1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌ VÀ TÊN TÁC GIẢ LUẬN VĂN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
________________
NGÔ HỒNG PHONG
THỰC THI CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN
NHÂN LỰC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CÔNG NGHIỆP HÓA,
TÊN ĐỀ TÀI
HIỆN ĐẠI HÓA Ở THÀNH PHỐ CẦN THƠ
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
KHÓA
Đồng Tháp, năm 2015
1
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
________________
NGÔ HỒNG PHONG
học viên lớp cao học khóa 21 hoàn thành chương trình học.
Tôi bài tỏ lòng biết ơn đối với tập thể anh chị em lớp Cao học Chính trị
khóa 21 đã thê hiện tinh thần đoàn kết và giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình
sinh hoạt và học tập với tập thể lớp. Tôi cảm ơn gia đình và cơ quan đã rất nhiệt
tình, ủng hộ, động viên, tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành chương trình khóa
học. Xin cảm ơn tất cả mọi người, sau khi tốt nghiệp tôi sẽ vận dụng kiến thức
đã học vào thực tiễn công tác, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Đồng Tháp, tháng 6 năm 2015
Tác giả luận văn
Ngô Hồng Phong
3
4
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
CNH, HĐH
:
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CNXH
:
Chủ nghĩa xã hội
KCN
:
Khu công nghiệp
KTTT
:
Kinh tế thị trường
LLSX
:
Lực lượng sản xuất
LĐ-TBXH
:
Lao động thương binh xã hội
NNL
:
Nguồn nhân lực
XHCN
:
Xã hội chủ nghĩa
4
5
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
7
NỘI DUNG
Chương 1
13
VỊ TRÍ, TẦM QUAN TRỌNG CỦA THỰC THI CHÍNH SÁCH
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG
NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
1.1. Chính sách phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu sự nghiệp
13
công nghiệp hóa, hiện đại hóa
76
nhân lực ở thành phố Cần Thơ trong thời gian tới.
80
C. KẾT LUẬN
92
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
95
5
6
A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
6
7
Trong xu thế toàn cầu hóa, kinh tế - xã hội phát triển chủ yếu dựa vào tri
thức, chính vì thế sự phát triển của một quốc gia cũng chủ yếu dựa vào nguồn
8
xét cả về số lượng và chất lượng còn nhiều vấn đề bất cập. Theo đánh giá của các
nhà kinh tế và hoạch định chính sách trong nước và quốc tế thì chính sách phát
triển NNL nước ta còn thiếu, chưa đồng bộ, một số chưa phù hợp với yêu cầu sự
nghiệp CNH, HĐH, việc tổ chức thực hiện còn nhiều hạn chế, yếu kém, dẫn đến
những hạn chế hiệu quả thực thi chính sách.
Cần Thơ là một thành phố trực thuộc trung ương của vùng đồng bằng
sông Cửu Long, theo Nghị quyết 45-NQ/TW ngày 17/2/2005 của Bộ Chính trị
(khóa IX) về xây dựng và phát triển thành phố Cần Thơ trong thời kỳ CNH, HĐH
đất nước, nhằm xây dựng thành phố Cần Thơ thành trung tâm công nghiệp, trung
tâm giáo dục đào tạo và khoa học… của vùng ĐBSCL. Cần Thơ có nhiều tiềm
năng, thế mạnh thu hút đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội, nhưng nhìn chung chưa
được khai thác hết và chưa sử dụng hiệu quả các nguồn lực sẵn có. Những tiềm
năng, thế mạnh đó chỉ có thể phát huy được khi Cần Thơ có NNL tương xứng để
khai thác nhanh chóng đưa thành phố Cần Thơ trở thành thành phố công nghiệp
phát triển, là vùng kinh tế trọng điểm của đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).
