1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN NGỌC LUÂN LÝ
VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ BÍ THƯ XÃ, PHƯỜNG
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ CAO LÃNH
TỈNH ĐỒNG THÁP HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
ĐÔNG THÁP - 2015
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN NGỌC LUÂN LÝ
VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ BÍ THƯ XÃ, PHƯỜNG
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ CAO LÃNH
TỈNH ĐỒNG THÁP HIỆN NAY
Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số: 60.31.02.01
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU
B. NỘI DUNG
Chương 1: VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ BÍ THƯ ĐẢNG ỦY XÃ, PHƯỜNG
Trang
1
6
6
Ở THÀNH PHỐ CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP
1.1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Vị trí, vai trò và nhiệm vụ của xã, phường, các đảng bộ xã, phường và
6
1.2
1.3
đội ngũ bí thư đảng ủy cấp xã, phường hiện nay
Yêu cầu về đội ngũ bí thư đảng ủy cấp xã, phường ở thành phố Cao Lãnh
Thực trạng đội ngũ bí thư đảng ủy xã, phường ở thành phố Cao Lãnh
30
39
1.4
107
109
5
Vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức nói chung và xây dựng đội
ngũ bí thư đảng uỷ cấp cơ sở nói riêng đã được các văn kiện của Đảng đề cập và
nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu.
Trong các đề tài và bài viết liên quan đến vấn đề nghiên cứu, đáng chú ý
là các công trình: "Mẫu hình và con đường hình thành người cán bộ lãnh đạo
chính trị chủ chốt cấp cơ sở" của Học viện Nguyễn Ái Quốc, Hà Nội, 1992; Đề
tài nhánh KX.05-11-2005: "Xác định cơ cấu và tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo chủ
chốt chốt cấp cơ sở” năm 1993 do TS Phan Văn Tích làm chủ nhiệm; "Luận cứ
khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước", Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001 do
PGS,TS Nguyễn Phú Trọng và PGS,TS Trần Xuân Sầm đồng chủ biên. Các công
trình này đã đi sâu phân tích làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về mẫu hình người
cán bộ lãnh đạo, những yêu cầu mới và những giải pháp mang tính tổng quát nhằm
xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, trong đó có đội ngũ cán bộ lãnh đạo,
quản lý chủ chốt cấp cơ sở trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Liên quan đến đề tài nghiên cứu còn có các công trình tiêu biểu như: Bùi
Đình Phong: "Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của đạo đức cách mạng và sự
thống nhất giữa đức và tài", Tạp chí Lý luận chính trị, số 1/2003; Trần Văn
Phòng: "Tiêu chuẩn đạo đức của người cán bộ lãnh đạo chính trị hiện nay", Tạp
chí Lý luận chính trị, số 5/2003; Hồ Bá Thâm: "Nâng cao năng lực tư duy của
đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã hiện nay", Luận án Tiến sĩ Triết học,
1994; Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Xuân Sầm chủ biên: "Xác định cơ cấu và tiêu
chuẩn cán bộ lãnh đạo chủ chốt trong hệ thống chính trị thời kỳ đổi mới", Nhà
xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998; Phạm Công Khâm: "Xây dựng đội
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
- Khảo sát, phân tích và đánh giá đúng thực trạng việc xây dựng đội ngũ
bí thư đảng ủy xã, phường trên địa bàn thành phố Cao Lãnh thời gian qua, chỉ ra
nguyên nhân và bài học kinh nghiệm và xác định những vấn đề cần giải quyết để
tạo cơ sở cho sự phát triển tiếp theo.
8
- Đề xuất phương hướng và những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao vai
trò của đội ngũ bí thư xã, phường ở thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp ngang
tầm nhiệm vụ mới trong giai đoạn hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Trong khuôn khổ của đề tài này, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu đội ngũ
bí thư đương chức và kế cận của đảng uỷ các xã, phường của thành phố Cao
Lãnh hiện nay.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Để giải quyết tốt vấn đề trên, luận văn chỉ giới hạn việc nghiên cứu đặc
điểm của các xã, phường; những nhân tố ảnh hưởng đến vai trò của đội ngũ bí
thư xã, phường gắn với đặc điểm văn hóa vùng miền, đặc điểm địa lý, chính
trị, kinh tế, văn hóa, xã hội trên địa bàn thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
trong công tác xây dựng đội ngũ bí thư đảng uỷ cấp xã, phường ở thành phố
Cao Lãnh trong giai đoạn hiện nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về cán bộ và công tác cán bộ
của Đảng trong điều kiện có chính quyền.
