Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt huyện cao lãnh, tỉnh đồng tháp đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn - Pdf 33

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH


HUỲNH THỊ HOÀI THU

XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT
HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CÔNG NGHIỆP HOÁ,
HIỆN ĐẠI HOÁ NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN
Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số: 60.31.02.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Đinh Thế Định

Đồng Tháp, năm 2015


2

LỜI CÁM ƠN
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến: Ban Lãnh đạo nhà trường,
Phòng đào tạo Sau đại học, Khoa Giáo dục Chính trị trường Đại học Vinh đã tạo
điều kiện thuận lợi cho chúng tôi được học tập, rèn luyện.
Xin chân thành cảm ơn các nhà giáo, các nhà khoa học đã nhiệt tình
giảng dạy, giúp đỡ chúng tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu. Đặc
biệt, PGS. TS Đinh Thế Định - người hướng dẫn khoa học đã tận tình, quan
tâm định hướng, hỗ trợ tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Chân thành cảm ơn Lãnh đạo Ban Tổ chức Tỉnh ủy tỉnh Đồng Tháp,

1.2. Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện đáp ứng yêu cầu công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
Chương 2: THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT VÀ
XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT HUYỆN CAO LÃNH,
TỈNH ĐỒNG THÁP HIỆN NAY
2.1. Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, văn hoá và tình hình
thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở huyện
Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
2.2. Thực trạng đội ngũ cán bộ chủ chốt trong thực hiện công nghiệp hóa,
hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
hiện nay
2.3. Thực trạng công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt trong thực
hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở huyện Cao
Lãnh, tỉnh Đồng Tháp


4
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG ĐỘI
NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CÔNG NGHIỆP
HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN HUYỆN
CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
3.1. Phương hướng xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt đáp ứng yêu cầu
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn ở huyện Cao Lãnh,
tỉnh Đồng Tháp
3.2. Những giải pháp chủ yếu xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt đáp ứng
yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn ở huyện
Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp hiện nay
C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
D. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


CCB

:

Cựu chiến binh

5

CN, TTCN

:

Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp

6

CNH, HĐH

:

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

7

CSVC

:

Cơ sở vật chất


Khoa học kỹ thuật

12

KT-XH

:

Kinh tế - xã hội

13

LHPN

:

Liên hiệp phụ nữ

14

LLCT

:

Lý luận chính trị

15

MTTQ


đoạn cách mạng cần có đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ, điều này phụ
thuộc và quyết định bởi công tác cán bộ.
Thực tiễn sinh động của cách mạng Việt Nam đã chứng minh một cách
sinh động sau khi có đường lối đúng, cán bộ là nhân tố quyết định thắng lợi của
cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Cán bộ là cái gốc của mọi
công việc; công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém.
Sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay đang
đặt ra cho đội ngũ cán bộ nhiệm vụ quan trọng, đòi hỏi phải huy động các nguồn
lực; sức mạnh của cả hệ thống chính trị, chăm lo đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ
chủ chốt các cấp có đủ phẩm chất, năng lực để hoàn thành nhiệm vụ.
Trong bối cảnh quốc tế và trong nước có những thuận lợi nhưng đồng thời
cũng có những nguy cơ và thách thức đan xen. Để nâng cao sự lãnh đạo của
Đảng lên ngang tầm với nhiệm vụ chính trị, chủ động nắm thời cơ, vượt qua
thách thức và nguy cơ, thực hiện thắng lợi mục tiêu chiến lược và đường lối của
Đảng đề ra trong giai đoạn hội nhập và phát triển, công tác xây dựng Đảng được
xác định là nhiệm vụ then chốt, công tác cán bộ của Đảng trở thành "khâu then
chốt của vấn đề then chốt".
Công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ là một vấn đề quan trọng của
Đảng, vì vậy từ trước đến nay đã được Đảng và Nhà nước nghiên cứu, được cụ
thể hóa trong nhiều Nghị quyết, Kết luận, Hướng dẫn: Kết luận số 24-KL/TW,


7
ngày 05 tháng 6 năm 2012 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh công tác quy hoạch và
luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý đến năm 2020 và những năm tiếp theo;
Nghị quyết số 32-NQ/TW, ngày 26 tháng 5 năm 2014 của Bộ Chính trị về tiếp
tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị
cho cán bộ lãnh đạo, quản lý; Hướng dẫn số 15-HD/BTCTW, ngày 05 tháng 11
năm 2012 của Ban Tổ chức Trung ương về công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo,
quản lý theo tinh thần Nghị quyết số 42-NQ/TW, ngày 30 tháng 11 năm 2004

