Ảnh hưởng của quỹ trợ vốn tự tạo việc làm (CEP) đối với thu nhập của hộ nghèo trên địa bàn thành phố cao lãnh, tỉnh đồng tháp - Pdf 57

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

HUỲNH NGỌC TRƯỚC

ẢNH HƯỞNG CỦA QUỸ TRỢ VỐN TỰ TẠO
VIỆC LÀM (CEP) ĐỐI VỚI THU NHẬP CỦA
HỘ NGHÈO TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ
CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. HỒ CHÍ MINH - NĂM 2019


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

HUỲNH NGỌC TRƯỚC

ẢNH HƯỞNG CỦA QUỸ TRỢ VỐN TỰ TẠO
VIỆC LÀM (CEP) ĐỐI VỚI THU NHẬP CỦA
HỘ NGHÈO TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ
CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
Chuyên ngành: Tài chính công
Mã số: 8340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS. BÙI THỊ MAI HOÀI

tăng thêm 9,73 triệu đồng/hộ/năm và thu nhập bình quân đầu người tăng thêm 2,07
triệu đồng/người/năm.
Kết luận và khuyến nghị: Đề tài đề xuất các hàm ý chính sách gồm: Tăng
cường sự liên kết hỗ trợ của nhà nước đối với người nghèo; Tăng cường năng lực
tài chính của CEP để tăng mức cho vay đối với người nghèo; Ưu tiên hỗ trợ cho
những hộ nghèo có đông người phụ thuộc; Tăng cường vai trò của các tổ chức đoàn
thể tại địa phương.
Từ khóa: Tín dụng vi mô, CEP, khác biệt trong khác biệt, hộ nghèo.


ABSTRACT
Title: Influence of Capital Aid Fund for Employment of the Poor (CEP) on
the income of poor households in Cao Lanh City, Dong Thap Province.
Reason for writing:.CEP has improved income and escaped from poverty.
CEP's microcredit funding has become an important channel for implementing the
poverty reduction policy of Cao Lanh City.
Problem: Many households still have access to loans despite CEP's
preferential loans. The question is whether CEP's microcredit program really
improves income for poor households in Cao Lanh city?
Methods: Using Difference-in-Difference Method (DID) of the semiexperimental method with sample size surveying 200 poor households (100
households in the treatment group and 100 households in the control group) and indepth interview techniques of qualitative research to accomplish the objectives of
the topic.
Results: CEP's microcredit program helps increase household income by 9.73
million VND per household per year and per capita income increases by 2.07
million VND per person per year.
Conclusions and implications: The thesis proposes policy implications
including: Enhancing the linkage of state support to the poor; Strengthen CEP's
financial capacity to increase lending to the poor; Priority support for poor
households with large dependents; Enhance the role of local mass organizations.
Keywords: Microcredit, difference in differences, poor households.



2.3. Khung phân tích ............................................................................................. 13
2.3.1. Khung phân tích........................................................................................... 13
2.3.2. Mô tả và định nghĩa các biến trong khung phân tích .................................... 14
2.3.3. Quy trình thực hiện đề tài ............................................................................ 19
2.4. Dữ liệu nghiên cứu ......................................................................................... 19
2.5. Cách tiếp cận và kỹ thuật sử dụng để thực hiện đề tài ..................................... 21
Tóm tắt Chương 2 ................................................................................................. 23
Chương 3. ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CHƯƠNG TRÌNH TDVM CỦA
CEP ĐẾN THU NHẬP CỦA HỘ NGHÈO TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ
CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP .....................................................................24
3.1. Tổng quan chương trình TDVM của CEP giai đoạn 2015 - 2018 tại thành phố
Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp .................................................................................... 24
3.1.1. Giới thiệu chương trình CEP........................................................................ 24
3.1.2. Chương trình TDVM của CEP tại thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp ............ 26
3.2. Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu ..................................................................... 27
3.2.1. Đặc điểm mẫu khảo sát ................................................................................ 27
3.2.2. Tiếp cận chương trình TDVM của CEP của hộ nghèo .................................. 31
3.3. Tác động của chương trình TDVM của CEP đến thu nhập của hộ nghèo trên địa
bàn thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.............................................................. 33
3.3.1. Kiểm định sự khác biệt giữa nhóm xử lý và nhóm kiểm soát ....................... 33
3.3.2. Tác động của chương trình TDVM của CEP đến thu nhập của hộ nghèo trên
địa bàn thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp ........................................................ 34
Tóm tắt chương 3 .................................................................................................. 35
Chương 4. NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN KẾT QUẢ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH
SÁCH, KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH ...............................................36
4.1. Nguyên nhân của kết quả tác động từ chương trình TDVM của CEP đến thu
nhập của hộ nghèo tại thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp ................................. 36
4.1.1. Về nguyên nhân của kết quả đạt được .......................................................... 36


