
Nội, 2006.
Các công trình trên và nhiều công trình khác chưa nêu ở đây, nhìn
chung đã đề cập đến những khía cạnh của khoa học - công nghệ nông
nghiệp trong phạm vi cả nước cùng với một số giải pháp, ứng dụng thiết
thực, cụ thể.
Liên quan đến đề tài luận văn còn có các công trình nghiên cứu về địa
bàn tỉnh Nam Định. Đó là:
- "Nghiên cứu quy hoạch vùng sản xuất khoai tây Hà Lan xuất khẩu từ
giống tạo bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật", năm 2002, đề
tài NCKH cấp tỉnh, do Hoàng Duy Khánh làm chủ nhiệm.
- "Hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất khoai tây Hà Lan chất
lượng cao sạch bệnh bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào cung cấp cho
vùng khoai tây xuất khẩu của tỉnh Nam Định", 2002, đề tài do Hoàng Duy
Khánh làm chủ nhiệm.
- Đề tài "Nghiên cứu so sánh, khảo nghiệm, chọn lọc tập đoàn giống
lúa ở các vùng sinh thái tỉnh Nam Định" do Đào Viết Tâm là chủ nhiệm,
năm 2001.
Nói chung, các công trình nghiên cứu có liên quan tuy nhiều nhưng
chủ yếu đề cập đến vấn đề công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp,
nông thôn, hoặc có xem xét thì cũng chỉ dừng ở một vài khía cạnh trong
việc đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ trong nông nghiệp chứ chưa
có công trình nào nghiên cứu toàn bộ qua trình này một cách hệ thống, đầy
đủ và toàn diện, nhất là tại địa bàn Nam Định và với tư cách là một luận
văn thạc sỹ kinh tế chính trị. Vì vậy, việc nghiên cứu hoạt động ứng dụng
phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; phương
pháp của kinh tế chính trị Mác-Lênin. Ngoài ra luận văn cũng kết hợp sử
dụng các phương pháp như phân tích - tổng hợp, thống kê - so sánh, lôgiclịch sử.
4
6. Đóng góp của luận văn
- Làm rõ thêm vai trò của khoa học kỹ thuật và công nghệ đối với sự
phát triển sản xuất nông nghiệp.
- Đánh giá về thực trạng ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ
trong nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Nam Định.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ
thuật và công nghệ vào sản xuất nông nghiệp ở tỉnh Nam Định .
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về nông nghiệp và khoa học kỹ
thuật và công nghệ trong nông nghiệp
Chương 2: Thực trạng ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ trong
nông nghiệp ở Nam Định 1996 cho đến nay
Chương 3: Định hướng và giải pháp đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ
thuật và công nghệ trong nông nghiệp ở tỉnh Nam Định.
5
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KHOA HỌC KỸ THUẬT
VÀ CÔNG NGHỆ TRONG NÔNG NGHIỆP
Thuỷ lợi hoá là việc chinh phục và sử dụng nguồn nước vào sản xuất
nông nghiệp nhằm hạn chế và tiến tới khắc phục nạn hạn hán, lũ lụt, khai
thác các nguồn và cung cấp nước cho cây trồng vật nuôi theo yêu cầu kỹ
thuật sản xuất nông nghiệp.
Cơ khí hoá:
Cơ khí hoá là quá trình đưa máy móc cơ khí vào sản xuất nông nghiệp,
thay thế một phần hoặc toàn bộ công cụ thủ công dùng sức người và gia
súc, nhằm tăng năng suất và giảm nhẹ cường độ lao động.
Điện khí hoá:
Điện khí hoá là quá trình sử dụng rộng rãi điện năng vào sản xuất nông
nghiệp.Trong lĩnh vực điện khí hoá nông thôn sẽ thực hiện được những
yếu tố tiến bộ kỹ thuật như: đảm bảo áp dụng năng lượng điện một cách
rộng rãi vào ngành trồng trọt tưới nước, mở rộng việc sử dụng điện cho
việc sưởi ấm các nhà kính, thắp sáng bổ sung để nuôi trồng các mầm non,
áp dụng vào sản xuất nông nghiệp các phương pháp qui trình công nghệ
điện tử - iôn và tác động trực tiếp năng lượng điện vào cơ thể gia súc và
cây trồng,…
Sinh học hoá:
Công nghệ sinh học (CNSH) là một tập hợp những kỹ thuật được sử
dụng để tạo ra, cải tạo hoặc làm biến đổi cây trồng, vật nuôi và vi sinh vật
nhằm phát triển các sản phẩm như thực phẩm, enzim, dược phẩm và
vacxin.
