1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết nghiên cứu đề tài
Trong công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành
theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa
ở nước ta hiện nay, lý luận nhận thức, bài học tôn trọng khách quan và đổi mới tư duy,
vấn đề cải tạo thực tiễn nền kinh tế luôn thu hút sự quan tâm của nhiều đối tượng.
Triết học là một khoa học đã có từ lâu đời. Ở mỗi thời kỳ, triết học được phát
triển qua nhiều trường phái khác nhau với nhiều quan điểm khác nhau tại một số quốc
gia, vùng lãnh thổ trên thế giới. Triết học đóng góp to lớn trong quá trình phát triển tri
thức nhân loại. Ngày nay, triết học là một bộ phận không thể tách rời với sự phát triển
của bất cứ hình thái kinh tế nào. Những vấn đề triết học về lý luận nhận thức và thực
tiễn, bài học tôn trọng khách quan và đổi mới tư duy… luôn là cơ sở, là phương hướng
cho xây dựng và phát triển xã hội, kinh tế, là tôn chỉ cho hoạt động kinh doanh của tổ
chức, doanh nghiệp. Nếu xuất phát từ một lập trường triết học đúng đắn, doanh nghiệp
có thể có được những cách giải quyết phù hợp với các vấn đề do thị trường đặt ra.
Việc quán triệt nguyên tắc tôn trọng hiện thực khách quan giúp chúng ta thấy
được rằng phải quan sát sự vật và hiện tượng trong thực tế hoặc phải tiến hành các thí
nghiệm khoa học để có được những tư liệu cần thiết nhằm rút ra tri thức khoa học
đúng đắn. Đặc biệt trong lĩnh vực kinh doanh, việc tôn trọng thực tiễn khách quan là
một nguyên tắc sống còn trong môi trường cạnh tranh khốc liệt như ngày nay. Một
doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển lớn mạnh cần phải nhận định được vị thế hiện
tại của mình, thực tiễn hoạt động kinh doanh, điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp
và tương quan cạnh tranh của nó với các đối thủ trên thị trường.
Bên cạnh đó, muốn phát triển doanh nghiệp thì không thể không đổi mới tư duy
và phải đổi mới tư duy làm sao để áp dụng vào doanh nghiệp đạt hiệu quả cao. Giải
quyết được vấn đề giữa lý luận và thực tiễn, giữa sáng tạo và hiện thực sẽ là cơ sở để
nghiên cứu về mối liên hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới tư duy. Một khi doanh
nghiệp có thể thấy rõ, hiểu rõ vấn đề này thì không những doanh nghiệp sẽ có một cái
nhìn tổng quát về việc phát triển doanh nghiệp, mà còn có thể kết hợp giữa đổi mới tư
đưa ra một số đề xuất, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của Công ty
Cổ phần du lịch và Thương mại quốc tế Vinatour.
3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA BÀI HỌC TÔN TRỌNG KHÁCH
QUAN VÀ ĐỔI MỚI TƯ DUY (7-8 trang)
1.1. Vật chất
1.1.1. Phạm trù vật chất
Vật chất là phạm trù triết học phức tạp và có nhiều quan niệm khác nhau về nó.
V.I.Lênin đã khẳng định bản chất vật chất của thế giới và đưa ra định nghĩa kinh điển
về vật chất như sau: "Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách
quan đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại,
chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác".
Theo định nghĩa của Lênin về vật chất :
Thứ nhất, cần phân biệt khái niệm vật chất với tư cách là phạm trù triết học (tức
phạm trù khái quát thuộc tính cơ bản nhất, phổ biến nhất của mọi tồn tại vật chất và
được xác định từ góc độ giải quyết vấn đề cơ bản của triết học) với khái niệm vật chất
được sử dụng trong các khoa học chuyên ngành (tức khái niệm dùng để chỉ những
dạng vật chất cụ thể, cảm tính; những biểu hiện cụ thể của thế giới vật chất tự nhiên
hay xã hội).
Thứ hai, thuộc tính cơ bản nhất của mọi tồn tại vật chất được khái quát trong
phạm trù vật chất của chủ nghĩa duy vật biện chứng là thuộc tính tồn tại khách quan,
tức là tồn tại độc lập, không phụ thuộc vào ý thức con người.