"Nâng cao chất lượng cán bộ cơ sở: những vấn đề lý luận và thực tiễn"
của Hoài Nhân, Tạp chí Tổ chức Nhà nước, số 12, 2002, tr.39, 52. Tác giả nêu
lên số liệu thống kê của tỉnh Bình Dương về trình độ mọi mặt của đội ngũ cán
bộ cơ sở, chỉ ra những bất cập cần khắc phục và những trăn trở, băn khoăn của
đội ngũ cán bộ cơ sở trước những thực trạng đáng báo động về tình hình hoạt
động và chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở. Từ đó, tác giả đưa ra những giải pháp
nâng cao chất lượng cán bộ cơ sở như: chính sách ưu đãi thu hút nhân tài, kế
hoạch đào tạo và bồi dưỡng, các hình thức đào tạo, cải tạo tổ chức Đoàn thanh
niên để tạo nguồn cán bộ trẻ nhằm xây dựng hệ thống chính trị ngày càng
vững mạnh.
Bài viết "Tư tưởng Hồ Chí Minh về luân chuyển cán bộ" của tác giả Trần
Đình Huỳnh, đăng trên Tạp chí Xây dựng Đảng, số 8, 2003. Tác giả đã phân tích
mục đích của việc luân chuyển cán bộ và một số phương châm tiến hành công
tác cán bộ.
Ngoài ra, để tiếp tục củng cố, nâng cao trình độ cho đội ngũ các bộ các
cấp trong tỉnh, Tỉnh uỷ và Uỷ ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp đã có một số Nghị
quyết, Quyết định về việc đào tạo, bồi dưỡng và chế độ đối với cán bộ, công
chức ở huyện, Quyết định số: 10/2009/QĐ-UBND ngày 18 tháng 5 năm 2009
ban hành Quy định chế độ, chính sách đào tạo, bồi dưỡng đối với cán bộ, công
chức, viên chức thuộc tỉnh Đồng Tháp.
Nhìn chung, các công trình nêu trên đã có những luận giải có giá trị về
xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt ở cơ sở. Nhưng, đến nay chưa có công trình


9
nào đi sâu nghiên cứu vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện đáp
ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn ở địa
phương có tính đặc thù như huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, tuy điều kiện kinh tế - xã hội còn khó
khăn nhưng với sự quan tâm của Tỉnh uỷ, huyện uỷ, đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là cán bộ chủ chốt cấp huyện: trưởng,
phó các ban, ngành, đoàn thể huyện Cao Lãnh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu đội ngũ cán bộ đương nhiệm, kế cận cán
bộ trưởng, phó các ban, ngành, đoàn thể huyện và công tác xây dựng đội ngũ
cán bộ chủ chốt cấp huyện ở Cao Lãnh từ năm 2010 đến nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về cán bộ và công tác cán bộ của
Đảng trong điều kiện có chính quyền.
Luận văn được tiến hành trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy
vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Đồng thời sử dụng kết hợp các
phương pháp phân tích, tổng hợp, điều tra xã hội học, gắn lô-gích với lịch sử,
đặc biệt chú trọng phương pháp tổng kết thực tiễn.
6. Những đóng góp mới của đề tài
- Đánh giá đúng thực trạng đội ngũ cán bộ chủ chốt huyện Cao Lãnh và
công tác xây dựng đội ngũ cán bộ của huyện đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá,
hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn.
- Đề xuất các giải pháp cơ bản, có tính khả thi nhằm góp phần xây dựng
đội ngũ cán bộ chủ chốt huyện Cao Lãnh có đủ phẩm chất, năng lực đáp ứng
yêu cầu phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn giai
đoạn hiện nay.


