Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Đầu tư là một lĩnh vực có từ rất lâu nhơng thực sự để nó mang lại
hiệu quả cao thì đó là vấn đề mà tất cả các quốc gia quan tâm. Không chỉ
riêng đối với các nước phát triển mà cả những nước dang phát triển đầu
tư là nhân tố quan trọng nhất để thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh
tế. Đồng thời là đầu tư tác động đến việc chuyển dịch cơ câu của mỗi
quốc gia. Vì vậy, xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lí là một trong những vấn
đề hết sức quan trọng trong vấn chiến lược phát triển của mỗi quốc gia.
điều này còn có ý nghĩa to lớn đối với Việt Nam chúng ta. Trong bối cảnh
toàn cầu hóa như hiện nay , xu thế hội nhập vào khu vực và thế giới là tất
yếu. Mỗi quốc gia đều phải tự chủ động tìm lợi thế của mình trong quá
trình hợp tác phát triển.
Thực hiện đường lối đổi mới của đảng , tư năm 1986 tới nay , rõ
nhất là từ năm 1990 , cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng tích
cực. Tỷ trọng các ngành công ngiệp và dịch vụ trong GDP của toàn nền
kinh tế nước ta đã và của các vùng tăng nhanh chiếm tỷ trọng lớn , tỷ
trọng của nông ngiệp có xu hướng giảm dần , cơ cấu các thành phần kinh
tế có xu hướng thay đổi theo hướng hợp lí hơn. Những chuyển biến đó đã
góp phần tạo đà cho nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng nhanh và ổn định.
Tuy nhiên, những tiến bộ trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng
mới chỉ là bước đầu, và nhìn chung sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn
chậm. Cho đến nay, nước ta vẫn là nước nông nghiệp, dân cư sống ở
nông thôn và lao động nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn. Để đạt được
mục tiêu đến năm 2020, “ đưa nước ta cơ bản trở thàn một nước công
nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý,…” mà
Đại hội VIII của Đảng đề ra, thì còn nhiều vấn đề cần được tiếp tục
nghiên cức và có giải pháp sát thực.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Để có một cơ cấu kinh tế ngày càng hợp lý như hiện nay không thể
không kể đến vai trò của đầu tư. Đầu tư được coi như một công cụ hữu
Đầu tư là sự hi sinh hay bỏ ra các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành
các hoạt động nhằm đạt được các kết quả , thực hiện đươc các mục tiêu
nhất định trong tương lai.
Đầu tư là quá trình bỏ vốn để tạo nên cũng như để vận hành một
loại tài sản kinh doanh nào đó như nhà xưởng , máy móc , vật tư cũng
như để mua cổ phiếu hay cho vay lấy lãi mà ở đây những tài sản đầu tư
này có thể sinh lợi dần hay thõa mãn dần một nhu cầu nhất định nào đó
của người bỏ vốn cũng như toàn xã hội trong một thời gian nhất định.
Đầu tư theo nghĩa rộng nói chung là sự hi sinh các nguồn lực ở
hiên tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư
các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguôn lực đã bỏ ra để
đạt đươc kết quả đó. nguồn lục đó có thể là tiền , là tài nguyên thiên nhiên
, là sức lao động và trí tuệ. những kết quả sẽ đạt được có thể là sự tăng
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thêm tài sản tài chính (tiền vốn), tài sản vật chất (nhà máy , đường sá ,
bệnh viện, trường học ... ) , tài sản trí tuệ ( trình độ văn hóa , chuyên
môn , quản lí , khoa học kĩ thuật...) và nguồn nhân lực có đủ điều kiện
làm việc với năng suất lao động cao hơn trong nền sản xuất xã hội. trong
những kết quả đã đat được trên đây , tài sản trí tuệ và vai trò quan trọng
trong mọi nguồn nhân lực tăng thêm lúc và mọi nơi không chỉ đối với
người bỏ vốn mà cả đối với toàn bộ nền kinh tế. những kết quả này khong
chỉ người đầu tư mà cả nền kinh tế được hưởng thụ.
Theo nghĩa hẹp , đầu tư chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các
nguồn lực hiện tại , nhằm đem lại cho nền kinh tế xã hội những kết quả
trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt được các kết quả
đó.
