BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
PHẠM VĂN TƯƠNG
VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM DẠY HỌC TÍCH HỢP MÔN
HÓA HỌC PHẦN ĐẠI CƯƠNG VÔ CƠ VÀ PHI KIM
LỚP 11 VỚI CÁC MÔN HỌC KHÁC Ở TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NHẰM NÂNG CAO
HIỆU QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN - 2015
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
PHẠM VĂN TƯƠNG
VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM DẠY HỌC TÍCH HỢP MÔN
HÓA HỌC PHẦN ĐẠI CƯƠNG VÔ CƠ VÀ PHI KIM
LỚP 11 VỚI CÁC MÔN HỌC KHÁC Ở TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NHẰM NÂNG CAO
HIỆU QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH
Chuyên ngành: Lí luận và Phương pháp dạy học bộ môn hóa học
Mã số: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
3
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
..............................................................................................................1
1. Lí do chọn đề tài ...................................................................................................1
2. Mục đích nghiên cứu
........................................................................................3
3. Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu .......................................................3
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
........................................................................................3
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu lý luận
.............................................................................4
........................................................................................4
5.2. Nghiên cứu thực tiễn ........................................................................................4
5.3. Xử lý thống kê: ...................................................................................................4
6. Giả thuyết khoa học
........................................................................................4
1.5.1. Dạy học theo dự án ......................................................................................17
1.5.1.1. Khái niệm .................................................................................................17
1.5.1.2. Đặc điểm của DHDA
...........................................................................18
1.5.1.3. Tiến trình dạy học dự án ...........................................................................19
1.5.1.4. Ưu, nhược điểm của dạy học dự án
4
.....................................................22
1.5.2. Dạy học với hỗ trợ của công nghệ thông tin
1.6. Thực trạng của việc dạy học tích hợp
..........................................23
.....................................................24
1.6.1.Các nội dung dạy học tích hợp mà Bộ Giáo dục yêu cầu ...............................24
1.6.2.Thực trạng dạy học tích hợp ở tỉnh Nghệ An
..........................................26
Tiểu kết chương 1 .................................................................................................28
CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM DẠY HỌC TÍCH HỢP MÔN HÓA
HỌC PHẦN ĐẠI CƯƠNG VÔ CƠ VÀ PHI KIM LỚP 11 VỚI CÁC MÔN HỌC
KHÁC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NHẰM NÂNG CAO HIỆU
QUẢ
....................64
Tiểu kết chương 2 .................................................................................................77
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM ................................................................78
3.1. Mục đích thực nghiệm ......................................................................................78
3.2. Nhiệm vụ thực nghiệm ......................................................................................78
3.3. Tiến trình thực nghiệm
.......................................................................78
3.3.1. Đối tượng thực nghiệm
.......................................................................78
3.3.2. Kế hoạch thực nghiệm
...........................................................................79
3.3.3. Tiến hành thực nghiệm
...........................................................................79
5
3.4. Kết quả thực nghiệm và xử lí kết quả thực nghiệm ..........................................80
3.4.1 Kết quả điều tra thầy cô giảng dạy bộ môn Hóa học ở trường THPT
……80
3.4.2. Kết quả điều tra học sinh trước khi vận dụng quan điểm dạy học tích hợp
CN
CNTT
DH
DHTH
DHDA
ĐC
GV
HS
KCN
KH
KH & CN
KHTN
KHXH
KL
NX
NXB
PP
PPDH
SGK
THCS
THPT
TN
Công nghệ
Công nghệ thông tin
Dạy học
Dạy học tích hợp
Dạy học dự án
Đối chứng
Giáo viên
Trong đó, giáo dục phổ thông sẽ đổi mới căn bản, toàn diện về mục tiêu, nội dung
và phương pháp dạy học. Số lượng môn học ở cấp trung học phổ thông (THPT) sẽ
giảm từ 13 hiện nay xuống còn 6 môn, nhiều nội dung trong các môn học hiện nay
sẽ được tích hợp.
