MỤC LỤC
PHẦN A: LỜI MỞ ĐẦU
PHẦN B: NỘI DUNG
I. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1. Khái niệm pháp chế
2. Khái niệm bảo đảm pháp chế
3. Khái niệm bảo đảm pháp chế trong quản lý hành chính nhà nước
II. PHÂN TÍCH VAI TRÒ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA CƠ QUAN
QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI VIỆC BẢO ĐẢM PHÁP CHẾ
TRONG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
1. Hoạt động giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước-một trong
những biện pháp pháp lý bảo đảm pháp chế trong quản lý hành
chính nhà nước có vai trò quan trọng
1.1.
1.2.
Hoạt động giám sát của Quốc hội
Hoạt động giám sát của hội đồng nhân dân
2. Tổng kết, đánh giá vai trò hoạt động giám sát của cơ quan quyền
lực nhà nước đối với việc đảm bảo pháp chế trong quản lý hành
chính nhà nước
2.1.
2.2.
Vai trò về phương diện ban hành văn bản pháp luật
Vai trò về phương diện tổ chức thực hiện pháp luật
PHẦN C: LỜI KẾT
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
trọng và thực hiện pháp luật hiện hành trong thực tế của các chủ thể trong
xã hội mà nền pháp chế có các trình độ khác nhau. Nếu pháp luật còn bị
vi phạm nhiều thì có nghĩa là nền pháp chế có trình độ thấp, còn nếu đa
số các chủ thể trong xã hội đều tự giác tôn trọng và thực hiện pháp luật
trong xử sự của mình thì pháp luật ít bị vi phạm và pháp chế có trình độ
cao.
2
Pháp chế là một phạm trù rộng lớn không chỉ chứa đựng nội dung
pháp luật mà còn chứa đựng những nội dung chính trị, xã hội và con
người.
Với cách hiểu này, khái niệm pháp chế được thể hiện ở những nội
dung sau:
- Pháp chế là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan
trong bộ máy nhà nước
- Pháp chế là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các tổ chức phi
nhà nước
- Pháp chế là nguyên tắc xử sự của cá nhân
2. Khái niệm bảo đảm pháp chế
Bảo đảm pháp chế là tổng thể các biện pháp, phương tiện tổ chức quản lý do các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và công dân áp dụng
nhằm thực hiện chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ của các cơ quan nhà
nước và các tổ chức ấy cũng như việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của
công dân. (Ths. Lê Quang Thành: Luật hành chính. Nxb, Lao động, Hà
Nội, 2011, tr 355).
Từ khái niệm trên, bảo đảm pháp chế cũng được hiểu như là những
điều kiện, những phương tiện và những khả năng thực hiện trên thực tế
đối với pháp luật hiện hành nhằm xây dựng và củng cố chính quyền của
dân, do dân, vì dân, bảo vệ các quyền và nghĩa vụ của công dân trên tất
hoạt động có mục đích của một hay nhiều chủ thể nhất định – là một nội
dung của chủ thể quản lý nhà nước và cũng là một hình thức kiềm chế,
đối trọng trong việc thực thi quyền lực nhà nước hiện nay. Thực hiện tốt
công tác giám sát là đòi hỏi cấp thiết của nhà nước pháp quyền ở nước ta.
Ở nước ta, khái niệm giám sát được dùng chỉ quyền của nhân dân lao
động thông qua hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước. Điều 2 Luật
hoạt động giám sát của Quốc hội đã quy định: “Giám sát là việc Quốc
hội, Ủy ban thường vụ Quộc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc
hội, đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội theo dõi, xem xét, đánh
giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc
thi hành hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết
của Ủy ban thường vụ Quốc hội.” Các cơ quan quyền lực nhà nước là
những cơ quan có vị trí đặc biệt trong bộ máy nhà nước. Vị trí pháp lý
cũng như chức năng nhiệm vụ và quyền hạn của nó do Hiến pháp quy
định. Đó là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân
dân lao động. Chính vì vậy hoạt động của những cơ quan này tác động
tích cực và chi phối rất lớn hoạt động của các cơ quan nhà nước khác –
trong đó có cơ quan hành chính nhà nước.