Thời gian qua, các cấp chính quyền ở Thành phố Cần Thơ rất quan tâm
trong thực hiện các chính sách phát triển NNL và việc thực hiện những chính sách
này cũng mang lại kết quả hết sức khả quan. Tuy nhiên, NNL với tư cách là động
lực của sự phát triển đang trong tình trạng thiếu về số lượng, yếu về chất lượng, bất
cập về cơ cấu, chưa đáp ứng được yêu cầu CNH, HĐH của thành phố. Do vậy các
cơ quan nhà nước, các cấp chính quyền địa phương cần quan tâm chỉ đạo sát sao
hơn công tác tổ chức triển khai thực hiện chính sách phát triển NNL một cách có
hiệu quả.
Với tất cả những lí do do trên, tôi chọn vấn đề “Thực thi chính sách phát
triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở thành
phố Cần Thơ hiện nay” làm luận văn thạc sĩ chính trị học.
8
thị trường, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.
9
10
- “Đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn nhân lực tài năng - kinh nghiệm của
thế giới”, Trần Văn Tùng, Nxb Thế giới, Hà Nội, 2005. Cuốn sách đã trình bày
những kinh nghiệm trong việc phát hiện, đào tạo và sử dụng tài năng khoa học
công nghệ, sản xuất kinh doanh, quản lý của Mỹ và một số nước châu Âu, châu Á.
Trên cơ sở đó đề cập đến Việt Nam cần đổi mới các chính sách đào tạo, bồi dưỡng
và sử dụng nguồn tài năng hiện có.
- “Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước” của TS. Nguyễn Thanh (chủ biên), Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội. Tác giả
đã khẳng định phát triển NNL là yếu tố quyết định sự thành công của sự nghiệp
CNH, HĐH ở nước ta hiện nay. Từ đó, nêu thực trạng, một số định hướng chủ yếu
phát triển NNL có chất lượng ở nước ta.
Vấn đề con người phát triển nguồn lực con người cũng là đề tài nghiên cứu
của một số luận văn, luận án, đáng chú ý như: “Nguồn lực con người trong quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, luận án tiến sĩ của tác giả Đoàn Văn Khái
(2000); “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Quảng Ninh hiện nay”, luận án thạc sĩ của tác giả Vũ Thị
Phương Mai (2004)… Nhìn chung, các tác giả đã đi sâu nghiên cứu làm rõ các vấn
đề về nguồn lực con người, NNL chất lượng cao và vai trò của những nguồn lực
này trong sự nghiệp CNH, HĐH. Qua phân tích thực trạng các tác giả đã đề xuất
nhiều giải pháp để phát huy, phát triển những nguồn lực này trong thời gian tới.
Ngoài ra, nhiều nhà khoa học, nhà quản lý đã có những công trình, bài viết
về vấn đề nguồn lực con người và đã được đăng tải trên các tạp chí, các kỷ yếu
khoa học, trên mạng internet… Tuy nhiên, dưới góc độ thực thi chính sách phát
như ảnh hưởng lớn đến sự phát triển toàn diện, đáp ứng yêu cầu phát triển của
thành phố trong thời gian tới.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
* Phương pháp luận
Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm của Đảng Cộng sản
Việt Nam về NNL và chính sách phát triển NNL, đồng thời kế thừa kết quả những
công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước có liên quan đến
vấn đề thực thi chính sách phát triển NNL.
11
12
* Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu: Phân tích và tổng
hợp, lịch sử và lôgíc, kết hợp phân tích lý luận với tổng kết thực tiễn, sử dụng các
phương pháp thống kê, so sánh, phương pháp chuyên gia…
6. Những đóng góp mới của đề tài
Luận văn góp phần hệ thống hóa và làm sáng tỏ thêm về lý luận chính sách
và thực hiện chính sách công về phát triển NNL trong sự nghiệp CNH, HĐH ở
nước ta.
Luận văn làm rõ thực trạng thực thi chính sách phát triển NNL ở Cần Thơ
trong những năm đổi mới.
Những đề xuất giải pháp tiếp tục đổi mới việc thực thi chính sách phát triển
NNL ở Cần Thơ trong thời gian tới.