Đầu tư phát triển là phương thức đầu tư trực tiếp , hoạt động trong
đó người có tiền bỏ tiền ra để tiến hành các hoạt động nhằm tạo ra tài sản
mới cho nền kinh tế, làm tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh và mọi hoạt
động xã hội khác, là điều kiện chủ yếu để tạo được việc làm , nâng cao
hữu hàng hóa giuwax người bán và người đầu tư và người đầu tư với
khách hang của họ. tuy nhiên đầu tư thương mại có tác dụng thúc đẩy quá
trình lưu thông của cải vật chất đầu tư phát triển tạo ra , từ đó thúc đẩy
sản xuất phát triển , tăng thu cho ngân sách , tăng tích lũy cho sản xuát ,
kinh doanh nghiệp vụ nói riêng và nền sản xuất xã hộ nói chung ( chúng
ta cần lưu ý rằng đầu cơ trong kinh doanh cũng thuộc đầu tư thương
maijxets về bản chất nhơng bị pháp luật cấm vì gây ra tình trạng thừa
thiếu hàng hóa một cách giả tạo , gây khó khăn chi việc quản lí lưu thông
phân phối , gây mất ổn định cho sản xuất , làm tăng chi phí cho người
tiêu dùng
1.2 Phân loại các hình thức đầu tư
Theo bản chất của đối tượng đầu tư : hoạt động đầu tư bao gồm
đầu tư cho các đối tượng vật chất hoặc tài sản (nhà xưởng , máy móc thiết
Website: Email : Tel : 0918.775.368
bị) cho các đối tượng tài chính (đầu tư tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực
như đào tạo , nghiên cứu khoa học , y tế.. ). Trong các loại đầu tư sau đây
đầu tư đối tượng vật chất là điều kiện tiên quyết , cơ bản làm tăn tiềm lực
của nền kkinh tế , đầu tư tài chính là điều kiện quan trọng để thu hút mọi
nguồn vốn từ mọi tầng lơp dân cư cho đầu tư mọi đối tượng vật chất, còn
đầu tư tài sản trí tuệ và các nguồn nhân lực là điều kiện tất yếu để đảm
bảo cho đầu tư các đối tượng vật chất tiến hành thuận lợi và đạt hiệu quả
kinh tế xã hội.
theo cơ cấu tái sản xuất có thể phân loại hoạt động đầu tư thành đầu tư
theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu trong đó đầu tư theo chiều rộng
vốn lớn để khe dọng lâu , thời gian thực hiện đầu tư và thời gian cần thực
hoạt động để thu hồi vốn lâu , tính chất xã hội phức tạp độ mạo hiểm cao.
còn đầu tư theo chiều sâu đòi hỏi khối lượng vốn ít hơn , thời gian thực
hiện đầu tư không lâu , độ mạo hiểm thấp hơn so với đầu tư theo ciều
rộng
Theo phân cấp quản lí , điều lệ quản lí đầu tư và xây dựng ban
là người có vốn sẽ không chỉ đầu tư cho lĩnh vực sản xuất , khoogt chỉ
đầu tư tài chính , đầu tư chuyển dịch ma cả đầu tư phát triển.
Theo nguồn vốn : đầu tư dược chia thành đầu tư có vốn huy động
trong nước ( vốn tích lũy của ngân sách , của doanh nghiệp , tiết kiệm của
dân cư ) , và vốn huy động từ nước ngoài ( vốn đầu tư gián tiếp , vốn đầu
tư trực tiếp ). phân loaị nay cho thấy tình hình huy động vốn đối với sự
phát triển kinh tế - xã hội của từng ngành , từng địa phương và toàn bộ
nền kinh tế
2. Lý luận chung về cơ cấu kinh tế - chuyển dịch cơ cấu kinh tế
2.1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
2.1.1. Khái niệm cơ bản về cơ cấu kinh tế
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Cơ cấu kinh tế là một tổng thể hệ thống kinh tế bao gồm nhiều
yếu tố , có quan hệ chặt chẽ với nhau , tác động qua lại với nhau trong
một không gian và thời gian nhất định , trong những điều kiện xã hội cụ
thể , hướng vào thực hiện những mục tiêu đã định
2.1.2. Phân loại chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế gồm 3 phương diện hợp thành:
- Cơ cấu kinh tế.