Thứ ba, vật chất là cái có thể gây nên cảm giác ở con người khi nó trực tiếp hay
gián tiếp tác động đến giác quan của con người; ý thức của con người là sự phản ánh
đối với vật chất, còn vật chất là cái được ý thức phản ánh.
1.1.2. Phương thức và hình thức tồn tại của vật chất
a. Vận động là phương thức tồn tại của vật chất
Ngoài ra, không gian có thuộc tính ba chiều (chiều cao, chiều rộng, chiều dài
còn thời gian chỉ có một chiều (từ quá khứ đến tương lai). Tính ba chiều của không
gian và tính một chiều của thời gian biểu hiện hình thức tồn tại về quảg tính và quá
trình diễn biến của vật chất vận động.
1.1.3. Tính thống nhất vật chất của thế giới
Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: Bản chất thế giới là vật chất, thế giới
thống nhất ở tính vật chất của nó. Theo quan điểm đó:
Một là, chỉ có một thế giới duy nhất là thế giới vật chất, thế giới vật chất là cái
có trước, tồn tại khách quan, độc lập với ý thức con người.
Hai là, thế giới vật chất tồn tại vĩnh viễn, vô tận, vô hạn, không được sinh ra và
không bị mất đi.
Ba là, mọi tồn tại của thế giới vật chất đều có mối liên hệ khách quan, thống
nhất với nhau, biểu hiện ở chỗ chúng đều là những dạng cụ thể của vật chất, là những
kết cấu vật chất, có nguồn gốc vật chât, do vật chất sinh ra và cũng chịu sự chi phối
của những quy luật khách quan phổ biến của thế giới vật chất.
5
Bản chất vật chất và tính thống nhất vật chất của thế giới là kết luận được rút ra
từ sự khái quát những thành tựu của khoa học, được khoa học và cuộc sống hiện thực
của con người kiểm nghiệm. Nó không chỉ định hướng cho con người giải thích về
tính đa dạng của thế giới mà còn định hướng cho con người tiếp tục nhận thức về tính
đa dạng ấy để thực hiện quá tình cải tạo hợp quy luật.
1.2. Ý thức
1.2.1. Nguồn gốc của ý thức
Theo quan điểm duy vât biện chứng, ý thức có nguồn gốc tự nhiên và nguồn
gốc xã hội.
* Nguồn gốc tự nhiên của ý thức: Nguồn gốc tự nhiên của ý thức là bộ óc con
người và hoạt động của nó cùng mối quan hệ giữa con người với thế giới khách quan,
thức. Không có ngôn ngữ, ý thức không thể tồn tại và thể hiện. Nhờ ngôn ngữ con
người đã không chỉ giao tiếp, trao đổi mà còn khái quát, tổng kết, truyền đạt kinh
nghiệm, tư tưởng từ thế hệ này qua thế hệ khác, thông qua đó mà ý thức cá nhân trở
thành ý thức xã hội, và ngược lại.
1.2.2. Bản chất và kết cấu của ý thức
a. Bản chất của ý thức
Ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo thế giới khách quan của bộ óc con
người; là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.
Tính chất năng động, sáng tạo của sự phản ánh ý thức được thể hiện ở khả năng
hoạt động tâm sinh lý của con người trong việc định hướng tiếp nhận thông tin, xử lý,
lưu giữ và tạo ra những thông tin mới, phát hiện ý nghĩa của thông tin được tiếp nhận.
Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan nghĩa là ý thức là hình ảnh
chủ quan về thế giới khách quan, hình ảnh ấy bị thế giới khách quan quy định cả về
nội dung và hình thức biểu hiện nhưng đã cải biến thông qua lăng kính chủ quan của
con người.
Ý thức là một hiện tượng xã hội và mang bản chất xã hội. Sự ra đời và tồn tại
của ý thức gắn liền với hoạt động thực tiễn, chịu sự chi phối của các quy luật tự nhiên
và xã hội, được quy định bởi nhu cầu giao tiếp xã hội và các điều kiện sinh hoạt hiện
thực của đời sống xã hội.
b. Kết cấu của ý thức
Ý thức có kết cấu cực ký phức tạp. Có nhiều ngành khoa học, nhiều cách tiếp
cận, nghiên cứu về kết cấu của ý thức.