- Luận văn được tiến hành trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy
vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đồng thời sử dụng kết hợp các
phương pháp phân tích và tổng hợp, kết hợp phương pháp lịch sử và lôgic, khảo
VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ BÍ THƯ ĐẢNG ỦY XÃ, PHƯỜNG
Ở THÀNH PHỐ CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Vị trí, vai trò và nhiệm vụ của xã, phường, các đảng bộ xã, phường
và đội ngũ bí thư đảng ủy cấp xã, phường hiện nay
1.1.1. Quan niệm về xã, phường và cấp xã, phường
Làng xã là đơn vị quần cư chủ yếu của người Việt Nam - một dân tộc vốn
có nền văn minh nông nghiệp lúa nước. Các tên gọi “làng”, “xã”, “thôn” xuất
hiện từ rất sớm. Theo GS,TS Hoàng Chí Bảo: “Làng: là một từ Nôm, là tiếng
nói dân dã, là ngôn ngữ đời sống trong dân gian đã ăn sâu vào tâm lý, ý thức của
người Việt từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đó không chỉ là một không gian sinh
tồn, một môi trường kinh tế - sản xuất với nghề trồng lúa nước cổ truyền mà còn
là một không gian xã hội và cảnh quan văn hóa” [2, tr.54]. Cùng với quan điểm
này, nhà nghiên cứu dân tộc học Trần Từ cũng cho rằng: “ “Làng là tế bào
sống của xã hội Việt Nam thời cổ, là sản phẩm tự nhiên tiết ra từ quá trình
định cư và cộng cư của người Việt trồng trọt” [46, tr.35].
Cũng theo GS,TS Hoàng Chí Bảo: “Xã” là một từ Hán, là khái niệm hành
chính, là đơn vị cơ sở của quản lý hành chính, được thừa nhận khi chính quyền nhà
nước phong kiến lúc đó thi hành những cải cách hành chính, biến công xã – làng
Việt cổ - thành đơn vị hành chính cấp cơ sở gọi là “xã” [2, tr.54].
Xã hiện nay là tên gọi chung các đơn vị hành chính thuộc cấp thấp nhất ở
khu vực nông thôn, ngoại thành, ngoại thị của Việt Nam. Thuật ngữ đơn vị hành
chính cấp xã đôi khi được dùng để chỉ toàn bộ cấp đơn vị hành chính thấp nhất
của Việt Nam, nghĩa là bao gồm cả xã, phường và thị trấn.
11
Phường là một đơn vị hành chính cấp thấp nhất của Việt Nam hiện nay,
cùng cấp với xã và thị trấn. Phường là đơn vị hành chính nội thị, nội thành của
một thị xã hay một thành phố trực thuộc tỉnh hoặc của một quận ở thành phố
vai trò của cấp xã, phường được quy định trong Hiến pháp và nhiều sắc lệnh của
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và trong các văn kiện Đảng. Hiến pháp
năm 1946 và Sắc lệnh số 63 ngày 22-11-1945, Hiến pháp 1959 và nhiều sắc lệnh
của Nhà nước xác định: cấp xã là một cấp nằm trong hệ thống hành chính lãnh thổ
của đất nước.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, vị trí, vai trò của cấp xã, phường đã được nâng
lên ở tầm cao mới, thể hiện sâu sắc trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và
đế quốc Mỹ xâm lược. Trong thời kỳ này, xã là căn cứ địa của cách mạng; là nơi
xây dựng và hoạt động của lực lượng du kích, dân quân tự vệ; là nơi cung cấp cho
Đảng những quần chúng ưu tú để tăng cường sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo
của Đảng.