11
Những kết quả nghiên cứu của luận văn có thể cung cấp thêm những luận
cứ khoa học cho các cấp uỷ đảng trong tỉnh thực hiện tốt công tác cán bộ chủ
chốt cấp huyện hiện nay. Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo phục vụ việc

Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra định nghĩa về cán bộ hết sức khái quát và dễ
hiểu: "Cán bộ là người đem chính sách của Đảng, Chính phủ giải thích cho dân
chúng hiểu rõ và thi hành, đồng thời đem tình hình dân chúng báo cáo cho
Đảng, Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng" [40, tr 33].
Luật Cán bộ, công chức ở nước ta quy định: Cán bộ, công chức là công
dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách.
Từ những cách tiếp cận trên, có thể hiểu "cán bộ" là khái niệm dùng để
chỉ những người ở trong cơ cấu của một tổ chức nhất định, có trọng trách hoàn
thành nhiệm vụ theo chức năng được tổ chức đó phân công, bao gồm những
người trong biên chế nhà nước, làm việc trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn
thể chính trị, xã hội, các doanh nghiệp nhà nước và các lực lượng vũ trang từ Trung
ương đến địa phương và cơ sở.
Cán bộ có bốn đặc trưng cơ bản sau:
+ Cán bộ được sự ủy nhiệm của Đảng, Nhà nước và các tổ chức khác
trong HTCT... lấy danh nghĩa của các tổ chức đó để hoạt động.


13
+ Cán bộ giữ chức vụ, trọng trách nào đó trong một tổ chức của HTCT.
+ Cán bộ phải thông qua tuyển chọn hay phân công công tác sau khi hoàn
thành chương trình đào tạo tại các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên
nghiệp, dạy nghề; cán bộ được bổ nhiệm, đề bạt hoặc bầu cử.
+ Cán bộ được hưởng lương và chính sách căn cứ vào nội dung, chất
lượng hoạt động và thời gian công tác của họ.
Như vậy, cán bộ là người lãnh đạo, quản lý hoặc người làm chuyên môn,
nhà khoa học hay công chức, viên chức làm việc, hưởng lương từ ngân sách nhà
nước hoặc từ các nguồn khác. Họ được hình thành từ tuyển dụng, phân công
công tác sau khi tốt nghiệp, từ bổ nhiệm, đề bạt hoặc bầu cử.
- Khái niệm cán bộ chủ chốt
Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, nhà xuất bản Đà Nẵng năm 2002

mục tiêu, lý tưởng của Đảng, là người tận tụy phục vụ nhân dân, đem lại cuộc
sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Trong Di chúc, Người căn dặn
toàn Đảng ta rằng: "Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức
cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng
ta trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung
thành của nhân dân" [39, tr 131].
Quá trình 85 năm tổ chức lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn
chú trọng và đặc biệt quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ ngang tầm với đòi hỏi
của từng thời kỳ cách mạng, đó chính là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của
cách mạng Việt Nam. Đảng ta xác định phải "có một đội ngũ cán bộ đủ phẩm
chất và năng lực xây dựng đường lối chính trị đúng đắn và tổ chức thực hiện
thắng lợi đường lối, đó là vấn đề cốt tử của lãnh đạo, là sinh mệnh của Đảng
cầm quyền" [26, tr 27]. Trong công cuộc đổi mới đất nước, thực hiện sự
nghiệp CNH, HĐH, Đảng ta nhấn mạnh vai trò của cán bộ trong chiến lược
cán bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH: "Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành
bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ,
là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng" [21, tr 66]. Theo quan điểm
của Đảng, trong khi phải xây dựng đội ngũ cán bộ một cách đồng bộ, đáp ứng


16
với yêu cầu của từng giai đoạn cách mạng, cần đặc biệt chú trọng xây dựng
đội ngũ CBCC các cấp, nhất là cấp chiến lược và cấp cơ sở.
Vai trò của đội ngũ CBCC rất quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng.
Trong giai đoạn CNH, HĐH vai trò của CBCC cấp huyện được thể hiện cụ thể:
- Là người được giao các nhiệm vụ quan trọng để lãnh đạo, quản lý, điều
hành, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, chịu trách nhiệm trước tập thể và cấp trên về
nhiệm vụ được phân công.
- Có trách nhiệm tiếp nhận các chủ trương chính sách và sự lãnh đạo từ
cấp trên theo ngành, lĩnh vực được phân công.