Thứ trưởng Bộ GD& ĐT Nguyễn Vinh Hiển cho biết khi đã xác định được mục
tiêu chung của giáo dục là phát triển con người một cách toàn diện thì cần phải áp
dụng nguyên lý tích hợp trong dạy học. Theo ông: “ Chương trình cần quan tâm hơn
đến những nội dung dạy học gắn với cuộc sống, phải tạo điều kiện, phải yêu cầu,
phải kiểm tra đánh giá kết quả học sinh vận dụng kiến thức vào giải quyết các vấn
đề gặp phải trong học tập và trong cuộc sống hàng ngày. Bất kì một vấn đề gì của
cuộc sống khi giải quyết cũng cần huy động tổng hợp đồng thời nhiều kiến thức
khác nhau, do đó cần phải quán triệt phương châm dạy học tích hợp.”
Mặt khác, những học sinh (hay những nhóm học sinh) khác nhau sẽ có năng lực
riêng, sở thích riêng, điều kiện riêng. Để phù hợp riêng, cần phải dạy học phân hóa.
Khoa học càng phát triển cao, càng tiếp cận ngành nghề chuyên sâu thì càng đòi hỏi
việc dạy học phân hóa. Về thiết kế nội dung dạy học, điều đó đòi hỏi phải có những
môn học hay những chuyên đề học tập khác nhau cho học sinh tự chọn.
Đổi mới chương trình và sách giáo khoa phổ thông, tuy có nhiều ý kiến khác
nhau nhưng các chuyên gia giáo dục đều cho rằng chương trình và sách giáo khoa
hiện nay cần được xây dựng theo hướng phát triển năng lực người học, đảm bảo hài
hòa giữa dạy chữ, dạy người và định hướng nghề nghiệp.
8
Trước đó, tại Hội nghị “Tham vấn chuyên gia về chương trình, sách giáo khoa
phổ thông” do Ủy ban Văn hóa, Giáo dục thanh niên, thiếu niên và nhi đồng của
Quốc hội tổ chức, các chuyên gia đã bàn luận quan điểm về dạy học phân hóa và
dạy học tích hợp, phương thức dạy học phân hóa đối với giáo dục phổ thông trong
giai đoạn tới và phương án tích hợp trong chương trình giáo dục phổ thông sau năm
2015. Nói về ưu điểm của đổi mới chương trình, sách giáo khoa theo hướng tích
+ Nghiên cứu thực trạng tích hợp kiến thức môn Vật lý và Sinh học với
môn Hóa học 11 - THPT.
+ Nghiên cứu những nội dung bài học Hóa học -11 có thể tích hợp môn
Vật lý và Sinh học.
- Thiết kế một số chủ đề dạy học tích hợp phần đại cương vô cơ và phi kim
hóa học 11.
- Thiết kế bộ công cụ đo kết quả học tập và năng lực vận dụng kiến thức vào
thực tiễn của học sinh.
- Thực nghiệm sư phạm để nghiên cứu tác động của DHTH đến kết quả học
tập và phát triển năng lực vận dụng kiến thức cho HS.
5. Phương pháp nghiên cứu
Phối hợp các phương pháp nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu phân tích, tổng hợp các tài liệu về chủ trương, đường lối phát
triển giáo dục của Đảng và nhà nước Việt Nam, về tâm lí học, giáo dục học, Lý luận
và phương pháp dạy học.
- Nghiên cứu chương trình, sách giáo khoa các môn học Hóa học, Vật lý, Sinh
học, Địa lý, các tài liệu về lý luận dạy học hóa học, về tổ chức hoạt động nhận thức
của học sinh trong dạy học Hóa học ở trường phổ thông.
- Căn cứ vào lý luận về phương pháp dạy học, xây dựng một số chủ đề dạy
học tích hợp Khoa học tự nhiên trong dạy học hóa học 11.
- Thu thập tài liệu và truy cập thông tin trên internet có liên quan đến đề tài.
- Đọc, nghiên cứu và xử lý các tài liệu.
5.2. Nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát: Quan sát, trao đổi, trò chuyện, đàm thoại….với GV,
HS về các vấn đề có liên quan đến đề tài.
- Phương pháp điều tra: Điều tra thực tiễn dạy học hóa học ở THPT.