Theo cách tiếp cận các yếu tố cơ bản hợp nhất thành, ý thức bao gồm ba yếu tố
cơ bản là tri thức, tình cảm và ý thức, trong đó, tri thức là nhân tố quan trọng nhất.
Tri thức là toàn bộ những hiểu biết của con người, là kết quả của quá trình nhận
thức, là sự tái tạo lại hình ảnh của đối tượng được nhận thức dưới dạng các loại ngôn
ngữ. Tri thức là phương thức tồn tại của ý thức và là điều kiện để ý thức phát triển.
Căn cứ vào lĩnh vực nhận thức có thể chia thành nhiều loại tri thức về tự nhiên, về con
người và xã hội. Căn cứ vào trình độ phát triển của nhận thức, tri thức có thể chia
là những dạng tồn tại của vật chất (bộ óc người, hiện tượng phản ánh, lao động, ngôn
ngữ) đã khẳng định vật chất là nguồn gốc của ý thức.
Ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất, là hình ảnh chủ quan về thế giới vật
chất nên nội dung của cý thức được quyết định bởi vật chất. Sự vận động và phát triển
của ý thức, hình thức biểu hiện của ý thức bị quy luật sinh học, các quy luật xã hội và
sự tác động của môi trường sống quyết đinh. Những yếu tố này thuộc lĩnh vực vật chất
nên vật chất không chỉ quyết định nôi dung mà còn quyết định cả hình thức biểu hiện
cũng như mọi sự biến đổi của ý thức.
8
1.3.2. Vai trò của ý thức đối với vật chất
Trong mối quan hệ với vật chất, ý thức có thể tác động trở lại vật chất thông
qua hoạt động thực tiễn của con người.
Vì ý thức là ý thức của con người nên nói đến vai trò của ý thức là nói đến vai
trò của con người. Bản thân ý thức tự nó không trực tiếp thay đổi được gì trong hiện
thực. Muốn thay đổi hiện thực, con người phải tiến hành những hoạt động vật chất.
Song, mọi hoạt động của con người đều do ý thức chỉ đạo, nên vai trò của ý thức
không phải trực tiếp tạo ra hay thay đổi thế giới vật chất mà nó trang bị cho con người
tri thức về thực tại khách quan, trên cơ sở ấy con người xác định mục tiêu, đề ra
phương hướng, xây dựng kế hoạch, lựa chọn phương pháp, biện pháp, công cụ,
phương tiện… để thực hiện mục tiêu của mình. Ở đây, ý thức đã thể hiện sự tác động
của mình đối với vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người.
Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất diễn ra theo hai hướng: tích cực
hoặc tiêu cực. Nếu con người nhận thức đúng, có tri thức khoa học, có tình cảm cách
mạng, có nghị lực, có ý chí thì hành động của con người phù hợp với các quy luật
khách quan, con người có năng lực vượt qua những thách thức trong quá trình thực
hiện mục đích của mình, thế giới được cải tạo – đó là sự tác động tích cực của ý thức;
còn nếu ý thức của con người phản ánh không đúng hiện thực khách quan, bản chất
Tôn trọng khách quan là tôn trọng tính khách quan của vật chất, của các quy
luật tự nhiên và xã hội, có thái độ tôn trọng đối với hiện thực khách quan mà căn bản
là tôn trọng quy luật, nhận thức và hành động theo quy luật; tôn trọng vai trò quyết
định của đời sống vật chất đối với đời sống tinh thần của con người, của xã hội. Điều
này đòi hỏi trong nhận thức và hành động con người phải xuất phát từ thực tế khách
quan để xác định mục đích, đề ra đường lối, chủ trương, chính sách, kế hoạch, biện
pháp; phải lấy thực tế khách quan lam cơ sở, phương tiện; phải tìm ra những nhân tố
vật chất, tổ chức những nhân tố ấy thành lực lượng vật chất để hành động. V.I. Lênin
đã nhiều lần nhấn mạnh không được lấy ý muốn chủ quan của mình làm chính sách,
không được lấy tình cảm làm điểm xuất phát cho chiến lược và sách lược cách mạng.
