Hoàng Thúy Hòa_362218
LỜI NÓI ĐẦU:
Tình trạng “nam nữ chung sống như vợ chồng” không đăng ký kết hôn là một
hiện tượng đã và đang tồn tại trong xã hội ta như một hiện tượng khách quan và có xu
hướng ngày càng phổ biến. Theo quy định của pháp luật, nam nữ chung sống như vợ
chồng mà không đăng ký kết hôn thì không được công nhận là vợ chồng. Trên thực tế,
việc “kết hôn” không đăng ký sẽ làm nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp như sau một thời
gian chung sống, các bên có con chung, tài sản chung thì giữa họ nảy sinh mâu thuẫn
và yêu cầu ly hôn; lại có trường hợp sau khi chung sống, một trong hai bên lại đăng ký
kết hôn với người khác. Để tìm hiểu về vấn đề này, em xin chọn đề tài: “Tình trạng
nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn ngày càng phổ biến.Hãy
nêu quan điểm cá nhân về hiện tượng này” cho bài tập học kì.
NỘI DUNG:
I. Khái quát chung về tình nam nữ chung sống như vợ chồng.
1. Khái niệm
Kết hôn: là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp
luật về điều kiện kết hôn và đăng kí kết hôn.
Điều kiện kết hôn được quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.
“ Nam nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:
1.
Nam từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên;
2. Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định, không được bên nào ép buộc,
3.
lừa dối bên nào; không ai được cưỡng ép hoặc cả trở;
Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn quy định tại Điều
10 của luật này.”
Đăng kí kết hôn: quy đinh tại điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.
nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn.
2
Hoàng Thúy Hòa_362218
Thứ hai: trong thời gian chung sống như vợ chồng, hai người thực sự coi nhau là
vợ chồng. Đây là điểm có thể giúp ta phân biệt với trường hợp nam nữ sống chung tạm
bợ. Việc đánh giá việc hai người có coi nhau là vợ chồng thực sự là vấn đề phức tạp.
Bởi lẽ đây thuộc về ý thức chủ quan của con người, tùy thuộc vào từng hoàn cảnh và
thời điểm khác nhau.
Thứ ba: khi bắt đầu chung sống, hai người muốn chung sống lâu dài và ổn định.
Đây là đặc điểm để phân biệt với khái niệm “hôn nhân thử nghiệm”. Đối với “hôn
nhân thử nghiệm”, trước khi chung sống, các bên thỏa thuận sẽ “thử” chung sống với
nhau như vợ chồng, “thử” thực hiện các quyền và nghĩa vụ cơ bản của vợ chồng. Nếu
sau một thời gian chung sống, các bên thấy phù hợp thì sẽ lúc này sẽ tiến hành đăng ký
kết hôn, còn trường hợp không thấy phù hợp với nhau nữa thì các bên sẽ “đường ai nấy
đi”. Còn trong trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng, hai bên mong muốn xây
dựng một gia đình hạnh phúc nên từ khi bắt đầu chung sống, họ đã có ý định gắn bó
lâu dài với nhau.
2. Các quy định của pháp luật hiện hành về vấn đề nam nữ sống chung như vợ
chồng.
Khoản 1 Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 có quy định: “Việc kết
hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền (sau đây gọi là cơ quan
đăng ký kết hôn) thực hiện theo nghi thức quy định tại Điều 14 của Luật này. Mọi nghi
thức kết hôn không theo quy định tại Điều 14 của Luật này đều không có giá trị pháp
lý. Nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng thì không
được pháp luật công nhận là vợ chồng. Vợ chồng đã ly hôn muốn kết hôn lại với nhau
cũng phải đăng ký kết hôn”. Tuy nhiên, cũng phải nhận thấy rằng có những trường hợp
quan hệ hôn nhân được xác lập từ trước ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 có
01/01/1987 đến ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 có hiệu lực mà không đăng
ký kết hôn thì quan hệ hôn nhân của họ không có giá trị pháp lý. Nếu có yêu cầu giải
quyết vấn đề ly hôn tòa án sẽ áp dụng các quy định của pháp luật hiện hành và giải
4
Hoàng Thúy Hòa_362218