Số lượng xã là được xác định rõ ràng, thị trấn cũng tương đương với xã,
còn phường ở thành phố là đơn vị hành chính cơ sở, nhiều phường vẫn gắn một
phần với sản xuất và cư dân nông nghiệp, nên cấp cơ sở được gọi chung là cấp
xã, bao gồm cả xã, phường và thị trấn.
Theo Hiến Pháp 1992 (sửa đổi), xã là một cấp quản lý nhà nước trong hệ
thống hành chính 4 cấp của nước ta hiện nay ở khu vực nông thôn với một địa bàn
rộng lớn; xã là cấp cơ sở, chiếm 85% tổng số đơn vị cơ sở ở nước ta. Theo Điều
110 của Hiến pháp năm 2013, tiếp tục khẳng định các đơn vị hành chính của nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được phân chia thành 4 cấp: Nước chia
thành tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Tỉnh chia thành huyện, thị xã và
thành phố thuộc tỉnh; thành phố trực thuộc trung ương chia thành quận, huyện, thị
xã và đơn vị hành chính tương đương; Huyện chia thành xã, thị trấn; thị xã và
thành phố thuộc tỉnh chia thành phường và xã; quận chia thành phường.
13
Ngày 27-12-2005, Chính phủ ra Nghị định số 159/2005/NĐ-CP về phân loại
đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn để Nhà nước có chính sách phát triển kinh tế
- xã hội, góp phần đảm bảo sự ổn định của đơn vị hành chính cấp xã và nâng cao
Nhận thức về cấp xã, phường, cần nhấn mạnh tới một số đặc điểm sau
đây:
Thứ nhất, xã, phường là nơi chính quyền trong lòng dân như Đảng ta đã xác
định. Xã, phường là cấp thấp nhất trong các cấp độ quản lý của hệ thống chính
quyền nhà nước nhưng lại là nền tảng của chế độ chính trị và đời sống xã hội.
Thứ hai, xã, phường là nơi diễn ra cuộc sống của dân, nơi chính quyền và
các đoàn thể tổ chức cuộc sống, hoạt động và các phong trào của cộng đồng dân
cư để nhân dân thực hiện quyền làm chủ, thực hành dân chủ của chính mình.
Nếu dân chủ là người dân làm chủ như Chủ tịch Hồ Chí Minh nói, thì xã,
phường là nơi thể hiện rõ nhất và trực tiếp nhất ý thức và năng lực dân chủ của
dân bằng cả phương thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp. Chế độ ủy
quyền và những phương tiện, những điều kiện nhằm thực hiện và đảm bảo cho
sự ủy quyền đó phải được bắt đầu từ xã, phường mà nhân dân là chủ thể. Bao
nhiêu quyền hành đều là của dân, bao nhiêu lợi ích cũng thuộc về dân. Quyền
hành và lực lượng đều ở nơi dân. Dân có quyền làm chủ, đồng thời có nghĩa vụ
của người chủ. Do ở xã, phường là nơi làm việc và sinh hoạt hàng ngày của dân
chúng, là nơi thể chế được dân trực tiếp tổ chức nên và dân thường xuyên tiếp
xúc, đề đạt nguyện vọng, yêu cầu của mình với những người đại diện cho mình,
đồng thời dân cũng có điều kiện biết rõ sự hoạt động của thể chế, của con người
và tổ chức bộ máy, mặt hay cũng như mặt dở, mặt tốt cũng như mặt xấu với
những khuyết tật của nó… nên quan hệ và thái độ của dân đối với thể chế ở xã,
phường cho thấy rõ nhất hiện trạng của thể chế nói chung. Động lực, nội lực của
sự phát triển hay vật cản kìm hãm, sự trì trệ và suy thoái được nhận thấy rõ nhất
ngay ở xã, phường. Những yếu kém diễn ra trong thể chế ở xã, phường làm tổn
hại đến uy tín và ảnh hưởng xã hội của thể chế nói chung. Những phản ứng, bất
15
bình của dân đối với cán bộ xã, phường là khởi đầu cho những mất ổn định,
thậm chí trở thành tình huống, thành điểm nóng gây hại tới sự bình yên của chế
miệng nói, tai nghe, chân đi, tay làm” như Hồ Chí Minh đã chỉ ra [32, tr.699]. Biết
làm cho dân tin, dân ủng hộ; biết tập hợp dân thành lực lượng và hoạt động trong
phong trào; phục vụ dân, làm lợi cho dân, mưu cầu hạnh phúc cho dân, đó là tất cả
những gì cán bộ xã, phường cần có.