Nếu chỉ xuất phát từ ý muốn chủ quan, nếu lấy ý chí áp đặt cho thực tế, lấy ảo tưởng
thay cho hiện thực thì sẽ mắc phải bệnh chủ quan duy ý chí.
Có thể nói, tôn trọng thế giới khách quan trong hoạt động thực tiễn là đặc trưng
cơ bản của duy vật biện chứng và phân tích sự tồn tại thế giới theo các phạm trù, quy
luật là đặc trưng của phép biện chứng duy vật, và là phương pháp căn bản để chúng ta
xem xét triết học nói chung và bản thân triết học duy vật nói riêng. Chúng ta không chỉ
dùng triết học Mác – Lê nin để soi triết học khác, mà phải dùng triết học Mác – Lê nin
để soi chính triết học Mác – Lê nin để đưa triết học lên đến đỉnh cao khách quan. Có
như vậy chúng ta mới loại trừ được sự “năng động chủ quan” một cách quá khích, lấn
át cả thực tế khách quan. Đem cái chủ quan phủ nhận cái khách quan thì thật là sai
lầm. Chúng ta đón nhận những thành tựu của Mác và Ăngghen trong triết học duy vật
biện chứng như kim chỉ nam chứ không phải như tấm bản đồ hay cuốn Kinh thánh.
Chính cái la bàn đó sẽ chỉ cho chúng ta hướng nào trên chiếc bản đồ thực tiễn của thế
10
giới khách quan. V.I.Lênin cũng từng đón nhận công trình vĩ đại của Mác và Ăngghen
như chiếc la bàn, từ đó phát triển lên thành triết học Mác – Lê nin. Bài học thực tiễn
của Lênin và Hồ Chí Minh chỉ cho chúng ta thấy, muốn thành công thì phải học thuộc
Email: [email protected]
Website: http://vinatour.com.vn/
Quá trình hình thành và phát triển: Ra đời và phát triển cùng với sự hình
thành và phát triển cùng với sự hình thành và phát triển của ngành du lịch Việt Nam
nên Công ty Cổ phần Du lịch và Thương mại quốc tế Vinatour là một trong số ít những
đơn vị chứng kiến những bước thăng trầm của ngành du lịch Việt Nam. VINATOUR là
Công ty Du lịch Quốc tế đầu tiên ở Việt Nam, đã có trên 55 năm kinh nghiệm trong
lĩnh vực lữ hành quốc tế và nội địa. Để có vị trí như ngày hôm nay, trong ngành du
lịch nói riêng và trong nền kinh tế Việt Nam nói chung, VINATOUR đã có một quá
trình lịch sử phát triển với nhiều sự thay đổi.Năm 1960, Công ty VINATOUR ra đời
với vai trò là một đơn vị chuyên trách nhiệm vụ lữ hành quốc tế của du lịch Việt Nam.
Năm 1982, Công ty trở thành ban điều hành việc đưa đón khách. Năm 1984, Công ty
trở thành trung tâm điều hành hướng dẫn du lịch. Đến năm 1990 do những thay đổi về
tổ chức của ngành nên Công ty bị rút chức năng lữ hành quốc tế và đến năm 1993
được trao lại chức năng này. Năm 2005, Công ty được cổ phần hóa và trở thành Công
ty Cổ phần Du lịch và Thương mại quốc tế Vinatour.
Căn cứ vào quyết định số 392/QĐ-TCDL ngày 6/5/2005 của Tổng cục Du lịch,
phê duyệt phương án cổ phần hóa và chuyển công ty điều hành hướng dẫn du lịch
thành Công ty Cổ phần Du lịch và Thương mại quốc tế Vinatour.
12
VINATOUR có quan hệ với nhiều hãng du lịch nước ngoài và hầu hết các công
ty du lịch trong nước, là thành viên của Hiệp hội du lịch Châu Á Thái Bình Dương
(Pata), Hiệp hội du lịch Mỹ (Asta), Hiệp hội du lịch Nhật Bản (Jata).
