BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN XUÂN HOÀNG
VĂN HÓA CHÍNH TRỊ CỦA ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN
TRUNG HỌC CƠ SỞ Ở HUYỆN HÒN ĐẤT,
TỈNH KIÊN GIANG HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
Long An, 6/2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN XUÂN HOÀNG
VĂN HÓA CHÍNH TRỊ CỦA ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN
TRUNG HỌC CƠ SỞ Ở HUYỆN HÒN ĐẤT,
TỈNH KIÊN GIANG HIỆN NAY
Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số
: 60 31 02 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Trần Viết Quang
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
- Cán bộ, giáo viên
- CBGV
- Chủ nghĩa xã hội
- CNXH
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
- CNH, HĐH
- Giảng viên cao cấp
- GVCC
- Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Thạc sĩ
- GS, PGS, TS, ThS
- Trung học cơ sở
- THCS
- Văn hóa chính trị
- VHCT
- Xã hội chủ nghĩa
A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của toàn Đảng, toàn dân ta bao gồm
những nội dung cơ bản như: xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa (XHCN); xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN; xây dựng nền văn hóa tiên
tiến đậm đà bản sắc dân tộc... Các nội dung đó hòa trong một tổng thể không thể
tách rời, không thiếu mặt nào.
Văn hóa chính trị (VHCT) trong xã hội thực sự là phương thức điều hành xã
hội; nó vừa là mục tiêu, vừa là động lực xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Với tư cách là một phương diện của văn hóa, VHCT với các tính chất, đặc
điểm, chức năng của mình là nâng cao trình độ chính trị cho con người. Điều đó, có
nghĩa VHCT không phải là biểu hiện bề ngoài của chính trị, mà thẩm thấu trong cơ
thể chính trị; nó là sức sống và do đó là sức mạnh bên trong của đời sống chính trị.
Như vậy, VHCT có vai trò vô cùng to lớn trong hoạt động chính trị, nó không chỉ
phản ánh đời sống chính trị, mà còn nằm ngay trong mọi thành phần, mọi hoạt động
chính trị của con người, nó tác động mạnh mẽ và toàn diện tới phương hướng, tính
chất, nội dung, kết quả và hiệu quả của hoạt động chính trị.
Trong những năm qua, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, công chức, viên chức nói
chung cũng như đội ngũ giáo viên trung học cơ sở (THCS) nói riêng đã có những
đóng góp quan trọng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nghị quyết Trung
ương 4 (khóa XI) đã chỉ rõ: “Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp đã có bước
trưởng thành và tiến bộ về nhiều mặt. Đa số cán bộ, đảng viên có ý thức rèn luyện,
nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, có ý thức phục vụ nhân dân, được
nhân dân tin tưởng. Thành tựu 25 năm đổi mới là thành quả của toàn Đảng, toàn
dân, toàn quân, trong đó có sự đóng góp to lớn của đội ngũ cán bộ, đảng viên” [2,
tr.1].
Từ giữa những năm 90 của thế kỷ XX, một số công trình nghiên cứu của văn
hóa chính trị bắt đầu xuất hiện ở nước ta. Ban đầu là những bài báo, bài tạp chí đăng
trên những tạp chí khoa học như: Tạp chí Cộng sản, Tạp chí triết học, Tạp chí
nghiên cứu lý luận, Tạp chí văn hóa-nghệ thuật…Những năm cuối thế kỷ XX xuất
hiện một vài cuốn sách viết về VHCT. Đó là: “Văn hóa chính trị Việt Nam- truyền
thống và hiện đại” của giáo sư (GS) Nguyễn Hồng Phong; “Văn hóa chính trị và
việc bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo ở nước ta hiện nay” do giáo sư, tiến sĩ
(GS.TS) Phạm Ngọc Quang chủ biên; “Vai trò của văn hóa trong hoạt động chính
trị của Đảng ta hiện nay” do GS.TS Trần Văn Bính chủ biên; và cũng phải kể đến
các tác giả như Trần Văn Giàu: “Giá trị truyền thống Việt Nam”; Hồng PhongPhạm Xuân Nam: “Văn hóa và phát triển”; Trần Quốc Vượng, Trần Ngọc Thêm:
“Cơ sở văn hóa Việt Nam”; Huỳnh Khái Vĩnh: “Văn hóa lối sống” v.v…
Trong những năm gần đây, VHCT trở thành một trong những vấn đề hấp dẫn,
lôi cuốn các nhà nghiên cứu. Ở các trường đại học đã xuất bản nhiều giáo trình có
sự phân tích thích đáng cho VHCT như: Giáo trình Chính trị học do Viện Khoa học
Chính trị thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh biên soạn, hay giáo trình
Chính trị học của Khoa Luật trường Đại Học Vinh do Phó giáo sư, Tiến sĩ, Giảng
viên cao cấp (PGS.TS.GVCC) Đoàn Minh Duệ và PGS.TS Nguyễn Đăng Dung
đồng chủ biên.