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần hệ thống hóa và hoàn thiện về
mặt lý luận vấn đề chính sách và thực thi chính sách phát triển NNL.
Luận văn sau khi hoàn thành có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các cơ
Anderson, 2003).
Chính sách công là một quá trình hành động hoặc không hành động của
chính quyền để đáp lại một vấn đề công cộng. Nó được kết hợp với các cách
thức và mục tiêu chính sách đã được chấp thuận một cách chính thức, cũng như
các quy định và thông lệ của các cơ quan chức năng thực hiện những chương
trình (Kraft and Furlong, 2004). Từ các quan niệm trên, chính sách công có thể
được nhìn nhận như sau:
Trước hết, là một chính sách của nhà nước, của chính phủ (do nhà nước,
do chính phủ đưa ra), là một bộ phận thuộc chính sách kinh tế và chính sách nói
chung của mỗi nước.
Thứ hai, về mặt kinh tế, chính sách công phản ánh và thể hiện hoạt động
cũng như quản lý đối với khu vực công, phản ánh việc đảm bảo hàng hóa, dịch
vụ công cộng cho nền kinh tế.
13
14
Thứ ba, là một công cụ quản lý của nhà nước, được nhà nước sử dụng để:
Khuyến khích việc sản xuất, đảm bảo hàng hóa, dịch vụ công cho nền kinh tế,
khuyến khích cả với khu vực công và cả với khu vực tư; Quản lý nguồn lực
công một cách hiệu quả, hiệu lực, thiết thực đối với cả kinh tế, chính trị, xã hội,
môi trường, cả trong ngắn hạn lẫn trong dài hạn. Nói cách khác chính sách công
là một trong những căn cứ đo lường năng lực hoạch định chính sách, xác định
mục tiêu, căn cứ kiểm tra, đánh giá, xác định trách nhiệm trong việc sử dụng
nguồn lực công như ngân sách nhà nước, tài sản công, tài nguyên đất nước.
Có thể hiểu chính sách công theo một quan niệm chung nhất: Chính sách
công là tổng thể những chủ trương của nhà nước đối với xã hội trong việc quy định
các hoạt động của những đối tượng nào đó theo một phương thức nhất định, nhằm
thể hiện uy lực, quyền lực công.
Thứ ba, chính sách công là chiến lược sử dụng các nguồn lực của nhà nước
thông qua việc phân bổ các giá trị xã hội, nhằm thực hiện lợi ích nào đó cho giai
cấp cầm quyền, cộng đồng xã hội, hoặc mang lại hiệu quả trong quản lý xã hội của
một quốc gia.
Trong xã hội dân chủ, quyền lực nhà nước là của dân, do dân ủy quyền,
thông qua phân bổ các giá trị xã hội cho phép chính phủ đảm nhiệm vai trò công
bộc đối với nhân dân, nhà nước vì dân, nhà nước tạo thời cơ điều kiện để phát huy
tốt nhất các nguồn lực trong dân, gìn giữ hạnh phúc, an toàn cho mọi người dân.
Với ý nghĩa đó, chính sách công là cái thể hiện khả năng thực thi quyền lực nhà
nước, là công cụ để thực hiện ý chí nhà nước (hay ý chí của nhân dân).
Thứ tư, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan nên đời sống xã hội
luôn có những biến đổi. Trong mỗi thời kỳ khác nhau, điều kiện khác nhau, với
những quan hệ lợi ích khác nhau, đặt ra những yêu cầu khách quan trong sự phát
triển khác nhau. Do đó, trong các chủ trương chính sách nhà nước, bên cạnh những
yếu tố, những mặt ổn định, bất biến, cũng xuất hiện những mặt, những yếu tố khả
biến, đòi hỏi nhà nước phải ứng phó hiệu quả, phải có những chủ trương, biện
pháp, sách lược, kế hoạch thích hợp ở từng thời kỳ. Do đó, chính sách công còn là
nghệ thuật để can thiệp cần thiết vào đời sống xã hội của chính phủ.