Ngành nghề kinh doanh: Lữ hành quốc tế và nội địa
Lĩnh vực kinh doanh: Công ty cung cấp các dịch vụ đa dạng bao gồm: Du lịch
thuần tuý với tất cả các chương trình du lịch trọn gói trong nước và quốc tế; du lịch
chuyên đề: tham quan du lịch kết hợp với tham dự hội thảo, hội chợ, khảo sát thị
ty Cổ phần Du lịch và Thương mại quốc tế Vinatour
Là một công ty lữ hành, sản xuất kinh các dịch vụ du lịch, vì vậy mọi hoạt động
của Công ty chịu ảnh hưởng của các yếu tố tác động đến ngành dịch vụ nói chung và
ngành du lịch nói riêng. Trước tiên, cần phải hiều: Kinh doanh lữ hành là việc thực
hiện các hoạt động nghiên cứu thị trường, thiết lập các chương trình du lịch trọn gói
hay từng phần, quảng cáo và bán các chương trình này trực tiếp hay gián tiếp qua các
trung gian hoặc văn phòng đại diện, tổ chức các chương trình và hướng dẫn du lịch.
Hoạt động kinh doanh lữ hành có các đặc điểm riêng về sản phẩm và sản xuất.
Thứ nhất, sản phẩm lữ hành có tính chất tổng hợp, là sự kết hợp của nhiều dịch
vụ riêng lẻ như dịch vụ vận chuyển, ăn uống, khách sạn...thành một sản phẩm mới
hoàn chỉnh (chương trình trọn gói). Sản phẩm du lịch không đồng nhất giữa các lần
cung ứng, nó phụ thuộc vào tâm lý, trạng thái tình cảm của cả người phục vụ lẫn người
cảm nhận. Đây là loại sản phẩm bao gồm các hoạt động diễn ra trong cả một quá trình
từ khi đón khách theo yêu cầu cho đến khi khách trở lại điểm xuất phát ban đầu.
Thứ hai, kinh doanh lữ hành mang tính thời vụ rõ nét. Ở các thời gian khác
nhay trong năm, nhu cầu của du khách cũng khác nhau. Vào mùa hè, nhu cầu du lịch
biển tăng cao, vào mùa đông thì ngược lại, và mùa xuân, nhu cầu du lịch lễ hội tăng
mạnh làm cho hoạt động kinh doanh du lịch có tính thời vụ. Vì vậy, trong kinh doanh
lữ hành đòi hỏi nhà quản trị phải nắm bắt được đặc tính này nhằm có những biện pháp
hạn chế tính thời vụ, duy trì nhịp độ phát triển đều đặn và nâng cao hiệu quả kinh
doanh lữ hành.
Thứ ba, quá trình sản xuất và tiêu dùng sản phẩm lữ hành diễn ra đồng thời
trong cùng một không gian và thời gian. Các công ty lữ hành chỉ tiến hành phục vụ
khách du lịch khi có sự hiện diện của khách, có thể xem khách du lịch là yếu tố đầu
vào trong kinh doanh lữ hành. Hơn nữa, các sản phẩm lữ hành không thể vận chuyển
đến tận nơi để phục vụ khách. Khách du lịch chỉ có thể thỏa mãn nhu cầu khi gặp gỡ
nhà cung ứng. Như vậy, khách hàng là bộ phận tham gia trực tiếp vào quá trình sản
xuất các sản phẩm lữ hành.
Ngoài những yếu tố trên, hoạt động kinh doanh lữ hành còn phụ thuộc vào
nhiều yếu tố như yếu tố tự nhiên, quỹ thời gian rảnh rỗi, trình độ dân trí và thu nhập
cầu thị hiếu của khách, để từ đó công ty có thể đề ra một chiến lược phát triển kinh
doanh phù hợp.
Vì vậy, nhằm hiểu rõ hơn chất lượng sản phẩm cũng như suy nghĩ, mong muốn
của khách, Công ty Vinatour đã tiến hành phương pháp điều tra, thăm dò ý kiến khách
du lịch. Mỗi khi thực hiện kết thúc một chương trình du lịch, Công ty đều phát cho
khách một bản trưng cầu ý kiến để lấy ý kiến đánh giá của khách.