- Cơ cấu thành phần kinh tế.
- Cơ cấu vùng lãnh thổ.
Chỉ tiêu kinh tế làm cơ sở để biểu hiện cơ cấu là GDP ( tổng sản
phẩm nội địa )
Cơ cấu ngành kinh tế là tổ hợp các ngành hợp thành các tương
quan tỷ lệ biểu hiện mối quan hệ giữa các thành phần kinh tế quốc dân.
Cơ cấu ngành kinh tế phản ánh phần nào trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất và phân công lao động xã hội của một quốc gia.
Cơ cấu kinh tế lãnh thổ được hình thành bởi việc bố trí sản xuất
theo không gian địa lý trong cơ cấu lãnh thổ, có sự biểu hiện của cơ cấu
ngành trong điều kiện cụ thể của không gian lãnh thổ. Việc chuyển dịch
chuyên môn hóa quốc tế đồng thời có sự nhảy vọt về khoa học kỹ thuật.
Chuyên môn hóa mở đường cho việc trang bị kỹ thuật hiện đại, áp
dụng công nghệ tiên tiến, hoàn thiện tổ chức, nâng cao năng suất lao động
xã hội. Chuyên môn hóa cũng tạo ra các hoạt động dịch vụ và chế biến
mới. Tiến bộ kỹ thuật công nghệ đã thúc đẩy chuyên môn hóa. Điều đó
làm tỷ trọng các ngành truyền thống giảm đi, tỷ trọng các ngành dịch vụ
có khoa học kỹ thuật mới tăng trưởng nhanh chóng và dần chiếm ưu thế.
Phân công lao động xã hội và sự tiến bộ kỹ thuật, công nghệ ngày
càng phát triển sâu sắc tạo ra những tiền đề cho việc phát triển thị trường
các yếu tố sản xúât. Và ngược lại việc phát triển các yếu tố sản xuất lại
thúc đẩy quá trình phát triển và tăng trưởng kinh tế do vậy làm sâu sắc
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thêm quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hướng hợp lý - hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa là một tất yếu
khách quan gắn liền với sự phát triển kinh tế trong giai đoạn hội nhập của
Việt Nam.
3. Lý luận về đầu tư và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
3.1 Mối quan hệ giữa đầu tư tăng trưởng kinh tế, cơ cấu đầu tư
A, Đầu tư vừa tác động đến tổng cung vừa tác động đến tổng cầu.
(+) Tác động đến tổng cầu:
Để tạo ra sản phẩm cho xã hội, trước hết cần đầu tư. Đầu tư là một
yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu của toàn xã bộ nền kinh tế. Theo
số liệu của Ngân hàng thế giới, đầu tư thường chiếm tỷ trọng từ 24 đến
28% trong cơ cấu tổng cầu của tất cả các nước trên thế giới. Đối với tổng
cầu, tác động của đầu tư thể hiện rõ trong ngắn hạn. Xét theo mô hình
kinh tế vĩ mô, đầu tư là bộ phận chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu. Khi
tổng cung chưa kịp thay đổi, gia tăng đầu tư (I) làm cho tổng cầu (AD)
tăng ( nếu các yếu tố khác không đổi).
AD = C + I + G + X – M
Trong đó: C: Tiêu dùng
tác động của vốn đầu tư còn được thực hiện thông qua hoạt động đầu tư
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực , đổi mới công nghệ....do đó , đầu tư
lai gián tiếp làm tăng tổng cung của nền kinh tế.