chính trị, văn hóa - xã hội, an ninh - quốc phòng, luôn cố gắng phấn đấu vươn
lên nhằm đáp ứng với yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và phát triển quê hương.
- Cán bộ chủ chốt cấp huyện là cán bộ, công chức nên thuận lợi trong việc
thực hiện chính sách cán bộ theo qui định của Nhà nước, tạo sự yên tâm công tác,
gắn bó lâu dài với ngành, địa phương.
1.1.2.3. Những tiêu chuẩn cơ bản của cán bộ chủ chốt cấp huyện
- CBCC cấp huyện phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, trên cơ sở
lập trường của giai cấp công nhân tuyệt đối trung thành với lý tưởng cách
mạng, với chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Kiên định con
đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Có năng lực dự báo, dự đoán và
định hướng sự phát triển, tổng kết thực tiễn, tham gia xây dựng đường lối,
chính sách, pháp luật; vận động và tổ chức nhân dân thực hiện nhiệm vụ
cách mạng. Có ý thức và khả năng đấu tranh bảo vệ quan điểm, đường lối
của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.
- CBCC cấp huyện phải có tinh thần yêu nước sâu sắc, tận tụy phụng sự
Tổ quốc, phục vụ nhân dân, kiên định mục tiêu, lý tưởng của Đảng, cần kiệm
liêm chính, chí công vô tư, không tham nhũng và kiên quyết đấu tranh chống
tham nhũng, có ý thức tổ chức kỷ luật, trung thực, gắn bó mật thiết với nhân dân
và được nhân dân tín nhiệm.
- CBCC cấp huyện phải có kinh nghiệm, tâm huyết và nghệ thuật trong


18
hoạt động chính trị, năng động, thân thiện, linh hoạt, giải quyết kịp thời đúng
đắn những tình huống phát sinh. Chủ động cập nhật kiến thức, thông tin, nhất là
các kiến thức CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn, với phương châm giỏi một
việc, biết nhiều việc, vận dụng thực tiễn tại cơ sở, ứng dụng công nghệ thông tin
trong điều hành, xử lý công việc, trao đổi thông tin lãnh đạo, quản lý.
- CBCC cấp huyện phải có tri thức và văn hoá chính trị, có khả năng lãnh
đạo nhân dân. Người cán bộ của Đảng phải biết làm giàu trí tuệ của mình bằng

duy ý chí, xa rời thực tiễn. CBCC cấp huyện phải có năng lực bao quát trên các
lĩnh vực, nhất là các lĩnh vực mới, việc khó thì mới đáp ứng được yêu cầu nhiệm
vụ được giao. CBCC cấp huyện phải có năng lực sáng tạo, tính quyết đoán và
khả năng, nghệ thuật xử lý các mối quan hệ và làm việc với con người.
1.1.3.2. Những yếu tố cấu thành năng lực lãnh đạo của đội ngũ CBCC
cấp huyện
Năng lực tư duy lý luận
Năng lực tư duy lý luận là tổng thể tri thức, phương pháp luận của chủ thể
đáp ứng yêu cầu phát triển, nhận thức nhanh nhạy, đúng đắn về những vấn đề
thực tiễn ở cấp độ lý luận, giúp cho CBCC cấp huyện có những phản ứng linh
hoạt, khả năng vận dụng sáng tạo lý luận vào thực tiễn nâng cao hiệu lực, hiệu
quả hoạt động lãnh đạo, quản lý.
Năng lực tư duy lý luận của CBCC cấp huyện được biểu hiện:
- Khả năng tiếp thu lý luận, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách
pháp luật của Nhà nước một cách đúng đắn, phát hiện những vấn đề mới, khả
năng tổng kết thực tiễn và vận dụng sáng tạo lý luận, đường lối, chủ trương,
chính sách để xây dựng chương trình, kế hoạch công tác, kế hoạch phát triển
KT-XH phù hợp với thực tiễn ở cơ sở.
- Khả năng liên kết tri thức các lĩnh vực, các ngành nghề, các bộ phận
thành một chỉnh thể ở mức độ khái quát để khi tổ chức điều hành lãnh đạo, chỉ
đạo vừa mang tính lịch sử cụ thể vừa mang tính khái quát tổng hợp.
- Khả năng biến những tri thức đã lĩnh hội được thành các chủ trương,