- Phương pháp chuyên gia: Trao đổi với các chuyên gia có uy tín trong lĩnh
vực dạy học hoá học.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC DẠY HỌC TÍCH
HỢP MÔN HÓA HỌC LỚP 11 VỚI CÁC MÔN HỌC KHÁC
1.1. Nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học trên thế giới và Việt Nam
1.1.1. Trên thế giới
Đổi mới giáo dục đang diễn ra trên quy mô toàn cầu. Trước sự phát triển
mạnh mẽ của nền kinh tế, khoa học và công nghệ đã tạo nên những thay đổi sâu sắc
trong giáo dục, từ quan niệm về chất lượng giáo dục, xây dựng nhân cách người học
đến cách tổ chức quá trình và hệ thống giáo dục. Các Quốc gia, từ những nước đang
phát triển đến những nước phát triển đều nhận thức được vai trò và vị trí hàng đầu
của giáo dục, đều phải đổi mới giáo dục để có thể đáp ứng một cách năng động hơn,
hiệu quả hơn, trực tiếp hơn những nhu cầu của sự phát triển đất nước. Giáo dục
được xem là chiếc đòn bẩy, là “công cụ chủ yếu tạo ra sự phát triển”. “Giáo dục
chính là chiếc chìa khóa mở vào cánh cửa tương lai”, một xã hội được xây dựng
trên nền tảng tri thức. Khẩu hiệu “hãy cứu lấy nền kinh tế bằng giáo dục” đã được
nhiều Quốc gia nêu cao.
Kinh nghiệm thành công của các quốc gia cho thấy, các chính phủ ở đó đều
coi giáo dục là quốc sách hàng đầu.
Nhật Bản - một quốc gia nằm ngoài khơi Thái Bình Dương trong khu vực
Đông Bắc Á, với dân số đông nhưng Nhật Bản lại không có nguồn tài nguyên thiên
nhiên nào đáng kể, hơn nữa lại chịu rất nhiều thiên tai như: Động đất, núi lửa, giông
bão…. Nhưng trong suốt chiều dài lịch sử Nhật Bản đã nhiều lần để nhân loại
chứng kiến những thay đổi thần kì.
Theo [42], tác giả cho rằng Nhật Bản đã 4 lần đổi mới tư duy và cùng với nó
là 4 lần đổi mới giáo dục. Thực tế lịch sử Nhật Bản cho thấy, cứ sau mỗi lần như
vậy, nước này lại mạnh lên rất nhiều lần.
Công cuộc đổi mới lần thứ nhất: Tiếp thu nền giáo dục Trung Hoa
Sau khi nhận thấy Trung Hoa đang là trung tâm văn minh thế giới lúc này,
Nhật Bản đã nhanh chóng quyết định học tập, tiếp thu bằng mọi giá.
Minh Trị Duy Tân và công cuộc đổi mới giáo dục lần thứ 2
Trong tiến trình lịch sử lâu dài, Nhật Bản đã có nhiều bước chuyển vĩ đại. Có
trong đó, giáo dục là chìa khóa giúp cho nền kinh tế Nhật Bản đạt được những
thành tựu to lớn và đó là động lực thúc đẩy nền kinh tế - xã hội Nhật Bản phát triển.
Trong quá trình xây dựng và phát triển, Mỹ đặc biệt quan tâm đến việc đầu tư
cho giáo dục và nước Mỹ có một nền giáo dục hàng đầu trên thế giới.
- Chương trình cấp 1 - 2 của Mỹ cũng bao gồm kiến thức tổng quát ở trình độ
thiếu nhi. Lớp học có khoảng 20 - 30 HS do đó thầy cô biết rõ từng HS và khuyến
khích HS tự suy nghĩ, chất vấn, phát biểu ý kiến dù đúng hay sai, thuyết trình, và
14
tham gia vào nhiều hoạt động nhóm để phát huy phong cách con người và khả năng
giao tiếp từ bé.
- Chương trình cấp 3 của Mỹ theo hệ thống tín chỉ, có nhiều môn tự chọn
(30% của chương trình), và cho HS rất nhiều lựa chọn như: Khi nào sẽ học một
môn, môn nào hợp sở thích và khả năng, trình độ nào (học ra làm công nhân, học để
vào trường tiểu bang hay học để có thể được nhận vào Harvard), những môn nào
hợp một chuyên ngành ở Đại học, thậm chí có thể kéo dài hay rút ngắn thời gian ra
trường. Chương trình học đầy linh động này thích ứng được với sự khác biệt về
thông minh, tài chính, sự trưởng thành về mặt tâm lý, hoàn cảnh gia đình của mỗi
HS, và từ đó phát huy được sự đam mê học và khả năng sáng tạo.