B, Tác động của đầu tư phát triển đến tăng trưởng và phát triển kinh
tế
Các mô hình tăng trưởng đơn giản dang tổng cung đều nhấn mạnh
đến yếu tố vốn trong tăng trưởng
Hàm sản xuất Cobb-Douglas
Các nhà kinh tế tân cổ điển đã cố gắng giải thích nguồn gốc của sự
tăng trưởng thông qua hàm sản xuất. Hàm số này nêu lên mối quan hệ
Website: Email : Tel : 0918.775.368
giữa sự tăng trưởng của đầu ra với sự tăn lên của yếu tố đầu vào là : vốn ,
lao động , tài nguyên và khoa học công nghệ
Y= T. K
α
. L
β
. R
µ
Trong đó : Y : là đầu ra GDP
K : là vốn sản xuất
R : là nguồn tài nguyên thiên nhiên
T :là khoa học công nghệ
α, β, µ : là các số lũy thừa , phản ánh tỷ lệ cận biên các yếu
tố đầu vào
Sau khi biến đổi , thiết lập được mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng của
các biến số
G= t + αk + lβ + µr
Trong đó : G là tốc độ tăng trưởng của GDP
K, l , r là tốc độ tăng trưởng của các yếu tố đầu vào
theo trình độ phát triển kinh tế và cơ chế chính sách trong nước.
Đối với các nước dang phát triển về bản chất được coi là ván đề
đảm bảo các nguồn vốn đầu tư đủ để đạt một tỷ lệ tăng thêm sản phẩm
quốc dân dự kiến. Thực vậy , ở nhiều nước , đầu tư đóng vai trò như một
‘cái hích ban đầu ‘ , tạo đà cho cho sự cất cánh của nền kinh tế.
Đối với nước ta để đạt mục tiêu đến năm 2010 tăng gấp dôi tổng
sản phẩm quốc nội năm 2000 theo dự tính của các nhà kinh tế , nếu ICOR
là 3 thì vốn đầu tư phải lớn gấp 3 lần hiện nay.
Kinh nghiệm các nước cho thấy chỉ tiêu ICOR phụ thuộc mạnh vào
cơ cấu kinh tế và hiệu quả đầu tư trong các ngành , các vùng lãnh thổ
cũng như phụ thuộc vào hiệu quả chính sách kinh tế nói chung. Thông
thường ICOR trong nông nghiệp thấp hơn trong công nghiệp , ICOR
trong gian đoạn chuyển đổi cơ chế chủ yếu do tận dụng năng lực. Do đó ở
các nước phát triển , tỷ lệ đầu tư thấp dẫn đến tốc độ tăng trưởng thấp
Website: Email : Tel : 0918.775.368
C, Mối quan hệ giữa cơ cấu đầu tư và tốc độ tăng trưởng
Các nhà kinh tế đều thừa nhận đầu tư là một trong những nhân tố
quan trọng nhất đối với tăng trưởng kinh tế , muốn có tăng trưởng thì
phải có đầu tư. Tuy nhiên cơ cấu đầu tư là một vấn đề gây nhiều tranh
cãi.
Các nhà kinh tế đều đồng ý với nhau rằng cần có một cơ cấu đầu tú
hợp lí để tạo ra cơ cấu kinh tế hợp lí. Thuật ngữ hợp lí ở đây được hiểu là
cơ cấu đầu tư và cơ cấu kinh tế như thế nào để đảm bảo được tốc dộ phát
triển nhanh và bền vững. Mặc dù đồng ý với nhau như vậy nhơng các nhà
kinh tế có quan điểm rất khác nhau về cách thức tạo ra một cơ cấu đầu tư
hợp lí. Có một số quan điểm chủ yếu sau :
+ Quan điểm của trường phái tân cổ điển
Quan điểm này cho rằng nhà nước không nên can thiệp vào nền
kinh tế trong quá trình phân bổ nguồn lực ( vốn, lao động... ) mà sự vận
động của thị trường sẽ thực hiện tốt hơn vai trò này. Trường phái này
kiện của thị trường cạnh tranh hoàn hảo rõ ràng là chưa đáp ứng được.
mặt khác nền kinh tế của ta dang ở mức phát triển thấp , chịu ảnh hưởng
của một thời gian dài trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung , Tát cả những
đạc tính đó cho thấy nhà nước cần đóng vai tro quan trọng trong việc thúc
đẩy sự phát triển kinh tế không thể để thị trường tự thân vận động. Vì thế
có thẻ nói đầu tư là một con bài quan trọng nhất mà nhà nước sử dungjn
để tác động làm tăng trưởng kinh tế , điều tiết nèn kinh tế theo đúng dịnh
hướng phát triển.