20
chương trình hành động. Trên cơ sở đó đưa ra những quyết định đúng đắn,
phù hợp với thực tiễn cơ sở trong giai đoạn CNH, HĐH nông nghiệp
nông thôn.
Năng lực tư duy lý luận của CBCC cấp huyện có giá trị định hướng hoạt
động nhận thức và hoạt động thực tiễn. Cơ sở của năng lực tư duy lý luận là tri

nhân thực hiện nhiệm vụ đặt ra ở cấp huyện. CBCC ở cấp huyện phải có tư duy
tổ chức phối hợp các bộ phận trên cơ sở phát hiện ra những điểm mạnh, hạn chế
của cán bộ để bố trí phù hợp và phát huy được năng lực, sở trường. Phải là trung
tâm đoàn kết, thu hút cán bộ và nhân dân tạo nên sức mạnh tổng hợp thực thi
những nhiệm vụ của ngành, địa phương.
Ba là, làm tốt công tác kiểm tra, giám sát để duy trì, điều chỉnh việc thực
hiện các quyết định quản lý. Phát hiện kịp thời những vấn đề mới nảy sinh để
giải quyết, tìm ra những sai sót để sửa chữa, điều chỉnh các vấn đề thực tế đặt ra
để các quyết định có hiệu lực, hiệu quả.
Công tác kiểm tra giám sát làm tăng hiệu quả các quyết định quản lý, đảm
bảo cho việc hoàn thành nhiệm vụ một cách triệt để, hạn chế các sai phạm có thể
nảy sinh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Năng lực này còn thể hiện ở khả
năng đánh giá hiệu quả việc thực hiện các quyết định và khả năng rút kinh
nghiệm thực tiễn vận dụng vào công tác điều hành công việc. Chú trọng việc
kiểm tra để ngăn ngừa, hạn chế sai phạm trong thực hiện nhiệm vụ giai đoạn
CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn địa phương.
Năng lực sáng tạo và tính quyết đoán
Năng lực sáng tạo là khả năng vận dụng tri thức lý luận và khoa học vào
thực tiễn một cách linh hoạt, tìm ra những con đường mới những phương pháp
mới, giải quyết những vấn đề mà thực tiễn đặt ra phù hợp với đòi hỏi khách
quan. Với tư duy năng động, người CBCC cấp huyện phải nắm bắt được sự vận
động biến đổi liên tục ở cấp huyện giai đoạn CNH, HĐH nông nghiệp nông
thôn trên quan điểm khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể và phát triển để đưa
ra những quyết định đúng.


22
Bên cạnh đó phát hiện cái mới, phân tích nguyên nhân phát sinh, xu
hướng vận động của các vấn đề ở cấp huyện để có những giải pháp, phương án
phù hợp. Thực tiễn hết sức phong phú, vì vậy người CBCC cấp huyện phải có

nghệ thuật giao tiếp, làm việc với con người.
Năng lực làm việc với con người là khả năng nắm bắt được tâm lý, tư
tưởng của đối tượng thông qua giao tiếp để chuyển được chủ trương chính sách
của Đảng và Nhà nước vào cuộc sống thông qua con người. Người CBCC cấp
huyện phải xây dựng được các mối quan hệ, kết nối, thu hút mọi người tham gia
vào công việc chung. Có thái độ hòa nhã, cư xử hài hòa, tôn trọng nhân dân,
hiểu rõ tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, thông cảm lắng nghe ý kiến, hiến kế
của nhân dân. Biết tự phê bình và phê bình, phát huy sáng kiến nhân dân,
nghiêm khắc với những sai phạm, tiêu cực. Do vậy, CBCC cấp huyện phải có
khả năng đoàn kết, phát huy sức mạnh của đội ngũ cán bộ, sức mạnh của toàn
dân và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, chủ động trong tham mưu, phối
hợp, huy động các nguồn lực xã hội để thực hiện nhiệm vụ chính trị của
địa phương.
1.2. Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện đáp ứng yêu cầu
công nghiệp hóa, hiện đại hóa
1.2.1. Mục đích, nội dung, yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở
nước ta hiện nay
1.2.1.1. Mục đích công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá tạo ra được những tiền đề về vật chất - kỹ
thuật, về khoa học - công nghệ, về kinh tế - chính trị, về văn hoá - tư tưởng và
con người mới xã hội chủ nghĩa... nhằm huy động và sử dụng có hiệu quả mọi
nguồn lực, tăng năng suất lao động xã hội, làm cho nền kinh tế tăng trưởng
nhanh và bền vững...
Công nghiệp hoá phải gắn liền với hiện đại hoá đây là một nhận thức
đúng đắn, nhạy bén của Đảng và Nhà nước ta nhằm đưa sự nghiệp công nghiệp
hoá đến thắng lợi. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công nghiệp hoá,


24
hiện đại hoá là "Quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động kinh tế,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status