- Học sinh Mỹ được khuyến khích tham khảo, chất vấn, thảo luận và phát
biểu những gì mình thích hay bức xúc mà không bị chính quyền, nhà trường hay
thầy, cô cấm đoán. Trường thường có nhiều hoạt động nhóm do HS làm chủ như
hiệp hội trong và liên trường. HS tự chọn lãnh đạo của hiệp hội qua tranh cử, và
thực tập khả năng giao tiếp và lãnh đạo ở tuổi thiếu niên.
Tại Singapore: [22][41]
Chương trình của THCS, THPT được thiết kế theo 3 nhóm môn chủ yếu:
- Các môn học về thể lực, cá nhân và xã hội như: Giáo dục y tế và Thể dục thể
thao, Phát triển sự giao tiếp, Học tập cá nhân, Giáo dục công dân và bổn phận công
về năng lực học tập, không nhằm đánh giá độ thông minh hay năng lực trí tuệ của
HS mà chỉ tập trung vào việc đánh giá những gì HS được học từ trường học và
mình biết) gồm: tiếng Anh, Toán, đọc hiểu, khoa học và viết luận. Giáo dục
Singapore coi bài kiểm tra chỉ là một “lát cắt”. Một học sinh được đánh giá đủ tiêu
chuẩn là người phải đảm bảo sự phát triển toàn diện, nghĩa là phải hội đủ các yếu tố
về sức khỏe, giao tiếp, có những suy nghĩ nhân văn, biết làm việc theo nhóm….
1.1.2. Ở Việt Nam
Với quan điểm “giáo dục cùng với khoa học và công nghệ (KH & CN) là quốc
sách hàng đầu”, Đảng và Nhà nước đã đưa ra nhiều nghị quyết về phát triển giáo
dục, đào tạo KH & CN khẳng định tầm quan trọng, định hướng cũng như xác định
mục tiêu, nhằm không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo.
Trước hết cần nhận thức sâu sắc tính cách mạng và KH của quá trình đổi
mới căn bản và toàn diện nền giáo dục. Đây không phải là những sửa đổi, điều
chỉnh nhỏ, đơn lẻ, cục bộ, mang tính bề mặt. Đây là quá trình đổi mới “đụng” tới
16
tầng sâu bản chất của hệ thống giáo dục, làm thay đổi căn bản về chất của hệ
thống giáo dục, để đưa hệ thống giáo dục lên một trình độ mới, hiệu quả hơn,
chất lượng hơn.
Bối cảnh đổi mới Giáo dục và đào tạo [30]
Những thuận lợi
Đất nước ổn định về chính trị, thành tựu phát triển kinh tế - xã hội trong 10
năm qua, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 với yêu cầu tái cơ cấu
nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng, cùng với Chiến lược và Quy hoạch
phát triển nhân lực giai đoạn 2011 - 2020 là những tiền đề cơ bản để thực hiện đổi
mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam.
Đảng, Nhà nước và toàn xã hội đặc biệt quan tâm, chăm lo phát triển giáo dục
và đào tạo, mong muốn đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục, tận dụng cơ hội
phát triển đất nước trong giai đoạn “cơ cấu dân số vàng” và hội nhập quốc tế mạnh
Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi,
cấp thiết, từ tư duy, quan điểm đến mục tiêu, hệ thống, chương trình giáo dục
(nội dung, phương pháp, thi, kiểm tra, đánh giá), các chính sách, cơ chế và các
điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục; đổi mới ở tất cả các cấp học và trình độ
đào tạo, ở cả Trung ương và địa phương, ở mối quan hệ giữa nhà trường, gia
đình và xã hội. Đổi mới để tạo ra chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng và hiệu
quả giáo dục, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc, nhu cầu học tập của nhân dân. Đó là [30]:
- Đổi mới tư duy, nhận thức, triết lý về giáo dục, về sứ mạng của giáo dục.
- Đổi mới quan điểm phát triển giáo dục.