Thứ năm, coi chính sách công là các quyết định, các chương trình hành động
của nhà nước và cũng có thể coi chính sách công là một chuỗi các hoạt động có
15
16
tính hệ thống của cơ quan nhà nước, được sắp xếp theo một trật tự nhất định. Hệ
thống này có mục tiêu dài hạn hoặc ngắn hạn và được tính toán, cân nhắc cẩn thận.
Đó là một chuỗi những hoạt động như: Xác định chương trình chính sách; xây
giai cấp nắm quyền thống trị, củng cố quyền lực của giai cấp cầm quyền.
Thông qua một hệ thống các chính sách đúng, đáp ứng các yêu cầu khách
quan của sự phát triển, chính sách công tạo sự ổn định chính trị - xã hội để phát
triển. Chính sách đúng hay không đúng liên quan mật thiết tới phương thức cai
trị (hòa bình, mềm dẻo hay bạo lực cứng rắn). Tính ổn định có quan hệ mật thiết
với phát triển. Do đó, muốn có ổn định chính trị - xã hội, nhà nước phải có
những chính sách đúng, đáp ứng các yêu cầu khách quan trong phát triển kinh tế
- xã hội ở từng thời kỳ, ở mỗi giai đoạn phát triển, chính sách phải hợp lòng dân,
phải hướng đến lợi ích của đại đa số nhân dân, tất nhiên là không tuyệt đối.
Do chính sách liên quan đến phân bổ hợp lý các nguồn lực, giá trị xã hội
nên việc ban hành và thực hiện chính sách có tác động đến khai thác hiệu quả
các nguồn lực xã hội (trong khi trên thực tế, không có một quốc gia nào có dồi
dào các nguồn lực vật chất và tinh thần).
Cuối cùng, việc xây dựng chính sách một cách dân chủ, thông qua việc
ban hành và thực hiện hệ thống chính sách đúng, không ngừng đổi mới, xây
dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách của nhà nước sẽ góp phần củng cố hệ thống
chính trị, trong đó phải nói đến củng cố các mối quan hệ trong hệ thống, như
quan hệ giữa đảng cầm quyền với nhà nước, giữa đảng với dân và quan hệ giữa
nhà nước với dân, củng cố các nguyên tắc dân chủ - pháp quyền, xây dựng nhà
nước pháp quyền, của dân, do dân và vì dân.
1.1.2. Chính sách phát triển nguồn nhân lực
1.1.2.1. Nguồn nhân lực và chính sách phát triển nguồn nhân lực
* Nguồn nhân lực
Khi nói đến con người với tư cách là động lực thúc đẩy sự phát triển thì
người ta xem con người như một nguồn lực. Như chúng ta đã biết, sự nghiệp CNH,
HĐH ở nước ta phải dựa trên tổng thể các nguồn lực. Dưới dạng tổng quát, hiện
nay chúng ta có các dạng nguồn lực khác nhau tham gia thúc đẩy quá trình CNH,
HĐH như: nguồn vốn, tài nguyên, vị trí địa lý, khoa học - công nghệ, nguồn lực
con người...
động vào trong quá trình lao động sản xuất và phát triển của một quốc gia hay
một địa phương.
Dựa trên những quan niệm nêu trên và gắn với góc độ nghiên cứu của đề
tài, có thể hiểu: Nguồn nhân lực là toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một
quốc gia, một địa phương với những năng lực thể chất, tinh thần, trình độ tri
18
19
thức, năng lực thực tế, kỹ năng nghề nghiệp, phẩm chất đạo đức, tác phong lao
động... đã, đang và sẽ tham gia vào quá trình sản xuất ra của cải vật chất và tinh
thần thúc đẩy sự phát triển của một quốc gia.
Với quan niệm như vậy, nguồn nhân lực được đặc trưng bởi hai yếu tố cơ
bản: số lượng và chất lượng NNL.