Khác biệt trong khác biệt (Difference in differences)

ĐBSCL

Đồng bằng sông Cửu Long

NSNN

Ngân sách nhà nước

PSM

Kết nối điểm xu hướng (Propensity Score Matching)

TDVM

Tín dụng vi mô

TPHCM

Thành phố Hồ Chí Minh

UBND

Ủy ban nhân dân


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Cơ cấu mẫu khảo sát theo quy mô hộ .................................................... 15


1

Chương 1. GIỚI THIỆU
1.1. Lý do chọn đề tài
Tín dụng vi mô (TDVM) đề cập đến các chương trình cung cấp tài chính cho
người nghèo để tạo ra việc làm và thu nhập. Weber (2006) mô tả các chương trình
TDVM như là việc cung cấp các khoản vay nhỏ cho các cá nhân, thường là trong
các nhóm để tạo thu nhập thông qua việc tự làm chủ. Hoạt động TDVM đã phát
triển rộng khắp các quốc gia, số lượng người được vay đã gia tăng đáng kể tại các
nước Argetina, Colombia, Mexico và các nước Châu Mỹ La tinh (Franco, 2011).
Tại Việt Nam, hoạt động cho vay nhỏ được thực hiện bởi các tổ chức TCVM, các tổ
chức hoạt động tài chính, các tổ chức phi chính phủ (Nguyễn Kim Anh và cộng sự,
2011).
Hàng loạt các nghiên cứu như của các tác giả Mohanan (2005), Brown (2010),
Ifrin, Islam và Ahmed (2010), Ahmed và cộng sự (2011) đều cho biết rằng ở các
quốc gia đang phát triển TDVM đã tạo ra ảnh hưởng tích cực đến đời sống kinh tế
văn hóa xã hội của người dân. TDVM cung cấp nguồn tài chính cho người nghèo
đúng vào lúc họ cần vốn nhất, giúp họ trang trải cho các hoạt động mưu sinh hàng
ngày, tăng cường giáo dục, nâng cao sự tự tin vào năng lực tự làm chủ và mạnh dạn
lựa chọn các phương án phát triển kinh tế, vượt qua các cú sốc và làm giảm các tổn
thương trong cuộc sống (Servon, 1999). TDVM là một chính sách quan trọng trong
cuộc chiến chống lại đói nghèo, nhất là ở các quốc gia đang phát triển (Humle và
Mosley, 1996; Shaw, 2004). TDVM tạo ra sức mạnh kinh tế - xã hội, giúp người
nghèo thoát nghèo (Yunus, 1999), làm tăng tiềm năng giúp người nghèo tạo ra thu
nhập (Bashir và cộng sự, 2010).
Việt Nam đã kết thúc thực hiện kế hoạch giảm nghèo giai đoạn 2011 - 2015.
Đến cuối năm 2015, Việt Nam có hơn 2,3 triệu hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 9,88% và có
hơn 1,2 triệu hộ cận nghèo, chiếm tỷ lệ 5,22% (Tổng cục Thống kê, 2016). Như
vậy, tỷ lệ hộ nghèo và hộ cận nghèo ở Việt Nam còn khá cao. Giảm nghèo, nâng