Các tổ chức của hệ thống chính trị cấp xã, phường là một bộ phận quan
trọng tạo nên hệ thống chính trị ở nước ta. Hệ thống chính trị ở xã, phường
mạnh thì hệ thống chính trị ở cấp huyện, cấp thành phố mới mạnh; là cơ sở, tiền
đề tạo nên sự vững chắc của hệ thống chính trị quốc gia, có sức đề kháng tốt,
vững vàng trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, khu vực, đáp
ứng ngày càng cao yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước. Các tổ chức của hệ thống chính trị cấp xã, phường vững
mạnh, hoạt động có hiệu quả phụ thuộc rất lớn vào đội ngũ cán bộ chủ chốt của
hệ thống chính trị cấp xã, phường. Đội ngũ này có chất lượng tốt, năng động,
sáng tạo, có năng lực, phẩm chất đạo đức, phương pháp, phong cách công tác tốt
sẽ làm cho hệ thống chính trị cấp xã, phường vững mạnh.
Ngoài những đặc điểm chung của cấp xã, phường trong cả nước, cấp xã,
phường trên địa bàn thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp còn có những đặc
điểm riêng đáng chú ý.
Ngày 23 tháng 2 năm 1983, Hội đồng Bộ trưởng Nhà nước Việt Nam ban
hành Quyết định số 13-HĐBT về việc thành lập thị xã Cao Lãnh thuộc tỉnh Đồng
Tháp: Thành lập thị xã Cao Lãnh trên cơ sở tách thị trấn Cao Lãnh và các xã Hòa
An, Mỹ Trà, Mỹ Tân của huyện Cao Lãnh; Thành lập 4 phường của thị xã Cao
Lãnh là phường 1, phường 2, phường 3 và phường 4 (trên đất của thị trấn Cao
Lãnh cũ); Thị xã Cao Lãnh gồm có các phường 1, phường 2, phường 3, phường
4 và các xã Hoà An, Mỹ Trà, Mỹ Tân.
17
Ngày 16 tháng 2 năm 1987, Hội đồng Bộ trưởng Nhà nước Việt
Nam ban hành Quyết định số 36/HĐBT về việc điều chỉnh địa giới hành chính
triển. Tất cả các xã, phường hiện nay đều có đường ô tô đến trụ sở xã, phường,
đảm bảo giao thông xã liền xã, ấp liền ấp. Các xã, phường đều có trạm y tế, có
trường tiểu học, trường trung học cơ sở, một số phường có trường trung học phổ
thông, trường cao đẳng và trường đại học đóng trên địa bàn phường. Số lượng
hộ nghèo và cận nghèo ngày càng giảm.
Sự chuyển biến trong nhận thức của nhân dân các xã, phường về sự phát
triển của gia đình, quê hương ngày càng đúng hướng và tiến bộ. Các gia đình đã
biết coi trọng việc học tập của con cái, tích cực góp công, góp của xây dựng làng
quê ngày càng giàu đẹp, có ý thức trong việc bảo vệ tài nguyên môi trường ở địa
phương, không còn tình trạng dựng cầu tiêu trên sông hay khai thác bừa bãi các
nguồn thủy sản.
Ở thành phố Cao Lãnh có 3 dân tộc sinh sống đan xen, sẵn sàng tương
trợ nhau lúc khó khăn, trong đó dân tộc Kinh chiếm trên 90% dân số, người Hoa
và người Khơme chiếm gần 10% dân số.
Theo Chi cục Thống kê Đồng Tháp, năm 2013, dân số thành phố Cao
Lãnh là 161.292 người, mật độ 1.508 người/km². Thành phố Cao Lãnh là một
thành phố, đồng thời là tỉnh lỵ của Đồng Tháp. Đây còn là một trong các trung tâm
của vùng Đồng Tháp Mười, có thể xem là điểm tựa và cơ sở hậu cần cho sự phát
triển bền vững của một trong sáu vùng kinh tế lớn của Đồng bằng sông Cửu Long.