Công ty cũng tiến hành nghiên cứu tâm lý khách phân theo các tiêu chí lứa tuổi,
nghề nghiệp, thu nhập… nhằm nắm bắt nhu cầu của từng đối tượng, sau đó xây dựng
các lịch trình phù hợp với mong muốn của du khách. Tuy việc nghiên cứu này chỉ thực
15
hiện trên số lượng nhóm khách nhỏ nhưng nó cũng giúp Công ty định hướng được các
chiến lược của mình phù hợp với đặc điểm của từng nhóm khách.
Đối với các nhà cung cấp các dịch vụ riêng lẻ, trước khi quyết định hợp tác và
ký hợp đồng, Công ty tìm hiểu kỹ số lượng và chất lượng sản phẩm, lựa chọn các đối
tác lớn, có uy tín trên thị trường và cam kết hợp tác lâu dài, đảm bảo mang lại cho
khách hàng của Công ty một dịch vụ hoặc chương trình du lịch trọn gói với chất lượng
tốt nhất. Nhờ vậy, nhiều khách hàng đã lựa chọn, tin tưởng vào dịch vụ và trở thành
khách hàng thường xuyên, mang lại nguồn doanh thu hàng năm cho Công ty.
b. Chính sách sản phẩm
Nhận thức được nhu cầu đa dạng của khách hàng, Công ty áp dụng chính sách
sản phẩm đa dạng, phù hợp với nhiều đối tượng. Bên cạnh các chương trình du lịch
trọn gói đã có các độ dài, tuyến điểm, các dịch vụ...cố định phù hợp với các đối tượng
khách có nhiều thời gian rảnh rỗi và có thể đi theo đoàn, Công ty còn đưa ra nhiều
chương trình khác nhau phù hợp với nhiều đối tượng với những khác biẹt về độ tuổi,
nghề nghiệp, mục đích du lịch, mức thanh toán.... Hơn nữa, để đảm bảo chất lượng sản
phẩm, Công ty cũng lựa chọn, tác động trực tiếp đến các cơ sở cung cấp dịch vụ riêng
lẻ, đảm bảo tốt chất lượng, các dịch vụ phù hợp với nhu cầu, sở thích của du khách.
của chương trình du lịch. Đối với đoàn khách, công ty tính giá dựa trên số lượng khách
tối thiểu. Cũng cùng một nhóm số lượng khách, công ty cũng có các mức giá khác
nhau với các loại dịch vụ tương ứng với các mức giá đó. Trong các chương trình du
lịch, Công ty thông báo kèm theo mức giá bao gồm những dịch vụ gì và chi tiết các
điểm tham quan theo lịch trình. Điều này vừa tránh được nhầm lẫn khi tính toán giá,
vừa tránh được những thắc mắc khi xảy ra của khách về các dịch vụ.
Như vậy, với chính sách giá này thì khách có rất nhiều cơ hội lựa chọn các
chương trình với mức giá phù hợp. Khách cũng có cảm giác thoải mái, công bằng khi
mua sản phẩm của công ty vì tất cả đều rõ ràng.
d. Chính sách phân phối sản phẩm
Công ty tìm mọi phương thức đưa sản phẩm và hình ảnh của công ty tới nhiều
đối tượng khách một cách thuận tiện nhất.
Kênh phân phối mà công ty áp dụng nhiều là kênh phân phối gián tiếp. Các
trung gian là các hãng lữ hành gửi khách ở nhiều nước. Công ty đã có mối quan hệ tốt
với những hãng lữ hành quốc tế ở rất nhiều quốc gia khác nhau như: Nga, Pháp Nhật
Bản, Trung Quốc... Thông qua các hàng lữ hành này, mỗi năm công ty đã thu hút được
một số lượng khách du lịch quốc tế khá đông đảo. Đối với những hãng lữ hành này
công ty có những chính sách linh hoạt. Với các hãng lữ hành có uy tín, thường xuyên
gửi khách đến công ty được phép thanh toán chậm hơn. Công ty cũng luôn quan tâm
đến chất lượng dịch vụ cung cấp, nhằm giữ uy tín cho các hãng và cho công ty. Những
điều này có thể đảm bảo cho công ty có mối quan hệ khăng khít với các hãng lữ hành.