Trong thời gian gần đây, cũng đã có một số luận văn thạc sỹ (ThS), luận án
TS chuyên ngành chính trị học đã đi sâu vào đề tài VHCT. Đó là: luận văn ThS
“VHCT và những giá trị tiêu biểu của VHCT Việt Nam truyền thống” của tác giả
Lâm Quốc Tuấn; luận văn ThS “Văn hóa chính trị Việt Nam và vai trò của nó đối
với công cuộc đổi mới hiện nay” của tác giả Lê Tấn Lập; luận văn ThS “Góp phần
làm rõ khái niệm và chức năng của niềm tin chính trị” của Phạm Thị Thúy Hồng;
Luận văn ThS “Văn hóa chính trị của đội ngũ giáo viên trung học phổ thông ở
huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà tĩnh hiện nay” của Nguyễn Thị Bích Hợp; Luận văn
ThS “Tư duy lý luận của đội ngũ Hiệu trưởng các trường Tiểu học hiện nay” của Đỗ
Thị Thanh Hương; Luận văn ThS “Nâng cao chất lượng công tác tư tưởng ở Đảng
Từ cơ sở lý luận và thực tiễn, luận văn đề xuất quan điểm và giải pháp nhằm
nâng cao VHCT cho đội ngũ giáo viên THCS ở huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang,
đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục hiện nay.
Nhiệm vụ:
- Làm rõ bản chất, đặc điểm, vai trò của VHCT; sự cần thiết và những yêu
cầu nâng cao VHCT cho đội ngũ giáo viên THCS hiện nay.
- Phân tích, đánh giá thực trạng VHCT của đội ngũ giáo viên THCS ở huyện
Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang hiện nay.
- Đề xuất quan điểm và một số giải pháp nhằm nâng cao VHCT cho đội ngũ
giáo viên THCS trong cả nước nói chung và giáo viên THCS trên địa bàn huyện
Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang nói riêng.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu vấn đề VHCT của đội ngũ giáo viên THCS, qua đó làm
rõ cơ sở lý luận, thực tiễn và đề xuất quan điểm, giải pháp nâng cao VHCT cho đội
ngũ này.
Phạm vi nghiên cứu:
Khảo sát, điều tra, nghiên cứu vấn đề VHCT của đội ngũ giáo viên THCS ở
huyện Hòn đất, tỉnh Kiên giang trong giai đoạn từ 2010 đến nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận:
- Vận dụng kiến thức chính trị học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để
phân tích, làm rõ những vấn đề VHCT cũng như vai trò của nó trong hoạt động
chính trị của chủ thể chính trị; kế thừa các thành tựu nghiên cứu của những người đi
trước về VHCT; dựa trên những quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về nguồn lực
con người để phân tích nhu cầu về chủ thể chính trị theo yêu cầu cách mạng hiện
nay.