- Đổi mới mục tiêu giáo dục.
- Đổi mới và lành mạnh hóa môi trường giáo dục.
- Đổi mới nội dung và phương thức giáo dục.
- Đổi mới cơ chế phát triển giáo dục.
- Đổi mới động lực - nguồn lực phát triển giáo dục.
- Đổi mới tổ chức chỉ đạo thực hiện quá trình đổi mới giáo dục.
Đổi mới toàn diện nền giáo dục được hiểu là đổi mới về tất cả các mặt, các
yếu tố cấu thành hệ thống giáo dục và các quá trình giáo dục như:
- Đổi mới và hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc gia.
- Đổi mới ở tất cả các cấp, bậc học, các hình thức giáo dục, đào tạo.
- Đổi mới đồng bộ về nội dung, chương trình và phương pháp giáo dục, đào tạo.
Mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo tới năm 2030 [40]
Giáo dục phổ thông tập trung nâng cao dân trí, phát hiện và bồi dưỡng năng
khiếu, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, định hướng nghề nghiệp cho
18
HS. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục đạo đức, lối
sống, kỹ năng, ngoại ngữ (chủ yếu là tiếng Anh), tin học, năng lực thực hành và
vận dụng kiến thức vào thực tiễn.
quá trình học tâp tương lai, hoặc hòa nhập HS vào cuộc sống lao động. Khoa sư
phạm tích hợp làm cho quá trình học tập có ý nghĩa. [32]
Dạy học tích hợp khoa học được UNESCO định nghĩa là “một cách trình
bày các khái niệm và nguyên lí khoa học cho phép diễn đạt sự thống nhất cơ bản
của tư tưởng khoa học, tránh nhấn quá mạnh hoặc quá sớm sự sai khác giữa các
lĩnh vực khoa học khác nhau” (Hội nghị phối hợp trong chương trình của
UNESCO, Paris 1972).
Từ góc độ lý luận DH, theo Nguyễn Văn Khải: “Dạy học tích hợp tạo ra các
tình huống liên kết tri thức các môn học, đó là cơ hội phát triển các năng lực của
học sinh. Khi xây dựng các tình huống vận dụng kiến thức, học sinh sẽ phát huy
được năng lực tự lực, phát triển tư duy sáng tạo. Dạy học tích hợp các khoa học sẽ
làm giảm trùng lặp nội dung dạy học các môn học, việc xây dựng chương trình các
môn học theo hướng này có ý nghĩa quan trọng làm giảm tình trạng quá tải của nội
dung học tập, đồng thời hiệu quả dạy học được nâng lên. Nhất là trong bối cảnh
hiện nay, do đòi hỏi của xã hội, nhiều tri thức cần thiết mới đều muốn được đưa
vào nhà trường” [16]
Trong DH các bộ môn, TH được hiểu là sự kết hợp, tổ hợp các nội dung từ các
môn học, lĩnh vực học tập khác nhau (theo cách hiểu truyền thống từ trước tới nay)
thành một “môn học” mới hoặc lồng ghép các nội dung cần thiết vào những nội
dung vốn có của môn học. TH là một trong những quan điểm giáo dục đã trở thành
xu thế trong việc xác định nội dung DH trong trường phổ thông và trong xây dựng
chương trình môn học ở nhiều nước trên thế giới. Quan điểm TH được xây dựng
trên cơ sở những quan niệm tích cực về quá trình học tập và quá trình DH.
1.3. Mục tiêu dạy học tích hợp
- Dạy học TH làm cho quá trình học tập có ý nghĩa bằng cách gắn học tập với
cuộc sống hàng ngày, tiến hành trong quan hệ với các tình huống cụ thể mà HS sẽ
gặp sau này, những tình huống có ý nghĩa trong cuộc sống, hòa nhập thế giới học
đường với cuộc sống.
20
một số nội dung của môn học có liên quan tới vấn đề tích hợp, song không nêu rõ
trong nội dung của bài học.
21
Trong trường hợp này GV phải khai thác kiến thức môn học và liên hệ chúng
với các nội dung của vấn đề cần tích hợp.
Các dạng dạy học tích hợp:
– Tích hợp, hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập
của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy
học.