1.2.1. Mục tiêu thực hiện đề tài
Đề tài nghiên cứu nhằm đạt được các mục tiêu cụ thể sau:
Mục tiêu 1: Đánh giá tác động của chương trình TDVM của CEP đến thu nhập
của hộ nghèo trên địa bàn thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Mục tiêu 2: Tìm hiểu nguyên nhân của kết quả tác động từ chương trình


3

TDVM của CEP đến thu nhập của hộ nghèo trên địa bàn thành phố Cao Lãnh, tỉnh
Đồng Tháp.
Mục tiêu 3: Hàm ý chính sách cho chương trình TDVM của CEP.
1.2.2. Câu hỏi chính sách cần trả lời
Chương trình TDVM của CEP ảnh hưởng như thế nào đến thu nhập của hộ
nghèo trên địa bàn thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp?
Nguyên nhân dẫn đế n kế t quả tác đô ̣ng đó là gı̀?
Cần có những cải thiện gì trong chương trình TDVM của CEP?

1.3. Khung phân tích, đối tượng nghiên cứu, dữ liệu và cách tiếp cận
1.3.1. Khung phân tích
Tác giả sử dụng lý thuyết về các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ
nghèo (trong đó có tín dụng vi mô và chính sách hỗ trợ vốn cho hộ nghèo) là m
khung phân tı́ch nhằm thực hiện mục tiêu của luận văn.
1.3.2. Cách tiếp cận, đối tượng nghiên cứu và dữ liệu
Để trả lời câu hỏi thứ nhấ t, tác giả sử dụng kỹ thuật khác biệt trong khác biệt
(DID) của phương pháp bán thí nghiệm. Cụ thể, tác giả chọn 2 nhóm đối tượng
nghiên cứu là những hộ nghèo ở thành phố Cao Lãnh có điều kiện tương đồng
về mọi khía cạnh, chỉ khác nhau ở chỗ một nhóm được vay vốn từ CEP (gọi là
nhóm xử lý hay còn gọi là nhóm tham gia); nhóm còn lại không vay vốn từ CEP
(gọi là nhóm kiểm soát hay còn gọi là nhóm so sánh).

Vitor và cộng sự (2012) nghiên cứu ảnh hưởng của TDVM đối với thu nhập
của hộ kinh doanh nhỏ ở Miền Trung Ghana. Bằng phân tích hồi quy điểm xu
hướng (PSM), kết quả nghiên cứu cho thấy sự hài lòng về các thủ tục, tham gia
thành viên các hiệp hội kinh doanh, khoản tiền tiết kiệm, chi phí lãi suất là những
nhân tố có ảnh hưởng đến việc tham gia vào chương trình TDVM.
Rukiye (2012) nghiên cứu ảnh hưởng của chương trình TDVM đến thu nhập
của các hộ gia đình tại Thổ Nhĩ Kỳ. Kết quả kiểm định thống kê phi tham số cho
thấy TDVM như một thành công cho công tác giảm nghèo.
Yusuf và cộng sự (2013) nghiên cứu ảnh hưởng của chương trình TVDM
thuộc Quỹ xóa đói giảm nghèo (PPAF) của Pakistan đối với nghèo đói. Nghiên cứu
sử dụng mô hình hồi quy nhị phân logit. Kết quả cho thấy, TDVM ảnh hưởng
không đáng kể đến tình trạng nghèo của những người thụ hưởng.
Ayen (2016) phân tích ảnh hưởng của chương trình TDVM đối với hộ gia đình
ở Jimma Zone, Ethiopia. Với kỹ thuật phân tích hồi quy điểm xu hướng (PSM),