Phương pháp nghiên cứu:
Văn hoá là một khái niệm đa diện, đa nghĩa do vậy sự biện giải về văn hóa có
vô vàn những cách tiếp cận khác nhau. Nếu xét về đặc trưng văn hoá, mỗi quốc gia
đều có những nét riêng của mình. Còn về mặt địa lý, thế giới hiện tại coi như được
chia thành 2 phần Đông và Tây với ranh giới là đường nối liền chạy chéo từ lưu vực
sông Nile đến dãy Ural; theo đó văn hoá thế giới có thể phân thành hai loại hình,
văn hoá phương Đông - trọng tĩnh và văn hoá phương Tây - trọng động, tương ứng
với hai nguồn gốc nông nghiệp và nguồn gốc du mục. Văn hóa gốc nông nghiệp
trong ứng xử với môi trường tự nhiên có ý thức tôn trọng, sống hoà hợp với thiên
nhiên, lối tư duy tổng hợp, biện chứng, chủ quan, cảm tính và kinh nghiệm; ứng xử
với môi trường xã hội thì dung hợp trong tiếp nhận. Mềm dẻo hiếu hòa trong đối
phó. Văn hóa du mục luôn muốn chinh phục và chế ngự thiên nhiên, lối nhận thức
về phân tích, khách quan, lý tính và thực nghiệm, ứng xử trong xã hội theo cách độc
tôn khi tiếp nhận, cứng rắn, hiếu thắng trong đối phó. Tuy nhiên, hiểu nội hàm của
văn hoá không tách biệt rạch ròi như vậy. Có nhiều học giả gắn khái niệm văn hoá
với các nền văn minh, hoặc với thực tế về chính trị, kinh tế, tôn giáo, khoa học kỹ
thuật, đạo đức và xã hội. Nhà xã hội học Mỹ Clifford Geertz quan niệm : khái niệm
văn hoá chính là những ý nghĩa được lưu truyền trong lịch sử thể hiện trong những
hình thái hành vi, một hệ thống nhận thức được truyền giữ thể hiện cách thức mà
theo đó con người trao đổi, cư xử với nhau và phát triển nhận thức của mình về cuộc
sống.
Văn hoá là sản phẩm do con người sáng tạo, có từ thuở bình minh của xã hội
loài người. Ở phương Đông, từ văn hoá đã có trong đời sống ngôn ngữ từ rất sớm.
Trong Chu Dịch, quẻ Bi đã có từ văn và từ hoá: Xem dáng vẻ con người, lấy đó mà
giáo hoá thiên hạ (Quan hồ nhân văn dĩ hoá thành thiên hạ). Ở phương Tây, để chỉ
đối tượng mà chúng ta nghiên cứu, người Pháp, người Nga có từ kuitura. Những
chữ này lại có chung gốc Latinh là chữ cultus animi là trồng trọt tinh thần. Vậy chữ
cultus là văn hoá với hai khía cạnh: trồng trọt, thích ứng với tự nhiên, khai thác tự
nhiên và giáo dục cá thể hay cộng đồng để họ không còn là con vật tự nhiên, và họ
1943 của Đảng ta và những hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên lĩnh vực văn
hóa, tư tưởng đã đặt nền móng cho lý luận văn hóa theo quan điểm Mác – Lênin ra
đời.
Từ thực tiễn lịch sử lâu dài của dân tộc, trong tác phẩm “văn hóa đổi mới”, cố
Thủ tướng Phạm Văn Đồng viết: “Văn hóa là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử
của dân tộc, nó làm nên sức sống mãnh liệt, giúp cộng đồng các dân tộc Việt Nam
vượt qua biết bao sóng gió và thác ghềnh tưởng chừng không thể vượt qua được, để
không ngừng phát triển và lớn mạnh, viết nên những trang sử lạ lùng bởi tính kiên
cường trong hoạn nạn, bởi khí phách hào hùng trong giữ nước và dựng nước” [12,
tr.9] … “Cốt lõi của sức sống đó là văn hóa với ý nghĩa bao quát và cao đẹp nhất
của nó, bao gồm cả hệ thống giá trị: tư tưởng và tình cảm, đạo đức và phẩm chất, trí
tuệ và tài năng, sức nhạy cảm tiếp thụ cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ bản lĩnh
và bản sắc của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu để tự bảo vệ mình
và không ngừng lớn mạnh” [12, tr.10].