D, Mối liên hệ giữa chuyển dịch cơ cấu và quá trình phát triển kinh
tế.
Cho tới nay chưa có lý thuyết hoàn hảo nào có thể mô tả nhữn mối
liên hệ giữa quá trình phát triển và quá trình thay đổi cơ câu. Tuy nhiên
nhiều công trình nghiên cứu đã đưa ra bằng chứng chắc chắn là có những
Website: Email : Tel : 0918.775.368
quy luật phản ánh phương thức thay đổi của cơ cấu kinh tế khi thu nhập
bình quân đầu người tăng lên.
Như vậy cơ sở giúp chúng thấy được mối liên hệ giữa quá trình
phát triển kinh tế và thay đổi cơ cấu là cách thức tính toán GDP theo các
biến số kinh tế vĩ mô
Trước hết nếu xét về phía cung , chúng ta phải phân tích cơ cấu sản
xuất được tính theo các ngành sản xuất. Ngoài các ngành có thể dễ quan
sát như nông nghiệp , công nghiệp , hệ thống tài chính là ngành có tầm
quan trọng đặc biệt trong cơ cấu của một nền kinh tế. Một số kết quả
quan sát cho thấy rằng , khi thu nhập bình quân đầu người tăng lên , thì tỷ
trọng trong tổng số sản phẩm quốc dân của ngành nông nghiệp giảm cùng
với số lao động sử dụng và tỷ trọng của ngành công nghiệp trong đó chủ
yếu là ngành khai khoáng và ngành chế biến tăng lên cùng với số lao
động sử dụng. Đặc biệt ngành chế biến ban đầu có xu hướng tập trung
vào sản xuất cac mặt hàng tiêu dùng giản đơn như lương thực thực phẩm ,
quần áo , sau này chuyển dần sang sản xuất các mặt hàng tư liệu sản xuất
đầu người.Một xu hướng mang tính quy luật là cùng với sự phát triển của
kinh tế , cũng diễn ra một quá trình thay đổi về cơ cấu kinh tế tức là một
sự thay đổi tương đối về vai trò mức đóng góp , tốc độ phát triển của từng
thành phần kinh tế , từng yếu tố riêng về cấu thành toàn bộ nên kinh tế.
Một trong những cơ cấu kinh tế được quan tâm và nghiên cứu
nhiều trong mối liên hệ với quá trình phát triển và tăng trưởng là cơ cấu
ngành
Một trong những đặc điểm rõ nét nhất trong việc thay đổi cơ cấu
kinh tế trong quá trình phát triển là việc tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp
trong GDP trong khi tỷ trọng nông nghiệp lại giảm sút. Có hai lí do chính
lí giải cho hiện tượng này , thứ nhất là luật Enghen cho rằng khi thu nhập
của một gia đình tăng lên thì phần chi tiêu cho thực phẩm giảm xuống.
Điều đó làm cho nhu cầu về sản phẩm nông nghiệp không thể tăng cùng
Website: Email : Tel : 0918.775.368
tốc độ như nhu cầu về các sản phẩm hàng hóa công nghiệp được. Thứ hai
là sự phát triển kinh tế làm cho năng suất lao động nói chung và trong
nghành nông nghiệpnoi chung tăng lên, do đó tỷ trọng lao động trong
ngành nông nghiệp có xu hướng giảm
Như vậy có thể nói khi đời sống được nâng lên thì tỷ trọng các ngành
công nghiệp dịch vụ có xu hướng tăng , còn tỷ trọng ngành nông nghiệp
có xu hướng giảm dần
3.2 Mối quan hệ giữa cơ cấu đầu tư và chuyển dịch cơ cấu đầu tư
Cơ cấu đầu tư là cơ cấu các yếu tố cấu thành đầu tư như cơ cấu về
vốn , nguồn vốn , cơ cấu huy động và sử dụng vốn... quan hệ hữu cơ ,
tương tác qua lại giữa các bộ phận trong không gian , vận động theo
hướng hình thành một cơ cấu đầu tư hợp lí và tạo ra những tiềm lực lớn
hơn về mọi mặt kinh tế xã hội
Cơ cấu đầu tư luôn luôn thay đổi trong từng giai đoạn phù hợp với
sự phát triển của nền kinh tế , có nhân tố thuộc nội tại nền kinh tế , có
nhân tố tác động từ bên ngoài , có nhân ntoos thúc đẩy sự phát triển ,
Quá trình chuyển dịch cơ cấu đầu tư của mốt quốc gia , của một
ngành , một địa phương hay cơ sở thông qua kế hoạch đầu tư là nhằm
hướng tới việc xây dựng một cơ cấu đầu tư hợp lí