Hoá học hoá:
Hoá học hoá là ngành khoa học nghiên cứu và áp dụng các kết quả
nghiên cứu về dinh dưỡng cây trồng, về hoá học đất (thổ nhưỡng), về phân
bón… là cơ sở của hoá học nông nghiệp. Phân bón là một nhân tố quan
trọng nhất của tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp. Sử dụng hợp lý phân
bón thúc đẩy nâng cao hiệu quả kỹ thuật và kinh tế nông nghiệp trong tất
cả các biện pháp khác nhằm thâm canh nông nghiệp.
chuyển giao công nghệ cho nông dân.
8
Chương 2
THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG KHOA HỌC KỸ THUẬT
VÀ CÔNG NGHỆ TRONG NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH NAM ĐỊNH
2.1. Các đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội tỉnh Nam Định ảnh
hưởng đến phát triển nông nghiệp và ứng dụng khoa học công nghệ
trong nông nghiệp
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên
Nam Định là tỉnh đồng bằng ven biển, được xác định là trung tâm của
các tỉnh phía Nam sông Hồng, có một vị trí địa lý rất thuận lợi cho phát
triển kinh tế - xã hội.
Nam Định có diện tích tự nhiên 1649.9km 2 bằng 0,5% diện tích cả
nước và 11,12% diện tích đồng bằng Bắc Bộ; đứng thứ 57 về diện tích
trong số 61 tỉnh thành cả nước, trong đó diện tích đất nông nghiệp là
115.174,2ha, chiếm tới 63,8%, đất phi nông nghiệp: 46.247,7ha, đất chưa
sử dụng: 3.583,5ha. Nam Định cũng cũng có điều kiện phát triển các loại
rau màu và đặc biệt là nuôi trồng thuỷ sản. Với 72 km chiều dài bờ biển,
Nam Định có điều kiện để phát triển ngành thuỷ sản, bao gồm cả đánh bắt
và nuôi trồng.
Tỉnh Nam Định có nhiều điều kiện và cơ hội để nhận chuyển giao
công nghệ từ các trung tâm phát triển của cả nước.
2.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội
2.1.2.1. Đặc điểm kinh tế
Những năm gần đây, kinh tế Nam Định đã có sự phát triển theo hướng
hiện đại. Kinh tế tăng trưởng nhanh là điều kiện để tăng thu nhập cho
người dân. Thu nhập tăng lên đến lượt nó lại thúc đẩy việc ứng dụng kỹ
chế mức độ cơ giới hoá khâu làm đất như: kích thước ruộng đất nhỏ, lẻ,
manh mún, phân tán, chưa hình thành được những vùng chuyên canh tập
trung, lao động dư thừa ở nông thôn chưa được giải quyết… Bên cạnh đó
còn có vấn đề nữa là hầu hết các máy có thời gian sử dụng lâu năm nên
công suất hoạt động thấp, thường hư hỏng và tốn hao nhiều nguyên liệu.
Tuy còn những hạn chế như trên, song hiện nay Nam Định vẫn là một
trong những địa phương đi đầu của các tỉnh phía bắc về việc áp dụng khoa
học công nghệ và cơ giới hoá vào sản xuất nông nghiệp.
- Cơ giới hoá gieo trồng và chăm sóc
Đối với Nam Định do hạn chế về ruộng đất sản xuất nhỏ, lẻ, manh
mún cộng với giá thành máy gieo sạ cao nên nông dân tại đây chưa có cơ
hội tiếp cận và sử dụng. Phải đến năm 2008, công cụ gieo cấy này mới bắt
đầu xuất hiện trên đồng ruộng của một số hợp tác xã tại các huyện Hải
Hậu, Giao Thuỷ,...