Là người am hiếu văn hoá phương Đông và phương Tây, Chủ Tịch Hồ Chí
Minh đã đưa ra định nghĩa về văn hóa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc
sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp
luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng
ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát
minh đó là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng
với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu
đời sống và đòi hỏi sự sinh tồn” [22, tr. 431]. Hồ Chí Minh nêu rõ, hoạt động sáng
tạo văn hóa là hoạt động có ý thức có mục đích của loài người. Văn hóa với quan
niệm rộng, bao gồm toàn bộ những giá trị vật chất, những giá trị tinh thần và
phương thức sinh hoạt.
Trong văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta tiếp tục khẳng
định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội vừa là mục tiêu, vừa là động lực
phát triển kinh tế - xã hội. Văn hóa khơi dậy tiềm năng, phát huy sức sáng tạo của
ngừng lớn mạnh.
1.1.1.2. Khái niệm chính trị và mối quan hệ chính trị - văn hóa nhìn từ góc
độ chính trị học
Chính trị xuất hiện khi xã hội phân chia thành giai cấp và hình thành nhà
nước. Thuật ngữ chính trị xuất phát từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là những công việc
liên quan tới nhà nước, là nghệ thuật cai trị nhà nước, là phương pháp nhất định để
thực hiện các mục tiêu của quốc gia.
Chính trị là lĩnh vực của đời sống xã hội, bao gồm các hoạt động và các mối
quan hệ liên quan đến các công việc và giải quyết các vấn đề chung của toàn xã hội.
Đây là biểu hiện bề ngoài của chính trị. Thực chất, chính trị là mối quan hệ, sự
tương tác giữa chủ thể xã hội với toàn bộ các tổ chức và thành viên trong xã hội với
quyền lực chi phối chứa đựng bên trong đó.
Trong các công việc chung của xã hội thì công việc của nhà nước chiếm vị trí
quan trọng hàng đầu. Trong xã hội có giai cấp, giai cấp chiếm ưu thế luôn luôn
muốn giành lấy vai trò thực hiện các công việc chung để xác lập và duy trì địa vị
thống trị của giai cấp mình. Chính vì vậy, chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng, thực
chất chính trị là quan hệ giữa các giai cấp, là những hoạt động xoay quanh vấn đề
giành, giữ chính quyền và sử dụng quyền lực nhà nước.
Từ thời cổ đại cho đến nay, nhiều nhà tư tưởng đã đưa ra nhiều quan niệm
khác nhau về phạm trù chính trị:
Nhà triết học cổ đại Hy Lạp – Platon đã cho rằng: “chính trị là sự cai trị, đó là
nghệ thuật cai trị những con người với sự bằng lòng của họ, theo ông, cai trị bằng
sức mạnh là độc tài còn cai trị bằng thuyết phục mới đích thực là chính trị” [10,
tr.7].
Nhà xã hội học Đức đầu thế kỷ XX – Maxweber, quan niệm: “chính trị là
khát vọng tham gia vào quyền lực hay ảnh hưởng đến sự phân chia quyền lực giữa
các quốc gia, bên trong quốc gia, hay giữa các tập đoàn người trong quốc gia. Chính
trị là những mong muốn và những tương tác khách quan của cộng đồng người đối
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đời sống xã hội có bốn lĩnh vực cơ bản là kinh
tế, chính trị, văn hóa và xã hội, phải coi các lĩnh vực đều quan trọng như nhau. Chủ
tịch Hồ Chí Minh còn chỉ rõ mối quan hệ giữa chính trị và văn hóa, theo Người,
chính trị và văn hóa tồn tại trong thể thống nhất: Chính trị với văn hóa, văn hóa với
chính trị có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Sau khi giành được độc lập Người đã
nhấn mạnh:… “Xưa kia chính trị bị đàn áp, nền văn hóa của ta vì thế không nảy
sinh được. Nay nước ta đã độc lập, tinh thần được giải phóng, cần có một nền văn
hóa hợp với khoa học, hợp với nguyện vọng của nhân dân” [5,tr.10].