5

nghiên cứu cho rằng những hộ gia đình có nhiều đất đai đất đai, thu nhập và giá cả
sản phẩm sản xuất ra ảnh hưởng đến khả năng tham gia TDVM nhiều hơn. Có sự
khác biệt đáng kể giữa nhóm tham gia và nhóm không tham gia.
1.5.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam
Quách Mạnh Hào (2005) nghiên cứu ảnh hưởng của TDVM đến thu nhập của
hộ gia đình. Nghiên cứu đã kết luận rằng thu nhập của hộ gia đình phụ thuộc vào
đặc điểm kinh tế, xã hội của hộ gia đình.
Lê Việt Phương (2012) nghiên cứu về tác động của TDVM đến khả năng thoát
nghèo của hộ gia đình nghèo tại huyện Bình Chánh, TPHCM. Kết quả nghiên cứu
đã cho thấy 2 nhóm nhân tố có ảnh hưởng tích cực đến khả năng thoát nghèo của hộ
đó là nhóm nhân tố thuộc bản thân hộ gia đình nghèo (trình độ học vấn và số người
có việc làm trong hộ) và nhóm nhân tố TDVM (tổng số tiền vay, số lần tham gia tập

cho người nghèo trên điạ bàn thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.


7

Chương 2. KHUNG PHÂN TÍCH, DỮ LIỆU VÀ CÁCH TIẾP CẬN
2.1. Các khái niệm
2.1.1. TDVM
Hiện nay có rất nhiều quan niệm về TDVM, theo Hội nghị thượng đỉnh toàn
cầu về TDVM tại Washington cho rằng TDVM là việc cung cấp các khoản vay có
quy mô nhỏ đến đối tượng nghèo với mục đích giúp những người thụ hưởng thực
hiện các dự án sản xuất kinh doanh để tạo lợi nhuận từ đó nâng cao chất lượng đời
sống cho cả người vay vốn và gia đình của họ (Microcredit Summit, 1997).
TDVM được sử dụng để mô tả các khoản vay nhỏ được cấp cho các cá nhân
có thu nhập thấp bị loại trừ khỏi hệ thống ngân hàng truyền thống. Nó là một phần
của TCVM, cung cấp tín dụng không chỉ có cho vay mà còn tiết kiệm, bảo hiểm và
các dịch vụ tài chính cơ bản khác cho người nghèo. Thuật ngữ “vi mô” xuất phát từ
số tiền cho vay tương đối nhỏ (Microworld, 2018). Đồng thuận quan điểm này,
Ledgerwood (1999) và Chowdhury (2000) cho rằng TDVM là các khoản cho vay
nhỏ; Abhijit và cộng sự (2015) cho rằng TDVM là cung cấp các khoản vay nhỏ cho
các mục đích kinh doanh, sản xuất, các hoạt động tạo ra thu nhập và tạo dựng giá trị
tài sản.
TDVM có nghĩa là khoản vay nhỏ cho những người cần tiền để tự làm chủ các
dự án tạo ra thu nhập hoặc cho các nhu cầu gia đình khẩn cấp như vấn đề về sức
khỏe và giáo dục. Nó có nghĩa là để giúp cải thiện chất lượng cuộc sống của người
dân bằng cách cung cấp cho họ một nhỏ số tiền trong một khoảng thời gian ngắn
(Maheswaranathan và Kennedy, 2008).
Như vậy, có thể cho thấy TDVM đã được hầu hết các nhà nghiên cứu đồng
thuận rằng TDVM là dịch vụ cung cấp cho những người nghèo và những người
không thể tiếp cận nguồn vốn từ các định chế tài chính khác bằng các khoản vay

trong khái niệm nghèo đa chiều. Chỉ số nghèo đa chiều của thế giới, với ba chiều
cạnh là: y tế, giáo dục và điều kiện sống, là thước đo quan trọng bổ sung cho
phương pháp đo nghèo truyền thống chỉ dựa trên thu nhập.
Hộ nghèo là hộ gia đình chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu tối thiểu của cuộc
sống, có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi
phương diện (Tổng Cục thống kê, 2016).