Những năm gần đây, nông dân Nam Định cũng đã chuyển từ việc sử
dụng phân đơn sang kết hợp sử dụng phân bón tổng hợp N- P - K. Việc
nông dân áp dụng rộng rãi phân bón tổng hợp vào sản xuất đã đảm bảo
được cân đối dinh dưỡng, hạn chế sâu bệnh và tạo độ đồng đều cao trên
đồng ruộng. Năm 1996, trên địa bàn tỉnh, sản xuất nông nghiệp vẫn còn
13
hoàn toàn sử dụng bón phân đơn nhưng đến năm 2000, nhiều địa phương
trong tỉnh đã kết hợp sử dụng bón kết hợp phân đơn với phân tổng hợp, đạt
khoảng 35% diện tích lúa gieo cấy. Năm 2008, tỷ lệ bón phân tổng hợp (N
- P - K: 16:16:18; N - P - K: 5:10:3,...) đã được nâng lên đến 80% diện tích
gieo cấy ở cả 10 huyện và thành phố. Có thể thấy đó là một bước tiến kỹ
thuật đáng kể trong kỹ thuật thâm canh nông nghiệp tại tỉnh Nam Định thời
gian qua.
Sự tăng lên của các cơ sở chế biến đã làm tăng tỷ lệ sản lượng được sơ
chế và chế biến sâu. Tại các cơ sở lớn, năng lực xay xát có công suất 153
tấn/ca, một ngày có thể sản xuất được 450 - 460 tấn gạo, trong đó có 5 cơ
sở xoa bóng lọc tấm hiện đại làm gạo xuất khẩu đạt 250 - 300 tấn mỗi
ngày. Tỷ lệ xay xát lúa gạo của Nam Định hiện nay đạt 94%, cao hơn mức
trung bình chung của cả nước. Tuy vậy, tại các hộ kinh doanh nhỏ, lẻ có
công suất thấp hơn thì năng lực xay xát chưa đáng kể (khoảng 2,5 tấn/ca 8 tấn/ ca).
Về chất lượng gạo, đặc biệt là gạo xuất khẩu tại Nam Định tuy đã có
sự cải thiện song vẫn còn nhiều hạn chế so với yêu cầu của thị trường thế
giới
Theo số liệu ở bảng trên, chất lượng gạo Nam Định còn một khoảng
cách khá xa so với tiêu chuẩn gạo xuất khẩu. Ví dụ, yêu cầu gạo xuất khẩu
về thuỷ phần phải đạt 14% thì gạo Nam Định là 14,35%, cao hơn 0,35%.
Về tạp chất, đối với gạo xuất khẩu yêu cầu không vượt quá 0,5% thì gạo
Nam Định là 0,57%, cao hơn 0,07%...
Riêng đối với khâu thu hoạch tính từ thời điểm năm 1996 đến nay, tại
Nam Định người nông dân vẫn hoàn toàn dùng phương pháp thủ công.
Đến năm 2006 cả tỉnh mới chỉ có 1 máy gặt đập liên hoàn nhưng mới được
sử dụng để trình diễn ở trung tâm khoa học công nghệ của tỉnh. Việc sử
dụng máy này đòi hỏi phải có hệ thống giao thông nội đồng thuận lợi và
địa hình rộng phẳng phải từ 0,5 ha trở lên, trong khi đó đất sản xuất của
mỗi hộ nông dân của tỉnh lại có đến 49, 53% thửa ruộng có diện tích dưới
0,2 ha. Ngoài ra, còn một số những hạn chế khác như: ruộng nước là chủ
yếu, giá thành máy cao, khả năng về tài chính eo hẹp, hỗ trợ của tỉnh còn ít
15
và chưa rõ ràng,… cũng đều làm tăng thêm khó khăn cho việc đưa máy
móc vào đồng ruộng.
từ năm 2000 trở lại đây đều đạt mức xấp xỉ 100%, nếu như năm 2001, tỷ lệ
hộ sử dụng điện là 99,14% thì đến năm 2008, tỷ lệ này đã là 99,99%. Lưới
điện quốc gia đã phủ kín thôn, xóm, hộ gia đình là cơ sở hết sức quan trọng
trong việc hỗ trợ người sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp tiếp cận được
với KHKT &CN.