quyết. Cụ thể: theo quy định của khoản c mục 3 Nghị quyết 35 của Quốc hội, nếu trong
trường hợp các bên xảy ra mâu thuẫn, “có yêu cầu ly hôn thì tòa án thị lý và tuyên bố
không công nhận quan hệ vợ chồng; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì Tòa án áp
dụng khoản 2 và khoản 3 Điều 17 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải
quyết”. Như vậy, về vấn đề tài sản và con cái thì giải quyết:
Về chia tài sản: Nếu các bên yêu cầu chia tài sản, Tòa án áp dụng khoản 3 Điều
17 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết: “Tài sản được giải quyết theo
nguyên tắc tài sản riêng của ai thì vẫn thuộc quyền sở hữu của người đó; tài sản
chung được chia theo thoả thuận của các bên; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu
Toà án giải quyết, có tính đến công sức đóng góp của mỗi bên; ưu tiên bảo vệ quyền
lợi chính đáng của phụ nữ và con”. Về nguyên tắc, khi Tòa án không công nhận là vợ
chồng, tài sản riêng của ai thuộc về người đó. Tuy nhiên, người có tài sản riêng phải
chứng minh tài sản đó là của riêng. Nếu không chứng minh được thì tài sản đó sẽ được
coi là tài sản chung và đem chia. Đối với tài sản chung, do họ không được công nhận là
vợ chồng nên trong thời gian sống chung nếu họ tạo ra tài sản thì tài sản đó không
được coi là tài sản chung hợp nhất của vợ chồng mà tài sản chung theo phần. Vì vậy,
khi Tòa án không công nhận là họ là vợ chồng, tài sản chung được chia theo căn cứ
công sức đóng góp của mỗi bên. Đồng thời trên cơ sở bảo vệ quyền người phụ nữ, khi
chia tài sản sẽ “ưu tiên bảo vệ quyền lợi chính đáng của phụ nữ và con”. Tuy nhiên, ưu
tiên và bảo vệ như thế nào thì vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể.
Đối với con chung, Tòa án sẽ áp dụng khoản 2 Điều 17 Luật hôn nhân và gia
đình năm 2000 để giải quyết. Cụ thể: “Quyền lợi của con được giải quyết như trường
điều kiện phù hợp kết hôn nhưng lại không đăng ký kết hôn.
Với suy nghĩ: Tờ giấy đăng ký kết hôn chỉ là một tờ giấy. Nếu một trong hai người
không thật tâm muốn vĩnh viễn chung sống, thì có hay không đăng ký kết hôn cũng
chẳng ăn nhằm gì. Họ cho rằng, nền tảng của hôn nhân là tình yêu thực sự giữa hai cá
nhân. Nếu có tình yêu bền vững, họ sẽ chung sống lâu dài và thương yêu nhau, còn
6
Hoàng Thúy Hòa_362218
hơn những cặp vợ chồng đã đăng ký kết hôn được công nhận là cặp vợ chồng hợp
pháp, nhưng chỉ sau một thời gian, họ lại mang nhau ra tòa ly dị vì lý do nào đó, lại
phải tốn tiền cho án phí, luật sư... Hơn nữa nếu họ cảm thấy không thể hòa hợp được
nữa thì cũng dễ dàng chia tay, không bị nhức đầu vì những thủ tục cũng như chi phí
pháp lý,… các bên đã không tiến hành việc đăng ký kết hôn.
Hiện nay có thể thấy hiện tượng nam nữ chung sống như vợ chồng mà không tiến
hành các thủ tục pháp lý cần thiết nhằm xác định quan hệ vợ chồng trước pháp luật đã
trở thành một hiện tượng xã hội phổ biến trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói
riêng. Thực trạng đó đã và đang gây ra những hậu quả khác nhau trên cả khía cạnh
pháp luật và xã hội.
III. Quan điểm cá nhân về hiện tượng nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng
mà không đăng kí kết hôn.
Đây là hiện tượng mới xuất hiện trong đời sống hôn nhân gia đình những năm
gần đây, hiện nay lại có xu hướng phát triển hơn và được xã hội chấp nhận ở mức độ
nhất định, tùy từng trường hợp, ví dụ đối với những cặp nam nữ đứng tuổi đã ly hôn,
nay lại tìm được đối tượng phù hợp, họ sống với nhau 1 vài tháng, 1 vài năm. Vì vậy
đã có ý kiến đánh giá khác nhau về hiện tượng này, có 13,5% người được hỏi chấp
nhận và 86.5% không chấp nhận chung sống không kết hôn (trong 424 người trả lời
khi hỏi về lý do chấp nhận hay không chấp nhận chung sống không kết hôn). Cuộc
sống càng phát triển thì suy nghĩ của con người càng thoáng. Họ đồng ý chung sống
những gì gọi là thuần phong mỹ tục.