9

Đói nghèo tính theo đầu người là số lượng những cá nhân sống trong các hộ
gia đình ở một quốc gia hoặc một khu vực, mà thu nhập hay mức tiêu dùng của họ ở
dưới một ngưỡng đói nghèo cụ thể. Đói nghèo tính theo đầu người là thước đo
chính xác về số lượng người nghèo (UNDP, 2012).
Trong phạm vi luận văn này, tác giả sử dụng cách tiếp cận nghèo thu nhập và
nghèo tiếp cận, tức là hộ nghèo là những hộ có thu nhập thấp hơn ngưỡng nghèo
theo quy định của Chính phủ và thiếu khả năng tiếp cận chính sách, cụ thể ở đây là
chính sách vay vốn của CEP.
2.1.2.2. Chuẩn nghèo của một số quốc gia
Về cơ bản, vấn đề nghèo đói đang là vấn đề chung toàn cầu, các quốc gia đang
tập trung đẩy lùi căn bệnh được xem là tồn tại dai dẳng nhiều thập kỷ qua. Theo đó,
để đánh giá nghèo đói người ta dùng đường nghèo đói. WB (2012) đánh giá nghèo
đói ở hai loại đường nghèo đói: đường nghèo đói chung và đường nghèo đói về
lương thực thực phẩm.
Ở Ấn Độ lấy tiêu chuẩn là 2.250 calo/người/ngày. Ở Bangladesh lấy tiêu
chuẩn là 2.100 calo/người/ngày. Ở Indonesia, những năm 1980 lấy mức 2.100 calo/
người/ngày làm mức chuẩn để xác định gianh giới giữa giàu với nghèo. Ở Trung
Quốc, năm 1990 lấy mức tiêu dùng là 2.150 calo/người/ngày. Các nước ở Châu Âu:
2.570 calo/người/ngày. Đường nghèo đói chung gồm nghèo đói về lương thực tính
cả các chi phí cho mặt hàng phi lương thực, thực phẩm (1 USD/ngày) hoặc mức thu

cận thông tin.
Hộ nghèo ở nông thôn: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: (i) Có thu
nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống; (ii) Có thu nhập
bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt từ 03
chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.
Hộ nghèo ở khu vực thành thị: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: (i) Có
thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống; (ii) Có thu nhập
bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt từ 03
chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.
2.1.3. Thu nhập của hộ gia đình
Samuelson, Milton Spencer, David Begg (trường phái tài chính hiện đại) cho
rằng các hình thức của thu nhập bao gồm: người lao động (nhận được tiền lương),


11

chủ sở hữu (địa tô), người có vốn (nhận được lãi suất), người có tài kinh doanh (có
được lợi nhuận). Các khoản chênh lệch về lương nhận được do yếu tố về giới tính,
nhóm ngành nghề và chất lượng lao động.
Theo Singh và Strauss (1986), thu nhập của hộ gia đình gồm thu nhập từ nông
nghiệp và thu nhập từ phi nông nghiệp. Tại Việt Nam thì thu nhập của hộ gia đình
là toàn bộ tiền và hiện vật quy thành tiề n sau khi đã trừ chi phı́ sản xuấ t mà hô ̣ và
các thành viên trong hô ̣ nhận được trong một năm (Tổng cục Thống kê, 2011).
Thu nhập của hộ gia đình bao gồm thu nhập từ tiền công, tiền lương, thu nhập
từ sản xuất nông nghiệp (sau khi đã trừ chi phí, thuế) và thu nhập từ phi nông
nghiệp (sau khi đã trừ chi phí, thuế), thu khác (biếu, mừng, lãi tiết kiệm). Các khoản
không tı́nh vào thu nhâ ̣p gồ m rút tiề n tiế t kiê ̣m, thu nơ,̣ bán tài sản, vay nơ,̣ ta ̣m ứng
và các khoản chuyể n nhượng vố n do liên kế t trong sản xuấ t kinh doanh và các
khoản thu nhập khác (Tổng Cục thống kê, 2016).
Thu nhập bình quân đầu người trong năm được tính bằng cách chia tổng thu