2.2.2.4. Ứng dụng các thành tựu công nghệ sinh học vào sản xuất
nông nghiệp
Giống là một trong các yếu tố quan trọng, có vai trò quyết định đến
năng suất và chất lượng nông sản. Nhận thức được điều này, tỉnh Nam
Định đã có nhiều nỗ lực để chủ động sản xuất đủ giống lúa lai cho toàn
tỉnh thay vì trước năm 2000 tỉnh vẫn phải nhập giống của Trung Quốc.
Hiện nay, trung tâm giống của tỉnh và các huyện đã sản xuất giống mới với
chất lượng cao hơn cho nông dân. Tiêu biểu cho việc chủ động sản xuất đủ
giống lúa lai cho địa phương là các huyện Vụ Bản, Trực Ninh, Nam Trực.
Đến nay, nhiều giống lúa có năng suất cao được đưa vào sản xuất nên
năng suất, sản lượng lúa những năm gần đây không ngừng nâng cao. Sản
lượng lương thực từ năm 1999 đã đạt trên 1 triệu tấn, góp phần giữ vững
an ninh lương thực, phát triển công nghiệp, tăng cường dự trữ và xuất
khẩu,... Không chỉ trên ruộng đất tốt mà ngay cả trên các loại đất chua,
trũng, mặn, hạn,… việc ứng dụng giống mới đều mang lại năng suất cao
hơn. Hiện tại, giống lúa lai đã được áp dụng trên 50,6% diện tích gieo cấy.
Nhờ đó đã làm tăng năng suất và sản lượng ở mọi địa phương. So với
nhóm lúa thuần và nhóm lúa đặc sản thì lúa lai cho năng suất cao hơn rất
nhiều.
Mặc dù hàng năm, Nam Định vẫn có khoảng 35 - 40 vạn tấn thóc hàng
hoá. Tuy vậy, sản lượng lúa xuất khẩu của tỉnh vẫn còn thấp và không đủ
sức cạnh tranh trên thị trường, kể cả những thị trường dễ tính. Do đó, kể từ
năm 2005, giống lúa lai phải nhường chỗ cho những giống lúa chất lượng
cũ, từ 37,68 đến 39,23 tạ/ha .
Trong lĩnh vực chăn nuôi, ngay từ năm 1996 tỉnh đã mạnh dạn chọn
lọc, nhập nội các con giống có nhiều ưu thế như: tăng trọng nhanh, chống
chịu bệnh dịch tốt và có giá trị kinh tế cao ( các giống lợn, bò, gà, vịt lai,
giống ngoại…).
Đối với lĩnh vực nuôi trồng thuỷ sản việc ứng dụng KHCN những năm
gần đây đã có những khởi sắc, đặc biệt là sự thành công của việc lai tạo và
18
nuôi trồng những giống cá, tôm, cua, ngao… mới. Có thể nói, hiện nay
nuôi trồng thuỷ sản đang trở thành ngành sản xuất chính tại các huyện
Giao Thuỷ, Hải Hậu, Nghĩa Hưng.
2.3. Đánh giá thực trạng ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ
trong nông nghiệp ở tỉnh Nam Định thời gian qua
2.3.1. Những thành tựu cơ bản
Thứ nhất, số lượng máy móc trang bị cho sản xuất nông nghiệp của
Nam Định ngày càng tăng.
Thứ hai, những thành tựu của cuộc cách mạng sinh học được ứng dụng
ngày càng rộng khắp, trong đó, phong trào sản xuất và ứng dụng lúa lai là
bước tiến lớn nhất, được đánh giá là sớm và mạnh nhất các tỉnh phía Bắc.
Thứ ba, việc ứng dụng rộng rãi những thành tựu KHKT&CN đã cho
phép Nam Định thực hiện thâm canh, tăng vụ, tăng giá trị thu nhập trên
một đơn vị diện tích canh tác.