Cơ cấu đầu tư hợp lí là cơ cấu đầu tư phù hợp với quy luật khách
quan , các điều kiện kinh tế xã hội của từng cơ sở , ngành vùng và toàn
thể nền kinh tế , coa tác động tích cực đến đổi mới cơ cấu kinh tế theo
hương ngày càng hợp lí , khai thác và sử dụng hợp lí các nguồn lực trong
nước , đáp ứng nhu cầu hội nhập , phù hợp với xu thế kinh tế , chính trị
của thế giới và khu vực
3.3 Lý luận tác động của đầu tư tới , chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Chúng ta thấy rằng đầu tư có tác động dây chuyền , khi tăng cường
đầu tư , phân bổ vào một ngành , lĩnh vực đó gia tăng sản lượng và từ đó
làm thay đổi mối tương quan giữa các ngành.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Những ngành những vùng lĩnh vực phát triển nhanh sẽ thu hút
nhiều lao động vào ngành , lĩnh vực đó , tạo ra sự chuyển dịch giữa các
ngành , các lĩnh vực
Đầu tư có tác dộng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế thông qua những
chính sách tác động đến cơ cấu kinh tế. Trong điều hành chính sách đầu
tư , nhà nước có thể can thiệp trực tiếp như thực hiện chính sách phân bổ
vốn , kế hoạch hóa , xây dựng cơ chế quản lí đầu tư hoặc điều tiết gián
tiếp qua công cụ chính sách như tuế , tín dụng , lãi suất để xác dịnh và
định hướng một cơ cấu đầu tư dẫn dắt sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo
hương ngày càng hợp lí hơn.
Kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy rằng nếu có chính sác đầu tư
hợp lí sẽ tạo đà tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế là cơ cấu của tổng thể các yếu tố cấ thành nền kinh
tế , có quan hệ chặt chẽ với nhau, được thể hiện cả mạt chất và mặt lượng,
tùy thuộc vào mục tiêu của nền kinh tế.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế được hiểu là sự thay đổi tỷ trọng của
cân đối về phát triển giữa các vùng miền , đưa những vùng kém phát triển
thoát khỏi tình trạng đói nghèo , phát huy tối đa những lợi thế so sánh về
tài nguyên , kinh tế chính trị... cả những vùng có khả năng phát riển cao
hơn ,làm bàn đạp thúc đảy các vùng khác phát triển nhanh hơn
Website: Email : Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
I. Tổng quan về đầu tư phát triển trong nền kinh tế
Trong những năm qua tình hình huy động vốn đầu tư của nước ta
đã có bước tăng trưởng khá.Đặc biệt trong kế hoạch 5 năm (2001-
2005),Việt Nam đẫ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ thu hút đầu tư trực tiếp
(FDI) và đẩy manh đầu tư ra bên ngoài.
Điển hình năm 2005,tổng vốn đầu tư phát triển tăng khá so với
năm 2004,cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP theo giá thực tế,do đó tỷ lệ so
vứi GDP cũng sẽ cao hơn và đạt mức cao nhất từ trước tới nay.Đáng lưu
ý là vốn đầu tư ngòai khu vực quốc doanh,vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài và vốn ODA thực hiện đạt cao hơn năm 2004.Chúng ta đã thu hút
được 5,8 tỷ USD vốn đăng ký tăng trên 2,5% so với năm 2004,vượt gần
30% mục tiêu ban đầu (4,5 tỷ USD) đề ra cho cả năm 2005,trong đó vốn
cấp mới đạt trên 4 tỷ USD,vốn bổ sung đạt 1,8tỷ USD.Số vốn này kết
hợp sức mạnh quan trọng cho việc thực hiện đầu tư các năm sau và điểm
cần lưu ý và quan trọng nhất của kết quả FDI trong năm 2005 là số vốn
đầu tư thực hiện,đóng góp cho nền kinh tế,đạt khoảng 3,3 tỷ USD,tăng
trên 15% so với năm 2004,chiếm tới gần 20% tổng vốn đầu tư toàn xã
hội,đã góp phần không nhỏ vào thành tựu chung của cả nước về phát triển
KT-XH với mức tăng GDP gần 8,5%-mức tăng cao nhất trong 5 năm qua.