1.1 Hoạt động giám sát của Quốc hội
Hoạt động giám sát của Quốc hội vừa là chức năng vừa là nhiệm vụ
và quyền hạn của Quốc hội. quyền đó đã được khẳng định cụ thể tại
Khoản 2 Điều 84 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) và
Khoản 2 Điều 2 Luật tổ chức Quốc hội năm 2001:” Quốc hội… thực hiện
quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước”. Quy
định này vừa khẳng định Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân
4
dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, vừa khẳng định nguyên tắc quyền lực Nhà nước thống
Chính phủ và các bộ về hoạt động của mình, thông qua việc chất vấn của
các đại biểu Quốc hội đối với Thủ tướng Chính phủ, các bộ trưởng và các
thành viên khác của Chính phủ; nghe báo cáo, đồng thời chất vấn với
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân
5
tối cao về các vấn đề liên quan (Điều 7 Luật hoạt động giám sát của Quốc
hội).
Ngoài ra, hoạt động giám sát của Quốc hội còn được thực hiện thông
qua hoạt động của các tổ đại biểu và các đại biểu Quốc hội ở các địa
phương và cơ sở, đặc biệt thông qua việc tiếp xúc của họ với các cử tri,
nghe đề nghị cũng như các yêu cầu và khiếu nại của cử tri về việc thực
hiện nhiệm vụ của cơ quan hành chính Nhà nước và các cán bộ có thẩm ở
những cơ quan đó.
Trong việc thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của các cơ
quan Nhà nước, Quốc hội tập trung thực hiện quyền này trước hết đối với
hoạt động của cơ quan hành chính Nhà nước. Quốc hội thực hiện quyền
giám sát đối với các hoạt động của cơ quan hành chính Nhà nước tức là
thực hiện quyền lực Nhà nước về mặt tổ chức đối với bộ máy hành chính
Nhà nước. chỉ có Quốc hội mới có quyền bãi bỏ các văn bản của Chính
phủ, Thủ tướng Chính phủ trái với Hiến pháp, luật và nghị quyết của
Quốc hội.(Khoản 9 Điều 84 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm
2001), Khoản 9 Điều 2 Luật tổ chức Quốc hội năm 2001)).
1.2 Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân
Hội đồng nhân dân các cấp là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa
phương thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của Ủy ban nhân
dân, các cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân cũng như các đơn vị
trực thuộc. Hoạt động giám sát của hội đồng nhân dân địa phương là
chức năng chủ yếu của cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương được
nhanh chong, đúng pháp luật là nghĩa vụ của toàn thể đại biểu hội đồng
nhân dân chứ không phải của riêng bộ phận nào. Làm tốt nhiệm vụ này là
một biểu hiện thiết thực nhất của việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ
nghĩa của dân, do dân, vì dân. Hoạt động này cũng chính là dịp và điều
kiện để hội đồng nhân dân hoàn thành nhiệm vụ của người đại biểu của
dân mà cử tri và nhân dân địa phương đã tín nhiệm giao cho họ.
Tóm lại, hoạt động giám sát của hội đồng nhân dân góp phần tích cực
vào việc phát hiện những sai trái của cơ quan, tổ chức cơ sở trong việc
chấp hành pháp luật, trên cơ sở đó kiến nghị cấp có thẩm quyền giải
quyết, xử lý kịp thời những sai phạm đó; đôn đốc các cơ quan, tổ chức
hữu quan thực hiện nghị quyết của hội đồng nhân dân và của cấp trên
cũng như giải quyết các vấn đề bức xúc ở địa phương, bảo đảm thi hành
có hiệu quả các quy định của pháp luật và nghị quyết của hội đồng nhân
dân địa phương. Điều đó có ý nghĩa vô cùng quan trọng đố với việc bảo
đảm pháp chế trong quản lý hành chính Nhà nước.
2. Tổng kết, đánh giá vai trò hoạt động giám sát của cơ quan
quyền lực nhà nước đối với việc đảm bảo pháp chế trong quản lý
hành chính nhà nước
Cơ quan quyền lực Nhà nước giám sát hoạt động của các cơ quan
hành chính Nhà nước cùng cấp. Thông qua hoạt động giám sát, Quốc hội
và hội đồng nhân dân các cấp thực hiện quyền lực Nhà nước một cách
thường xuyên và trực tiếp chỉ đạo cũng như kiểm tra mọi mặt công tác
của các cơ quan hành chính Nhà nước cùng cấp. Cũng thông qua hoạt
động giám sát, các cơ quan quyền lực Nhà nước có thể phát hiện những
7
yếu kém, những khuyết điểm trong công tác và hoạt động cũng như
những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện pháp luật và thực
hiện nhiệm vụ mà pháp luật đã quy định đối với các cơ quan hành chính
- Các văn bản pháp luật trong quản lý hành chính Nhà nước có tinh
thần và nội dung hợp pháp và thống nhất hay không?