Về số lượng: NNL là toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một quốc gia,
địa phương. Số lượng nguồn nhân lực ở nước ta là bao gồm những người trong
độ tuổi lao động, có khả năng lao động, không kể đến tình trạng có việc làm
hoặc không có việc làm. Theo khoản 1, điều 3 của Bộ luật Lao động Việt Nam
năm 2012 thì Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao
động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều
hành của người sử dụng lao động. Như vậy, NNL bao gồm số người đang làm
việc trong các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế - xã hội; số người thất nghiệp;
số người làm công việc nội trợ và số người là học sinh, sinh viên trong độ tuổi
lao động.
Về chất lượng: NNL được biểu hiện ở năng lực thể chất, tinh thần, trình
độ tri thức, năng lực thực tế, kỹ năng nghề nghiệp, phẩm chất đạo đức, tác
phong lao động... đã, đang và sẽ tham gia vào quá trình sản xuất ra của cải vật
chất và tinh thần thúc đẩy sự phát triển của quá trình CNH, HĐH. Chất lượng
triển của nền kinh tế. Dưới góc độ của chính trị, chính sách phát triển NNL là
việc nhà nước chuẩn bị cho con người tham gia tích cực, hiệu quả vào các
hoạt động của đời sống xã hội, từ hoạt động kinh tế, văn hóa đến hoạt động
chính trị. Bởi phát triển NNL được hiểu là cả một quá trình, qua đó sự lớn
mạnh của cá nhân hay tổ chức có thể đạt được những tiềm năng đầy đủ nhất
của họ theo thời gian. Bởi vậy, trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, các
quốc gia trên thế giới đều rất quan tâm đến chính sách phát triển NNL, nhằm
tạo ra đội ngũ nhân lực có chất lượng, có trình độ, có khả năng nắm bắt KH CN mới và ứng dụng vào sản xuất, đời sống.
Có quan niệm cho rằng: Chính sách phát triển NNL là hệ thống các quyết
định của nhà nước nhằm làm gia tăng giá trị cho con người trên các mặt như đạo
đức, trí tuệ, kỹ năng, tâm hồn, thể lực... làm cho con người trở thành những người
lao động có những năng lực phẩm chất mới và cao, đáp ứng được những yêu cầu to
20
21
lớn của sự phát triển kinh tế - xã hội.
Một quan niệm khác, chính sách phát triển NNL là tổng thể những biện pháp,
kế hoạch của nhà nước nhằm làm biến đổi về số lượng, chất lượng và cơ cấu NNL
ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội.
Mặc dù với nhiều cách tiếp cận và quan niệm khác nhau về chính sách phát
triển NNL, nhưng có thể hiểu chính sách phát triển NNL như sau: Chính sách phát
triển NNL là hệ thống những chủ trương, chính sách, biện pháp mà nhà nước tiến
hành nhằm phát triển NNL xã hội về số lượng và chất lượng đáp ứng các yêu cầu
phát triển của mỗi cá nhân và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước [38, tr. 9].
1.1.2.2. Thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực
* Thực thi chính sách phát triển NNL là toàn bộ những hoạt động nhằm triển
khai tổ chức, phối hợp các lực lượng và huy động các nguồn lực vào việc thực hiện
Kế hoạch kiểm tra, đôn đốc thực thi chính sách - những dự kiến về tiến độ,
hình thức, phương pháp kiểm tra giám sát tổ chức thực thi chính sách.