Thứ tư, việc ứng dụng các thành tựu KHKT&CN đã đem lại cho người
nông dân những kiến thức về kinh doanh, về kinh tế thị trường cần thiết,
nhờ đó đem lại hiệu quả cao trên diện tích canh tác của mình.
2.3.2. Những tồn tại chủ yếu
Một là, Chính quyền các cấp còn "thả nổi" việc mua sắm và sửa chữa
tàu thuyền từ 65.000 đến 75.000CV, trong đó có 85 - 95 chiếc tàu công
suất 300 - 500CV/chiếc
- Tỷ lệ kênh mương được kiên cố hoá: 11,2%
- Tỷ lệ cơ giới hoá: làm đất: 95%; tưới tiêu chủ động: 90% diện tích;
vận chuyển: 85% sản lượng
3.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả ứng dụng khoa học kỹ
thuật và công nghệ trong nông nghiệp ở Nam Định
3.2.1. Tổ chức lại hoạt động nghiên cứu và ứng dụng khoa học kỹ
thuật và công nghệ vào sản xuất nông nghiệp
3.2.2. Nâng cao năng lực tiếp thu, ứng dụng khoa học kỹ thuật và
công nghệ của nông dân
20
3.2.3. Thành lập nhiều hợp tác xã, tổ dịch vụ khoa học kỹ thuật
3.2.4. Đẩy mạnh việc ứng dụng khoa học công nghệ trong những
khâu trọng yếu nhất của quá trình sản xuất nông nghiệp
3.2.5. Sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật hợp lý
3.2.6. Nhà nước cần có sự hỗ trợ mạnh mẽ hơn cho hoạt động
nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ trong lĩnh vực nông
nghiệp
21
KẾT LUẬN
Ứng dụng KHCN vào sản xuất nông nghiệp là một nội dung và là nội
dung cơ bản của quá trình CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn. Mức độ
thành công của CNH - HĐH nông nghiệp của cả nước nói chung, của từng
Đất đai màu mỡ có khả năng sản xuất các sản phẩm về lương thực, rau
màu chất lượng cao phục vụ xuất khẩu.
Tuy nhiên, quá trình ứng dụng KHKT&CN ở tỉnh Nam Định hiện vẫn
còn nhiều khó khăn, tồn tại đòi hỏi phải được giải quyết. Trong đó, nổi lên
là:
- Chính quyền các cấp còn "thả nổi" việc mua sắm và sửa chữa trang
thiết bị, máy móc cho nông dân, do đó hiệu quả sử dụng máy móc chưa
cao.
- Việc sử dụng các loại giống mới trong nông dân còn thiếu một sự tổ
chức và kiểm soát chặt chẽ, làm giảm hiệu quả sản xuất nông nghiệp.
- Phương thức thâm canh tăng vụ chưa được thực hiện đồng đều giữa
các huyện, xã.
- Trình độ cơ giới hoá trong khâu thu hoạch và sau thu hoạch còn thấp,
do đó tỷ lệ tổn thất sản phẩm lớn
- Việc ứng dụng KHKT&CN trong khâu thuỷ lợi còn yếu. Cho đến
nay nhiều công trình kênh, mương đã bị bồi lắng, có chỗ vi phạm, lấn
chiếm, làm hạn chế rất lớn đến khả năng tưới tiêu.
Chính vì vậy, việc đẩy mạnh ứng dụng, chuyển giao khoa học công
nghệ phục vụ nông nghiệp, nông dân, nông thôn của tỉnh Nam Định càng
trở thành nhiệm vụ cấp thiết trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế, nhằm
góp phần tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nông nghiệp, nông dân, nông
thôn của tỉnh phát triển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây
dựng nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá với quy mô lớn, phát triển toàn
diện, bền vững, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh
cao.
Để có được một nền nông nghiệp như vậy, trong thời gian tới Nam
Định phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó chú trọng các giải
pháp: Tổ chức lại hoạt động nghiên cứu và ứng dụng KHKT&CN vào sản
xuất nông nghiệp; nâng cao năng lực tiếp thu, ứng dụng KHKT&CN của