- Các văn bản pháp luật trong quản lý hành chính Nhà nước có được
ban hành đúng tên gọi và hình thức do pháp luật quy định hay không?
8
- Cuối cùng là các văn bản pháp luật trong quản lý hành chính Nhà
nước có được ban hành theo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định
hay không?
Nếu kết quả kiểm tra, giám sát của cơ quan quyền lực Nhà nước đối
với việc ban hành văn bản pháp luật của cơ quan hành chính Nhà nước
phát hiện có những vi phạm thuộc một trong bốn nội dung trên mà gây
ảnh hưởng hoặc đe dọa gây ảnh hưởng đối với việc tổ chức thực hiện
pháp luật trong thực tiễn, trái với ý chí và nguyện vọng của nhân dân thì
sẽ bị cơ quan quyền lực Nhà nước đình chỉ, bãi bỏ hoặc hủy bỏ các văn
bản có dấu hiệu vi phạm, có biện pháp xử lý thích đáng đối với cơ quan,
người có thẩm quyền vi phạm để bảo đảm tính pháp chế trong quản lý
hành chính Nhà nước.
2.2 Vai trò về phương diện tổ chức thực hiện pháp luật
Tổ chức thực hiện pháp luật trong quản lý hành chính Nhà nước thực
chất là hoạt động tổ chức thực hiện nội dung các văn bản pháp luật do
các chủ thể quản lý hành chính Nhà nước ban hành cũng như thực hiện
các hành vi quản lý hành chính Nhà nước khác thông qua những hình
thức và phương pháp nhất định. Thông qua hàng loạt các công việc cụ
thể, hoạt động này bảo đảm cho pháp luật trở thành hiện thực trong thực
tiễn quản lý hành chính Nhà nước, làm sao cho quảm lý hành chính Nhà
nước thực sự phát huy được hiệu lực. Cũng như trong lĩnh vực ban hành
văn bản pháp luật thì vai trò hoạt động giám sát của cơ quan quyền lực
lý hành chính Nhà nước.
PHẦN C: LỜI KẾT
Để xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam của dân, do dân, vì dân thì việc làm tiên quyết và xuyên suốt quá
trình đó là phải bảo đảm pháp chế trong tổ chức và hoạt động của bộ máy
Nhà nước nói chung và trong lĩnh vực quản lý hành chính nói riêng. Việc
làm khó khăn và phức tạp đó là nhiệm vụ chung của tất cả các cấp, các
ngành và của mỗi cá nhân công dân; phải có sự phối kết hợp của nhiều
biện pháp khác nhau và một trong các biện pháp được đánh gia cao, đã
được kiểm nghiệm hiệu quả trong thực tế và theo đánh giá thì khả năng
đạt hiệu quả cao hơn là vô cùng lớn – đó là hoạt động giám sát của cơ
quan quyền lực Nhà nước. Với vai trò to lớn của biện pháp này trong việc
giám sát hoạt động ban hành văn bản pháp luật và tổ chức thực hiện pháp
luật trong quản lý hành chính Nhà nước thì nó đã được quy phạm pháp
luật hóa trở thành một biện pháp pháp lý. Mặc dù trong quản lý hành
chính Nhà nước vẫn còn rất nhiều bất cập xoay quanh sự lạm quyền,
quan liêu, ý thức pháp luật và trình độ văn hóa thấp – pháp chế ở trình độ
thấp một phần do hoạt động giám sát của cơ quan quyền lực Nhà nước
còn hình thức, chưa phát huy được hiệu quả. Tuy nhiên, đâu vẫn là biện
pháp rất có triển vọng là ngọn cờ đầu trong việc xóa bỏ tiêu cực, bảo đảm
pháp chế trong quản lý hành chính Nhà nước bởi lẽ các cơ quan quyền
lực Nhà nước là đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, là
những người con ưu tú nhất của nhân dân gửi gắm vào trong Nhà nước.
10
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trường Đại học Luật Hà Nội: Giáo trình luật hành chính Việt Nam.
Nxb, Công an nhân dân, Hà Nội, 2010.