– Tích hợp các bộ môn, quá trình xích gần và liên kết các ngành khoa học lại
với nhau trên cơ sở những nhân tố, những quy luật giống nhau, chung cho các bộ
môn, ngược với quá trình phân hoá chúng.
– Tích hợp chương trình, tiến hành liên kết, hợp nhất nội dung các môn học có
nguồn tri thức khoa học và có những quy luật chung, gần gũi nhau.
– Tích hợp giảng dạy, tiến hành quá trình dạy học theo hướng liên kết, lồng
ghép những tri thức khoa học, những quy luật chung, gần gũi nhau nhằm đạt yêu
cầu trang bị cho người học có cách nhìn bao quát đối với nhiều lĩnh vực khoa học
có chung đối tượng nghiên cứu, đồng thời nắm được các phương pháp xem xét vấn
đề một cách logic, biện chứng.
– Tích hợp học tập, hành động liên kết học tập cùng một lần những kiến thức
khác nhau và những kỹ năng khác nhau về cùng một chủ đề giáo dục.
– Tích hợp kiến thức, hành động liên kết, nối liền các tri thức khoa họckhác
nhau thành một tập hợp kiến thức thống nhất.
– Tích hợp kĩ năng, tiến hành liên kết rèn luyện hai hoặc nhiều kĩ năngthuộc
cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực gần nhau để nắm vững một thể
Xuất phát từ những ưu điểm của dạy học tích hợp chúng tôi nhận
thấy, dạy học tích hợp là cần thiết, nó là xu hướng của lý luận dạy học và
đã được nhiều nước trên thế giới thực hiện.
Các PPDH truyền thống như thuyết trình, đàm thoại, luyện tập luôn là những
PP quan trọng trong dạy học (DH). Đổi mới PPDH không có nghĩa là loại bỏ các
PPDH truyền thống quen thuộc mà cần bắt đầu bằng việc cải tiến để nâng cao hiệu
quả và hạn chế nhược điểm của chúng. Tuy nhiên, các PPDH truyền thống có
những hạn chế tất yếu, vì thế bên cạnh các PPDH truyền thống cần kết hợp sử dụng
các PPDH mới, đặc biệt là những PP và kỹ thuật DH phát huy tính tích cực và sáng
tạo của HS.
Những đặc điểm của PPDH mới:
- Dạy học thông qua tổ chức hoạt động học tập của HS.
23
- Dạy học chú trọng PP tự học.
- Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác.
- Kết hợp đánh giá của GV với tự đánh giá của HS.
Có thể so sánh đặc trưng của PPDH truyền thống và PPDH mới như sau:
Bảng 1.1. So sánh PPDH truyền thống và PPDH mới
Qua
n niệm
Dạy học truyền thống
Các mô hình dạy học mới
- Học là quá trình tiếp
- Học là quá trình kiến tạo,
dùng đến.
tại và tương lai. Những điều đã học
cần thiết, bổ ích cho bản thân học
Nội
sinh và cho sự phát triển xã hội.
Từ nhiều nguồn khác nhau: SGK,
Từ SGK và GV.
dung
GV, các tài liệu KH phù hợp, thí
nghiệm, thực tế…gắn với:
- Vốn hiểu biết, kinh nghiệm và nhu
cầu của HS.
24
- Tình huống thực tế, bối cảnh và
môi trường địa phương.
- Những vấn đề HS quan tâm.
Phư
ơng pháp
- Các PP diễn giảng,
- Các PP tìm tòi, điều tra,
việc xác định mục đích, lập kế hoạch, đến việc thực hiện dự án, kiểm tra, điều
chỉnh, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện. GV là người tổ chức, hướng dẫn HS
thực hiện dự án.
1.5.1.2. Đặc điểm của DHDA
Có thể cụ thể hoá các đặc điểm của DHDA như sau:
- Định hướng thực tiễn: Chủ đề của dự án xuất phát từ những tình huống của
thực tiễn xã hội, thực tiễn nghề nghiệp cũng như thực tiễn đời sống. Nhiệm vụ dự
án cần chứa đựng những vấn đề phù hợp với trình độ và khả năng của người học.
- Có ý nghĩa thực tiễn xã hội: Các dự án học tập góp phần gắn việc học tập
25