Vì thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “văn hóa không đứng ngoài mà ở
trong kinh tế và chính trị”. Khái niệm “ở trong” theo Người, chính là mối quan hệ
toàn diện và hữu cơ của văn hóa với chính trị, chính trị với văn hóa. Hoạt động văn
hóa nào cũng mang tính chính trị và mọi hoạt động chính trị đều mang tính văn hóa,
văn hóa phải trở thành động lực và mục tiêu của hoạt động chính trị.
Cùng với sự phát triển của đời sống chính trị, những kinh nghiệm chính trị
được tích lũy ngày càng phong phú và sâu rộng. Một trong những động lực quan
trọng thúc đẩy xã hội phát triển chính là văn hóa. Văn hóa là động lực của sự phát
triển xã hội cũng như sự phát triển hiện thực chính trị. Nhu cầu nâng cao hiệu quả
hoạt động chính trị đã khái quát hóa kinh nghiệm chính trị thành lý luận chính trị, từ
đó tạo điều kiện cho sự tìm tòi, tiếp cận đúng quan niệm văn hóa chính trị.
1.1.1.3. Khái niệm văn hóa chính trị
VHCT là một bộ phận, một phương diện của văn hóa trong xã hội có giai cấp
(có chính trị), nhưng điều đó không có nghĩa VHCT là phép cộng giản đơn giữa văn
hóa với chính trị, mà đó là sự thẩm thấu, xâm nhập vào nhau, chuyển hóa lẫn nhau
giữa văn hóa với chính trị, chính trị với văn hóa.
Nếu hiểu VHCT như là những giá trị phản ánh quá trình tìm kiếm, thử
nghiệm những phương thức, con đường để nâng cao chất lượng, hiệu quả và góp
phần nhân đạo hóa các quá trình chính trị thì từ lâu nó đã là đối tượng nghiên cứu
của nhiều nhà tư tưởng lớn thời cổ đại như: Platôn, Aristốt... (ở phương Tây);
gắn liền với các chế độ chính trị, xã hội khác nhau. Vì vậy khó có thể đưa ra một
khẳng định thống nhất. Nhìn chung, VHCT là khái niệm dùng chỉ mối quan hệ giữa
truyền thống xã hội (thường được gọi là văn hóa) đối với hành vi tham gia chính trị
của con người, tức là giữa văn hóa và sự vận hành của thể chế chính trị. Văn hóa
gắn liển với dân tộc, phản ánh bản sắc độc đáo của dân tộc. Mỗi dân tộc đều có nền
văn hóa riêng. Trong thực tế cùng một chế độ chính trị, nhưng ở mỗi nước khác
nhau thì chế độ ấy có những biểu hiện khác nhau, bởi vì người dân (nhất là người
lãnh đạo nhà nước) tham gia hoạt động chính trị ở từng nước chịu ảnh hưởng sâu
sắc bởi truyền thống văn hóa của dân tộc mình, vì vậy hoạt động chính trị của họ có
sắc thái riêng phản ánh nền văn hóa đó. Mỗi dân tộc có truyền thống VHCT riêng,
nó tác động to lớn đến sự phát triển chính trị của dân tộc đó.
Như vậy, VHCT là một hệ thống giá trị văn hóa được con người tiếp nhận và
lựa chọn, biến nó thành nhu cầu, thành vũ khí, phương tiện trong hoạt động chính
trị. VHCT là tổng hợp những giá trị vật chất và tinh thần được hình thành trong thực
tiễn chính trị. Nó chi phối hoạt động của các cá nhân, các nhà chính trị và định
hướng hoạt động của họ trong việc tham gia vào đời sống chính trị.