2. Những vấn đề có thể nảy sinh trong những cặp nam nữ chung sống như vợ
chồng mà không đăng ký kết hôn.
8
Hoàng Thúy Hòa_362218
Đối với vấn đề hưởng di sản thừa kế. Việc nam nữ chung sống như vợ chồng mà
không đăng ký kết hôn thì không được công nhận là vợ chồng, những người này không
được xác định là “chồng”, “vợ” thuộc hàng thừa kế thứ nhất được quy định tại điểm a
khoản 1 Điều 676 Bộ luật dân sự năm 2005. Do đó, họ không được quyền thừa kế tài
sản của nhau trừ trường hợp người chết có để lại di chúc và đồng thời họ không được
pháp luật bảo vệ tại Điều 669 Bộ luật dân sự năm 2005 như trong trường hợp vợ chồng
hợp pháp.
Hiện tượng đa thê: Khoản 2 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 có quy
định: “Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc,
lừa dối bên nào; không ai được cưỡng ép hoặc cản trở”. Điều đó cũng có nghĩa là theo
quy định của pháp luật, việc nam nữ có đủ điều kiện kết hôn mà chung sống với nhau
như vợ chồng không đăng ký kết hôn không phải là hành vi trái pháp luật. Tuy nhiên,
trong thực tế lại xảy ra trường hợp không ít người đàn ông lợi dụng để chung sống như
vợ chồng với nhiều người phụ nữ khác nhau. Đây phải chăng là hình thức biến tướng
của hiện tượng đa thê. Tình trạng này không thể coi là vi phạm hôn nhân một vợ một
chồng theo nghĩa vụ được quy định tại khoản 2 Điều 4 Luật hôn nhân và gia đình năm
2000 và Điều 147 Bộ luật hình sự năm 1999. Bởi trong cả hai điều luật này, người bị
coi là vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng phải là người đang có quan hệ hôn
nhân hợp pháp với người khác lại chung sống như vợ chồng với người khác hoặc
người có quan hệ chung sống như vợ chồng với một người đang có quan hệ hôn nhân
hợp pháp với người khác. Chung sống như vợ chồng với nhiều người rõ ràng là hành vi
ra một số ý kiến, giải pháp chung cho vấn đề này:
Về phía mỗi cá nhân, chúng ta nên cố gắng học hỏi, trau dồi kiến thức về tình yêu,
về hôn nhân gia đình, không nên vì chạy theo sự đua đòi, ối sống buông thả, dễ dãi mà
bỏ qua những chuẩn mực, giá trị đạo đức của người Việt Nam. Chúng ta phải biết tự
bảo vệ mình, tham gia các đoàn đội, tạo sân chơi lành mạnh, giao lưu học hỏi để có
10
Hoàng Thúy Hòa_362218
được hiểu biết cần thiết nhất về hôn nhân và tác hại của việc sống chung như vợ chồng
mà không đăng kí kết hôn.
Về phía gia đình, do con cái là do bố mẹ sinh ra nên chính họ là những nhà giáo
dục đầu tiên và trên tất cả đối với con cái. Việc cha mẹ có lối sống như thế nào cũng là
ảnh hưởng rất lớn đến lối sống, sự nhìn nhận về tình yêu, hôn nhân gia đình đối với
con cái. Các bậc phụ huynh cần phải nhận trách nhiệm tạo bầu không khí gia đình linh
hoạt trong tình yêu mọi người, sự cởi mở,..để tạo cho con cái có được môi trường phát
triển lành mạnh nhất. Đồng thời cũng cần có sự vân động quy mô với sự hợp tác chặt
chẽ của gia đình, nhà trường để có thể giáo dục, giúp đỡ con cái trong việc hiểu biết về
tình yêu, giới tính, về tình dục.
Còn về xã hội, nên có những buổi tuyên truyền, hội thảo, diễn đàn và những bài
viết liên quan đến vấn đề này, nên tổ chức và phát triển dưới nhiều khía cạnh khác
nhau để giới trẻ dễ dàng tiếp cận, tìm hiểu và giao lưu để có được các kiến thức cần
thiết. Mọi người cần nghiêm khắc, quyết liệt hơn với việc đẩy lùi tình trạng nam nữ
chung sống như vợ chồng mà không đăng kí kết hôn.
KẾT LUẬN
Việc nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn ngày càng trở
nên phổ biến - một vấn đề nổi trội hiện nay cần được quan tâm và được pháp luật điều
chỉnh cụ thể hơn. Về góc độ luật pháp thì, không có bất cứ một quy định nào của nhà