Cao Lãnh từng là tỉnh lỵ của tỉnh Kiến Phong cũ trong giai đoạn 1956-1975 dưới
thời Việt Nam Cộng hòa. Năm 1976, tỉnh Đồng Tháp được thành lập. Ban đầu, thị
xã Sa Đéc cũ giữ vai trò là tỉnh lỵ của tỉnh Đồng Tháp trong suốt giai đoạn 19761994, và sau đó theo Nghị định số 36-CP ban hành ngày 29 tháng 4 năm 1994, tỉnh
lỵ tỉnh Đồng Tháp lại dời về thị xã Cao Lãnh (ngày nay là thành phố Cao Lãnh)
cho đến nay. Năm 2007, Cao Lãnh chính thức trở thành thành phố trực thuộc
tỉnh Đồng Tháp.
19
Trên địa bàn thành phố Cao Lãnh, số lượng các phường chiếm tỷ lệ lớn
hơn so với các xã, có 10.560 hội viên nông dân (10.506/151.644 dân số toàn
Tổ chức cơ sở đảng ở xã, phường là nền tảng của đảng ở xã, phường.
Điều 21, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, được Đại hội X của Đảng thông qua
(được Đại hội XI sửa đổi, bổ sung) đã quy định: “Tổ chức cơ sở đảng (chi bộ cơ
sở, đảng bộ cơ sở) là nền tảng của Ðảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở”. Như vậy,
tổ chức cơ sở đảng ở xã, phường là nền tảng của Đảng ở xã, phường. Điều này
bắt nguồn trực tiếp từ học thuyết của chủ nghĩa Mác – Lênin về vai trò quyết
định của quần chúng nhân dân trong lịch sử, về vai trò của giai cấp công nhân lực lượng chủ yếu của cách mạng vô sản và là người lãnh đạo xã hội trong thời
kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Tổ chức cơ sở đảng ở xã, phường có vai trò hạt nhân trong lãnh đạo chính
trị, lãnh đạo hệ thống chính trị ở cơ sở, bảo đảm cho đường lối, chính sách của
Đảng được cụ thể hóa và được thực hiện thắng lợi. Tổ chức đảng ở xã, phường
có vai trò lãnh đạo toàn diện các mặt hoạt động trong xã, phường, lãnh đạo
chính quyền và các đoàn thể quần chúng.
Tổ chức cơ sở đảng ở xã, phường là nơi giáo dục, rèn luyện đảng viên và
phát triển Đảng. Tổ chức cơ sở Đảng là nơi giáo dục lý tưởng cách mạng, rèn
luyện ý chí, trau dồi quan điểm, lập trường cách mạng cho đảng viên ở nông
thôn, động viên đảng viên tham gia các phong trào giữ gìn an ninh, trật tự, phát
triển kinh tế - xã hội ở địa phương; là nơi vận động và bồi dưỡng những người
ưu tú, xuất sắc trong phong trào quần chúng, kết nạp họ vào Đảng nhằm xây
dựng, phát triển, tăng cường số lượng và sức chiến đấu của Đảng.
Tổ chức cơ sở đảng ở xã, phường là đơn vị chiến đấu cơ bản của Đảng và
là chỗ dựa đáng tin cậy của quần chúng nhân dân ở cơ sở. Bằng việc đưa đường
lối, chủ trương của Đảng vào cuộc sống ở xã, phường, tổ chức quần chúng thực
21
hiện thắng lợi đường lối chủ trương, của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà
nước; phát triển lực lượng đảng viên mới trong quần chúng, các tổ chức Đảng ở
xã, phường thực sự là “một đơn vị chiến đấu cơ bản” của Đảng, là hạt nhân lãnh
đạo của hệ thống chính trị và là chỗ dựa đáng tin cậy của nhân dân ở cơ sở.
địa bàn rộng, mật độ dân cư thưa, nhân dân chủ yếu sống bằng nghề nông, kết
cấu hạ tầng nông thôn chưa phát triển, dân trí còn thấp.