Ngoài những hãng lữ hành gửi khách, công ty còn thiết lập những văn phòng đại diện
ở một số nước như tại Bangkok, Matxcova...
Nhằm đưa những sản phẩm có chất lượng tốt đến với khách. Công ty đã chú ý
đến việc thiết lập mối quan hệ tốt với các nhà cung cấp như: Khách sạn, nhà hàng, địa
điểm vui chơi giải trí, shopping... Đồng thời, công ty không ngừng duy trì những chính
17
hoạt động phân tán, hiệu quả công việc chưa cao. Hơn nữa, nguồn nhân lực chất lượng
chưa cao cũng như chưa phát huy được hết năng lực của mình… Trước tình hình trên,
Công ty đã đưa ra chủ trương, mục tiêu và biện pháp cụ thể, sáng tạo để phát triển
công ty trong thời gian tới, đó là:
18
a. Tập trung phát triển Công ty trở thành một thương hiệu mạnh có uy tín trong và
ngoài nước
Để thực hiện chiến lược này Công ty tiếp tục giữ vững mối quan hệ với các đối
tác truyền thống ở các thị trường mà Công ty hiện có, bằng cách tích cực xây dựng các
sản phẩm du lịch mới để giới thiệu tới các đối tác và khách hàng. Thường xuyên chia
sẻ chương trình giảm giá, khuyến mại tới đối tác gửi khách và khách hàng.....lựa chọn
và tham gia xúc tiến hội chợ du lịch trong nước, ngoài nước. Cụ thể, từ ngày 36/4/2015 vừa qua, Công ty đã tham gia hội chợ VITM (Hội chợ Du lịch Quốc tế tại
Việt Nam) được tổ chức thường niên tại Hà Nội.
Vinatour thực hiện đẩy mạnh, tăng cường công tác quảng bá thương hiệu và
quảng cáo hình ảnh Công ty trên các phương tiện thông tin và các kênh truyền thông
khác nhau; triển khai tổ chức việc bán hàng trực tuyến, có chính sách đặc biệt đối với
các khách hàng truyền thống, cũng như chính sách thu hút các khách hàng tiềm năng.
Tập trung điều hành hoạt động kinh doanh đảm bảo tính hiệu quả và hoàn
thành các kế hoạch đề ra. Phát huy thế mạnh, tiết kiệm chi phí quản lý tối đa, nâng cao
hiệu quả công tác quản lý. Nghiên cứu việc mở lại văn phòng chi nhánh của Vinatour
tại thành phố Hồ Chí Minh để phát triển thị trường và tăng cường hệ thống kết nối
dịch vụ cho du khách tại hai đầu Bắc - Nam. Cải tạo và sửa chữa lại khu văn phòng 54
Nguyễn Du để kết hợp kinh doanh dịch vụ khác nhằm tăng doanh thu.
b. Công ty lấy chất lượng và hiệu quả lợi nhuận làm thước đo kết quả điều hành và
lãnh đạo của Hội đồng quản trị và Ban lãnh đạo về hoạt động sản xuất kinh doanh
của Công ty và xây dựng doanh nghiệp.
Trong thời gian quan, Công ty gặp nhiều khó khăn thách thức lớn chưa từng có,
cao. Xây dựng bộ phận chăm sóc khách hàng và bộ phận nghiên cứu, xây dựng sản
phẩm để chăm sóc và đáp ứng các nhu cầu khác nhau của du khách. Cũng như tạo ra
những sản phẩm chuyên biệt của VINATOUR để hướng tới phục vụ những đối tượng
khách hàng theo ngạch của thị trường nhằm giảm thiểu việc cạnh tranh.
Nghiên cứu xây dựng và phát triển chương trình bán sản phẩm trên mạng, xây
dựng bán sản phẩm du lịch hàng ngày khởi hành định kỳ cho người Việt Nam đi du
lịch trong nước. Tổ chức khảo sát tại các tuyến điểm truyền thống để đảm bảo các dịch
vụ cung cấp tới khách hàng được thực hiện theo đúng như đã cam kết. Thường xuyên
bổ sung và thay đổi các dịch vụ bổ trợ theo sở thích của khách hàng để tạo sự ấn tượng
và tính thu hút cho sản phẩm của Công ty.