1.1.2. Cấu trúc, đặc điểm, chức năng của văn hóa chính trị
1.1.2.1. Cấu trúc của văn hóa chính trị
Cấu trúc của VHCT là một hệ thống giá trị bao gồm nhiều nhân tố cấu thành,
chúng có quan hệ hữu cơ với nhau, tác động qua lại và ảnh hưởng lẫn nhau.
Tri thức, sự hiểu biết, giác ngộ khoa học về chính trị
Đây là giá trị nền tảng của VHCT, được định lượng một cách phổ biến bởi tri
thức chính trị. Tri thức chính trị là trình độ học vấn và sự hiểu biết của con người về
chính trị. VHCT luôn cần và cần phải có học vấn chính trị. Tuy học vấn và văn hóa
là hai khái niệm không đồng nhất với nhau nhưng chúng có mối quan hệ chặt chẽ
với nhau. Trình độ học vấn giúp cho các chủ thể hiểu biết và nhận thức rõ hơn về
các giá trị văn hóa, từ đó xác định các nguyên tắc, lý tưởng sống cho bản thân mình,
lúc đó trình độ học vấn đã trở thành một khía cạnh của nhân cách văn hóa. Ngược
thức lý luận, nhưng nó chỉ trở thành giá trị VHCT khi nó kết hợp với tri thức, lý
tưởng và niềm tin chính trị. Tuyệt đối hóa kinh nghiệm là sai lầm, “bệnh kinh
nghiệm” sẽ trói cột con người, không dám thừa nhận cái mới, áp dụng kinh nghiệm
một cách máy móc, chủ quan trong giải quyết các vấn đề chính trị. VHCT sẽ là
“vòng kim cô” tốt nhất để điều khiển và phát huy tốt những giá trị quí báu của kinh
nghiệm chính trị. Vì vậy, tuyệt đối hóa hoặc phủ nhận vai trò của yếu tố nào cũng
đều hạ thấp giá trị và trình độ VHCT. Nếu văn hóa là thước đo trình độ hiểu biết thì
VHCT phải được xem là trình độ giác ngộ khoa học về chính trị. Sự hiểu biết đúng
đắn, khoa học về chính trị cùng với sự hỗ trợ quan trọng của kinh nghiệm chính trị,
kinh nghiệm sống của các chủ thể chính trị giúp họ nâng cao tính tự giác trong hoạt
động thực tiễn.
Trong đời sống chính trị hiện đại, sự đa dạng, phức tạp về chủ thể chính trị,
sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ và trình độ dân trí ngày càng cao,
nền kinh tế phát triển theo xu hướng xã hội hóa và toàn cầu hóa, cùng với sự phát
triển của nhân loại lấy mục đích nhân đạo, nhân văn, dân chủ làm định hướng lý
tưởng mà nội dung cơ bản là giải phóng mọi năng lực sáng tạo của con người ở cấp
độ cá nhân lẫn xã hội đã tạo ra những phương thức, những công cụ để giành, giữ và
thực thi quyền lực chính trị phong phú hơn, trí tuệ hơn và nhân đạo hơn.
Niềm tin, tình cảm và lý tưởng chính trị
Niềm tin và tình cảm chính trị được hình thành bằng những con đường khác
nhau, ở mỗi đối tượng cụ thể trong một không gian và thời gian chính trị nhất định.
Niềm tin và tình cảm chính trị là sự bộc lộ những phẩm chất, sắc thái cá nhân đối
với lý tưởng, chế độ chính trị, nhà nước, chính đảng, đối với các cơ quan lãnh đạo,
các nhà lãnh đạo... Nếu là kết quả của nhận thức đúng đắn, sâu sắc về lý tưởng
chính trị đã lựa chọn, không chịu bất cứ sự áp đặt, cưỡng bức nào thì niềm tin chính
trị sẽ mang tính ổn định và bền vững, cả khi đời sống chính trị thuận lợi, cả trong
những lúc biến động nhiều trắc trở, khó khăn. Thực tiễn cách mạng nước ta dưới sự
lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam là ví dụ sinh động về điều này. Với niềm tin