- Đảng bộ phường là tổ chức cơ sở đảng được thành lập nơi tập trung dân
cư, thường là những trung tâm chính trị, kinh tế, hành chính của thành phố, của
tỉnh, là đầu mối giao thông, lưu thông quan trọng; nhân dân chủ yếu sống bằng
kinh doanh thương mại, dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp; kết cấu hạ tầng ở phường
tương đối được đầu tư phát triển hơn; trình độ dân trí tương đối cao hơn.
Do đó, trong khi thực hiện nhiệm vụ, các đảng bộ xã, phường cần chú ý
đặc điểm của từng loại hình tổ chức cơ sở đảng và từng địa phương.
1.1.3.2. Chức năng, nhiệm vụ của các đảng bộ xã, phường
Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
IX thông qua đã quy định nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng:
- Chấp hành đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đề
ra chủ trương, nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ, chi bộ và lãnh đạo có hiệu quả.
- Xây dựng Đảng bộ, chi bộ trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng
và tổ chức, thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, nâng cao chất lượng
sinh hoạt đảng, thực hiện tự phê bình và phê bình, giữ gìn kỷ luật và tăng cường
sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, thường xuyên giáo dục, rèn luyện và quản lý
cán bộ, đảng viên, nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng, tính chiến đấu, trình
độ kiến thức năng lực công tác; làm công tác phát triển đảng viên.
- Lãnh đạo xây dựng chính quyền, các tổ chức kinh tế, hành chính, sự
nghiệp, quốc phòng, an ninh và các đoàn thể chính trị - xã hội trong sạch, vững
mạnh; chấp hành đúng pháp luật và phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
23
- Liên hệ mật thiết với nhân dân, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần và
bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, lãnh đạo nhân dân tham gia xây dựng
thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
- Kiểm tra việc thực hiện, bảo đảm các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng và
chính trị lãnh đạo chính quyền, các đoàn thể và nhân dân thực hiện tốt chủ
trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước ở cơ sở. Các tổ
chức cơ sở đảng ở xã, phường phải lãnh đạo toàn diện các mặt công tác ở cơ sở;
chăm lo xây dựng chính quyển, Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể nhân dân vững
mạnh, bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị
hướng vào xây dựng địa phương vững mạnh toàn diện, phục vụ nhân dân, đưa
đường lối, chính sách của Đảng đến mọi người dân, kịp thời nắm bắt tâm tư,
nguyện vọng của nhân dân, khơi dậy nguồn lực và trí tuệ của dân. Phải xác định rõ
chức năng lãnh đạo của tổ chức đảng, chức năng quản lý của chính quyền và vai trò
trách nhiệm của các đoàn thể chính trị - xã hội ở cơ sở; tăng cường sự lãnh đạo của
Đảng đối với chính quyền, các đoàn thể nhưng không bao biện, làm thay công việc
của chính quyền, đoàn thể. Xây dựng và thực hiện quy chế làm việc giữa bí thư cấp
ủy với chủ tịch Hội đồng nhân dân, chủ tịch Ủy ban nhân dân, chủ tịch Mặt trận Tổ
quốc và những người đứng đầu các đoàn thể nhân dân để bàn và giải quyết kịp thời
những công việc quan trọng, bức xúc trên địa bàn, những vấn đề lớn có quan hệ tới
cuộc sống, quyền lợi của đông đảo nhân dân địa phương.
Tăng cường và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục chính trị,
lãnh đạo tư tưởng, kiên quyết đấu tranh khắc phục sự suy thoái về tư tưởng, chính
trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên. Triển khai sâu rộng việc giáo dục, rèn
luyện đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên mà nội dung cơ bản là học tập và
làm theo tư tưởng, đạo đức, tác phong của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tạo dư luận xã
hội rộng lớn trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân phê phán chủ nghĩa cá nhân; đề
cao cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư; nêu gương người tốt, việc tốt. Kiên
quyết đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, tư tưởng cá nhân,
cơ hội, thực dụng, cục bộ địa phương trong cán bộ, đảng viên; xử lý nghiêm những
25
cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Tiếp tục thực
hiện có kết quả cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng; xác định rõ tiêu chuẩn,