Nghiên cứu, phát triển và xây dựng sản phẩm để hỗ trợ tích cực hơn nữa cho
hoạt động kinh doanh, đầu tư xây dựng hệ thống tư vấn, bán hàng trực tuyến và thanh
toán trực tuyến để thu hút các nguồn khách khác nhau. Tập trung mạnh vào việc phát
triển thị trường Inbound và xem thị trường Inbound như xương sống của hoạt động
kinh doanh lữ hành của Công ty trong thời gian tới.
d. Đảm bảo việc làm và thu nhập cho người lao động, trên cơ sở tổ chức và sắp xếp
lao động
Xây dựng và phát triển văn hóa doanh nghiệp song song với thực hiện tốt các
chế độ đãi ngộ về vật chất và tinh thần thu hút lao động chất lượng cao cho Công ty.
Công ty ổn định nội bộ, kiện toàn lại bộ máy lãnh đạo cho phù hợp với tình hình thực
20
tại của Công ty. Đầu tư nhân sự cán bộ thị trường và cán bộ điều hành cho phòng thị
trường nước ngoài (Inbound), phòng thị trường Outbound và bộ phận tổ du lịch nội
địa, với mục tiêu mở rộng việc khai thác các thị trường khách khác nhau.
Công ty có kế hoạch đào tạo, đào tạo nâng cao cán bộ công nhân viên trong
Công ty để khai thác các thị trường mới khác nhau. Tạo điều kiện làm việc thuận lợi
và tốt nhất cho các cán bộ thị trường tập trung khai thác nguồn khách tại các thị trường
21
Tập trung phát triển nguồn nhân lực theo chiều sâu, có kế hoạch trong việc đào
tạo nhân lực và mang tính lâu dài để đáp ứng tốt nhất cho sự phát triển bền vững của
công ty. Xây dựng kế hoạch đào tạo và bồi dưỡng nâng cao đội ngũ cán bộ: bồi dưỡng,
đào tạo nâng cao để chuẩn bị nguồn nhân lực đủ mạnh phục vụ cho yêu cầu hoạt động
kinh doanh .
Năm 2015 xác định là năm có nhiều khó khăn, thách thức đối với hoạt động
kinh doanh của Công ty do các vấn đề khách quan và nội tại doanh nghiệp. Vì vậy,
việc có định hướng đúng đắn và kiên định về mục tiêu, nhiệm vụ, kết hợp với sự điều
hành kiên quyết, linh hoạt và đoàn kết, tập trung trí tuệ của tập thể lãnh đạo và tập thể
cán bộ công nhân viên là mấu chốt để giải quyết các khó khăn nói trên.
22
KẾT LUẬN
Bài học “tôn trọng khách quan và đổi mới tư duy” mang một ý nghĩa thực tiễn
to lớn không chỉ ở thời điểm nó ra đời mà còn có tác dụng ngay cả thời điểm hiện
nay và mai sau. Bài học này đã được vận dụng rất nhiều vào đời sống con người
trong các lĩnh vực khác nhau và có ý nghĩa thời sự nóng hổi trong quá trình đổi mới
đất nước. Hiện nay, trong tình hình đổi mới của cục diện thế giới và của cách mạng ở
nước ta đòi hỏi Đảng ta không ngừng phát huy sự hiệu quả lãnh đạo của mình thông
qua việc nhận thức đúng, tranh thủ được thời cơ do cách mạng khoa học công nghệ,
do xu thế hội nhập và toàn cầu hoá đem lại, đồng thời xác định rõ những thách thức
mà chúng ta sẽ trải qua. Chính vì vậy, đứng trước thực tế của quá trình phát triển,
một lần nữa lại càng khẳng định vai trò lý luận nhận thức của chúng ta, đặc biệt là
đối với các tổ chức doanh nghiệp – nhân tố tiên phong trong quá trình hội nhập.
Mọi chiến lược phát triển doanh nghiệp phải xuất phát từ thực tế khách quan,
nguyên tắc này đòi hỏi chúng ta khi nhận thức và hành động phải xuất phát từ ý