Khu vực kinh tế có vốn FDI trong năm 2005 đạt doanh thu khoảng
21 tỷ USD (không có dầu thô), trong đó giá trị xuất khẩu khoảng 10,3tỷ
USD,tăng khoảng27% so với năm 2004,chiếm 35% kim ngạch xuất khẩu
cả nước(nếu tính cả dầu thô thì tỷ lệ đạt trên 56%);nộp ngân sách nhà
Vốn đầu tư từ Ngân sách và tín dụng mà Nhà nước có thể trực tiếp
và chủ động bố trí theo cơ cấu đầu tư,chiếm bình quân hàng năm vào
khoảng 35-39% tổng vốn(khoảng trên 10% GDP).Trong đó đầu tư cho
công nghiệp và xây dưng khoảng 9,5% tổng số;nông nghiệp,thuỷ lợi,lâm
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nghiệp,thuỷ sản khoảng 25%;giao thông bưu điện khoảng 29,5%;lĩnh vực
nhà ở,công cộng,cấp nứoc,dịch vụ khoảng 11%;khoa học công nghệ ,điều
tra cơ bản,môI trường khoảng 2%;giáo dục đào tạo khoảng 7,8%;y tế xã
hội khoảng 6,5%;văn hoá-thông tin,thể thao khoảng 3,4%;quản lý Nhà
nước 4,3%,các lĩnh vực khác khoảng 1%.
Việc đầu tư đẻ tạo ra năng lực sản xuất mới và nâng cao khả năng
cạnh tranh của sản phẩm chủ yếu do các doang nghiệp đầu tư từ nguồn
vốn vay dưới nhiều hình thức,nguồn vốn tự tích luỹ của các thành phần
kinh tế trong và ngoài nước.Điều đó đòi hỏi cần phảI đổi mới mạnh mẽ
các chính sách,cơ chế huy động các nguồn vốn,khuyến khích tích luỹ cao
trong nước cho đầu tư và thu hút nguồn vốn bên ngoài.Ngoài ra một số
doang nghiệp sản xuất kinh doanh,nhất là các doanh nghiệp hoạt động
công ích được đầu tư bằng vốn ngân sách,hoặc hỗ trợ một phần từ Ngân
sách,thông qua hình thức bù lãI suất vốn vay,ưu đãi về chính sách để đầu
tư trở lại cho doanh nghiệp….
Đối với đầu tư trực tiép nước ngoài,cần địng hướng thu hút vào các
khu công nghiệp,khu chế xuất,khu công nghệ cao và những địa bàn có
nhiều lợi thế để phát huy vai trò vùng động lực,khuyến khích đầu tư vào
các ngành công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu,công nghiệp chế
biến,công dụng công nghệ cao,vật liệu mới,điện tử,viễn thông phát triển
kết cấu hạ tầng kinh tế,xã hội và các ngành Việt Nam có lợi thế,gắn với
công nghệ hiện đại và tạo việc làm;dành ưu đãi tối đa cho đầu tư vào các
vùng,các địa bàn còn nhiều khó khăn.
Đối với nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA),một mặt
cần nhanh chóng hợp thức hoá bằng các hiệp định vay vốpn cho các dự
đây nhất ,nhất là từ năm 1990 trở đI,đã hình thành xu thế chuyển dịch cơ
cấu ngành kinh tế tương đối rõ theo hướng giảm tỷ trọng của ngành nông
nghiệp trong GDP tăng đồng thời tỷ trọng của công nghiệp và dịch vụ.Xu
thế này là hoàn toàn phù hợp với quy luật phát triển kinh tế của các nứơc