Khải, 2005). Để có giá trị năng suất lao động con người thực hiện thông qua các
hoạt động sinh kế hằng ngày, trong đó vốn con người đóng vai trò chủ đạo trong
quá trình hình thành các kế hoạch, các hoạt động lao động và liên kết các nguồn vốn
khác tạo ra giá trị thu nhập.
Theo một nghiên cứu của Thái Phúc Thành (2014), để tạo ra thu nhập con
người vận dụng tổng hòa các kỹ năng (kỹ năng chuyên môn kỹ thuật, kỹ năng quản
lý tài chính, kỹ năng sử dụng vốn, kiến thức và các kỹ năng ứng phó với rủi ro và
các yếu tố bên ngoài (yếu tố rủi ro, sốc) nhằm tạo ra giá trị thu nhập.
Các nhà kinh tế học Tân cổ điển họ đưa ra các lý thuyết vốn nhân lực, lý
thuyết thu nhập và sự phân biệt đối xử, lý thuyết sản xuất,… để giải thích sự khác
nhau cơ bản về thu nhập của các cá nhân hay các hộ gia đình. Điều này biểu hiện
qua tính đặc thù của nghề nghiệp, quy mô lao động, vốn nhân lực và các kỹ năng
làm việc. Vốn nhân lực với tổng thể kiến thức, kỹ năng, trình độ chuyên môn của
người lao động, thể hiện năng lực làm việc của người lao động trong quá trình tạo ra
năng suất lao động. Cùng với vốn vật chất, vốn nhân lực cần phải có sự đầu tư
nhằm mang lại hiệu quả lao động và góp phần tạo ra giá trị gia tăng về thu nhập
trong tương lai.
Giá trị thu nhập của mỗi cá nhân nhận được có sự khác nhau do yếu tố quyết
định của vốn con người và vốn vật chất (Backer và Tomes, 1986; Mincer, 1984).


13

Mỗi cá nhân hay mỗi hộ gia đình với các đặc điểm vốn nhân lực khác nhau tham gia
lao động trên cơ sở có vốn vật chất góp phần tạo ra các giá trị gia tăng về thu nhập
là khác nhau. Như vậy, thu nhập chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau.
TDVM là cần thiết giúp cho các hộ nghèo tạo dựng thu nhập (Krog, 2000).
TDVM ở các nước đang phát triển có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong xóa đói
giảm nghèo, đặc biệt TDVM giúp phụ nữ khu ở các vực nông thôn, họ là những
người không có khả năng tiếp cận các nguồn vốn từ các định chế tài chính khác bởi

THU NHẬP CỦA HỘ NGHÈO

Vốn vật chất
Tài sản

Thời gian
T =2015, T=2018

Hình 2.1: Khung phân tích của đề tài
Nguồn: Tổng hợp lý thuyết và đề xuất của tác giả (2019)


14

2.3.2. Mô tả và định nghĩa các biến trong khung phân tích
2.3.2.1. Biến phụ thuộc
Biến phụ thuộc (TNBQ): Là thu nhập bình quân đầu người của hộ nghèo.
Được tính bằng tổng thu nhập của hộ trong năm chia cho số lượng thành viên của
hộ, đơn vị tính là triệu đồng/người/năm. Thu nhập của hộ gia đình bao gồm thu
nhập từ tiền công, tiền lương, thu nhập từ sản xuất nông nghiệp (sau khi đã trừ chi
phí, thuế) và thu nhập từ phi nông nghiệp (sau khi đã trừ chi phí, thuế), thu khác
(biếu, mừng, lãi tiết kiệm).
Các khoản không tı́nh vào thu nhâ ̣p gồ m rút tiề n tiế t kiê ̣m, thu nơ,̣ bán tài sản,
vay nơ,̣ ta ̣m ứng và các khoản chuyể n nhượng vố n do liên kế t trong sản xuấ t kinh
doanh và thu nhập khác (Tổng Cục thống kê, 2016).
2.3.2.2. Biến độc lập
Biến quan tâm chính: Tham gia chương trình TDVM của CEP hay không. Vì
mục tiêu thứ nhất của luận văn là đánh giá tác động của của quỹ cho vay CEP đến
thu nhập của hộ nghèo, và tác giả sử dụng kỹ thuật khác biệt trong khác biệt của
phương pháp bán thí nghiệm để thực hiện đánh giá nên sẽ tiến hành xem xét 2 nhóm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status