Phổ biến, tuyên truyền chính sách:
Cùng với quá trình lập kế hoạch và tổ chức triển khai thực hiện chính sách,
một việc rất quan trọng trong quá trình này là tuyên truyền vận động thực thi chính
sách. Phổ biến, tuyên truyền chính sách tốt giúp cho các đối tượng chính sách và
người tham gia thực thi hiểu rõ về mục đích, yêu cầu của chính sách; về tính đúng
đắn của chính sách trong điều kiện hoàn cảnh nhất định và về tính khả thi của chính
sách... để họ tự giác thực hiện theo yêu cầu quản lý của nhà nước. Đồng thời còn
giúp cho mỗi cán bộ, công chức có trách nhiệm tổ chức thực thi nhận thức được
đầy đủ tính chất, trình độ, quy mô của chính sách với đời sống xã hội để chủ động
tích cực tìm kiếm các giải pháp thích hợp cho việc thực hiện mục tiêu chính sách
và triển khai thực thi có hiệu quả kế hoạch tổ chức thực hiện chính sách được giao.
Tuyên truyền, vận động thực thi chính sách được thực hiện thường xuyên,
liên tục, kể cả khi chính sách đang được thi hành, để mọi đối tượng cần tuyên
truyền luôn được củng cố lòng tin vào chính sách và tích cực thực thi chính sách.
Tổ chức phân công, phối hợp thực hiện chính sách:
Muốn tổ chức thực thi chính sách có hiệu quả phải tiến hành phân công, phối
hợp giữa các cơ quan quản lý ngành, các cấp chính quyền địa phương, các yếu tố
tham gia chính sách và các quá trình ảnh hưởng đến thực hiện mục tiêu chính sách.
22
23
Trong thực tế thường hay phân công cơ quan chủ trì và các cơ quan phối hợp thực
hiện một chính sách cụ thể nào đó.
Duy trì chính sách:
Duy trì chính sách là làm cho chính sách tồn tại được và phát huy tác dụng
Hoạt động điều chỉnh chính sách đòi hỏi phải chính xác, hợp lý nếu không sẽ
làm sai lệch, biến dạng chính sách, làm cho chính sách trở nên kém hiệu quả, thậm
chí không tồn tại được. Muốn thế, các cơ quan nhà nước các ngành, các cấp phải
thường xuyên theo dõi, kiểm tra đôn đốc thực thi mới kịp thời phát hiện những sai
lệch, thiếu sót để điều chỉnh, bổ sung.
Theo dõi kiểm tra, đôn đốc việc thực thi chính sách:
Theo dõi kiểm tra, đôn đốc là một bước rất quan trọng trong quá trình thực
thi chính sách phát triển NNL. Qua kiểm tra, đôn đốc, các mục tiêu và biện pháp
chủ yếu của chính sách lại được khẳng định để nhắc nhở mỗi cán bộ, công chức,
mỗi đối tượng thực thi chính sách tập trung chú ý những nội dung ưu tiên trong quá
trình thực thi chính sách. Căn cứ kế hoạch kiểm tra, đôn đốc đã được phê duyệt các
tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thực hiện hoạt động kiểm tra có hiệu quả. Ngoài
ra, thường xuyên theo dõi kiểm tra, đôn đốc việc thực thi chính sách kịp thời bổ
sung, hoàn thiện chính sách, giúp cho việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện
mục tiêu chính sách.
1.1.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến thực thi chính sách phát triển nguồn
nhân lực
Quá trình tổ chức thực thi chính sách phát triển NNL có rất nhiều yếu tố
ảnh hưởng:
* Các yếu tố khách quan trong thực thi chính sách phát triển NNL:
Tính chất phức tạp của chính sách, là yếu tố gắn liền với mỗi vấn đề chính
sách. Có tác động trực tiếp đến cách giải quyết vấn đề bằng chính sách và tổ chức
thực thi chính sách
Môi trường thực thi chính sách, là yếu tố liên quan đến các hoạt động kinh
tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng, môi trường tự nhiên và quốc tế...
Mối quan hệ giữa các đối tượng thực thi chính sách, thể hiện sự đồng thuận
hay không đồng thuận của xã hội đối với chủ trương phân bổ các giá trị trong chính
sách. Sự đồng tình của xã hội với các quy định được làm và không được làm của
24
liên quan đến quá trình thực thi chính sách:
Thực hiện đúng, đầy đủ các bước trong quy trình tổ chức thực thi chính sách,
25