BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
_______________________________________
NGUYỄN MẠNH HÙNG
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN
CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG GIAO THÔNG VẬN TẢI
KHU VỰC MIỀN TRUNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
2
NGHỆ AN, 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
_______________________________________
NGUYỄN MẠNH HÙNG
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN
CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG GIAO THÔNG VẬN TẢI
KHU VỰC MIỀN TRUNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
Chuyên ngành:
Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Giáo dục Chính trị
Mã số: 60 14 01 11
Xin trân trọng cảm ơn!
2
MỤC LỤC
Trang
Hiện nay trên thế giới sự phát triển của công nghệ thông tin, công nghệ tri
thức đồng diễn ra với tốc độ chóng mặt, cuộc cách mạng đó đã đem đến
thành tựu to lớn cho nhiều nước biết vận dụng vào hàng sản xuất, đưa họ
trở thành nhiều cường quốc phát triển trên thế giới hiện nay. Việt Nam
đang ở trong thời kỳ quá độ lên CNXH, nền kinh tế vẫn ở trong trình độ
thấp, chịu ảnh hưởng của nền kinh tế phong kiến kéo dài, nông nghiệp vẫn
chủ yếu là trồng lúa. Nền công nghiệp lạc hậu chưa có thành tựu nào quan
trọng đóng góp cho nền kinh tế quốc dân. Muốn đưa nền kinh tế đi lên để
có thể sánh ngang với các nước trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương
và để trở thành cường quốc kinh tế thì CNH, HĐH phải được coi trọng,
đánh giá đúng mức sự cần thiết của nó trong giai đoạn hiện nay................30
3
CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
CNH, HĐH
:
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CĐ
:
Giao thông vận tải
HS,SV
:
Học sinh, sinh viên
KH & CN
:
Khoa học và Công nghệ
KT - XH
:
Kinh tế - xã hội
XHCN
:
Xã hội chủ nghĩa
4
trong quá trình CNH, HĐH những năm qua các trường Cao đẳng GTVT khu
vực miền Trung đã làm tốt công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên.
Với mục tiêu giáo dục của các Trường là đào tạo người lao động Việt Nam phát
triển toàn diện, có trình độ tay nghề cao, tri thức, sức khỏe, thẩm mĩ và đạo đức
nghề nghiệp. Xuất phát từ mục tiêu giáo dục đó, trong những năm qua các
Trường Cao đẳng GTVT khu vực miền Trung đã tăng cường công tác giáo dục
chính trị, tư tưởng, đạo đức và lối sống cho sinh viên, góp phần đào tạo toàn
diện người trí thức để đáp ứng yêu cầu của xã hội. Tuy nhiên, trong thời kì hội
nhập và phát triển, công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên của các
trường cần được đặc biệt quan tâm hơn nữa nhằm góp phần giáo dục toàn diện,
hoàn thiện nhân cách và bản lĩnh cho sinh viên đồng thời giúp cho sinh viên có
những kĩ năng mềm dễ dàng thích nghi với những môi trường của xã hội, từ đó
7
hình thành nên những lao động tương lai của đất nước vừa có trình độ, vừa có
đạo đức nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu của đất nước trong thời kỳ CNH, HĐH.
Trong những thập kỷ gần đây có rất nhiều công trình khoa học của nhiều
nhà nghiên cứu bàn về vấn đề giáo dục đạo đức nói chung, giáo dục đạo đức
nghề nghiệp nói riêng trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh quá trình CNH,
HĐH hiện nay. Nhìn chung các tác giả quan tâm nghiên cứu ở những khía cạnh
khác nhau, theo những cách tiếp cận khác nhau:
Một số tác giả đề cập đến vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh
viên, chỉ ra thực trạng đạo đức, lối sống của học sinh, sinh viên hiện nay và từ
đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh,
sinh viên trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước: Trần Hậu Kiêm, Đoàn Đức Hiếu
(2002), “Hệ thống phạm trù đạo đức học và giáo dục đạo đức cho sinh viên”,
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. TS. Lê Hữu Ái (chủ biên) (2007):“Tư tưởng
đạo đức Hồ Chí Minh và vấn đề giáo dục thanh niên hiện nay”, Nxb Đà Nẵng.
Nguyễn Thị Minh Chiến (2009), "Giáo dục đạo đức cho HSSV", Nhà xuất bản
- Khảo sát thực trạng công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh
viên các trường cao đẳng GTVT khu vực miền Trung, tuy nhiên do hạn chế về
mặt thời gian và một số điều kiện nghiên cứu khác, tác giả chỉ tập trung khảo sát
ở 02 trường; Trường cao đẳng GTVT miền Trung - Tỉnh Nghệ An và Trường
cao đẳng GTVT II - Đà Nẵng.
- Đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức nghề
nghiệp đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH cho sinh viên các trường cao đẳng GTVT
khu vực miền Trung.
10
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp
đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH cho sinh viên các trường cao đẳng GTVT khu vực
miền Trung.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn không nghiên cứu quá trình giáo dục nói chung mà chỉ tập trung
công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho đối tượng là sinh viên các trường
cao đẳng GTVT khu vực miền Trung. Tuy nhiên do hạn chế về mặt thời gian và
các điều kiện khác nên tác giả chỉ khảo sát, đánh giá công tác giáo dục đạo đức
nghề nghiệp cho sinh viên ở 02 trường: Trường cao đẳng GTVT miền Trung Tỉnh Nghệ An và Trường cao đẳng GTVT II - Đà Nẵng.
Trong phạm vi đề tài, tác giả tập trung nghiên cứu để đề xuất một số giải
pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên các
trường cao đẳng GTVT khu vực miền Trung đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH.
5. Phương pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận của việc nghiên cứu là chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng
và Nhà nước về giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên trong thời kỳ CNH,
HĐH đất nước.
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC GIÁO DỤC
ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG
CAO ĐẲNG GIAO THÔNG VẬN TẢI ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CÔNG
NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài
1.1.1 Khái niệm đạo đức
Đạo đức là một trong những hình thái sớm nhất của ý thức xã hội bao
gồm những nguyên lý, quy tắc chuẩn mực điều tiết hành vi của con người trong
quan hệ với người khác và với cộng đồng. Đạo đức không phải là một phạm trù
trừu tượng do Thượng đế sinh ra, mà là một phạm trù lịch sử. Đạo đức ra đời,
phát triển do nhu cầu của xã hội, nhằm duy trì, phát triển quan hệ xã hội đã được
xác lập.
Với tư cách là một bộ phận của tri thức triết học, những tư tưởng đạo đức
đã xuất hiện hơn 26 thế kỷ trước đây trong triết học Trung Quốc, Ấn Độ, Hy
Lạp cổ đại.
Theo từ nguyên “Đạo đức” trong tiếng Anh là Ethics, tiếng Anh thời
Trung cổ là Ethik vốn xuất phát từ Latinh là Ethice, từ Hy Lạp là Ethos nghĩa là
nhân cách, tính cách, tư cách hay là phong cách. Do đó khi nói đến đạo đức là
người ta thường liên tưởng đến tính cách tốt xấu của một người nào đó hay nói
cách khác đó là cách ứng xử được biểu hiện qua hành vi và lời nói theo quan
niệm đạo đức hay phong tục, tập quán của xã hội đặt ra. Sau này người ta
thường phân biệt hai khái niệm, moral là đạo đức, còn Ethicos là đạo đức học.
Ở phương Đông, các học thuyết về đạo đức của người Trung Quốc cổ đại
bắt nguồn từ cách hiểu về đạo và đức của họ. Đạo là một trong những phạm trù
quan trọng nhất của triết học Trung Quốc cổ đại. Đạo có nghĩa là con đường,
13
đường đi, về sau khái niệm đạo được vận dụng trong triết học để chỉ con đường
con người, lòng nhân ái nói chung mà nội dung của đạo đức còn bao gồm những
vấn đề như: giữ gìn và phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc đó là
lòng yêu nước, nhân ái, tự lực, tự cường, cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư,
hiếu học, thuỷ chung, tình nghĩa, tôn trọng người già…; bảo vệ môi trường sinh
thái; vấn đề dân số và kế hoạch hoá gia đình; chống bạo lực và tệ nạn xã hội;
đấu tranh cho một thế giới hoà bình, ổn định và bình đẳng, dân chủ và phát triển
bền vững.
Theo nghĩa rộng: định nghĩa đạo đức liên quan chặt chẽ đến phạm trù
chính trị, pháp luật, lối sống thì đạo đức là thành phần cơ bản của nhân cách nó
phản ánh bộ mặt của nhân cách, của một cá nhân đã được xã hội hoá. Đạo đức
được biểu hiện ở cuộc sống tinh thần lành mạnh, trong sáng ở hành động góp
phần giải quyết hợp lý, có hiệu quả những mâu thuẫn. Khi thừa nhận đạo đức là
một hình thái ý thức xã hội thì đạo đức của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng, mỗi
tầng lớp, giai cấp trong xã hội cũng phản ánh ý thức chính trị của họ đối với các
vấn đề đang tồn tại.
Ngày nay, đạo đức được hiểu là một hình thái ý thức xã hội luôn được
mọi giai cấp, trong mọi thời đại quan tâm. Đạo đức là phép ứng xử có nhân
phẩm giữa người này với người khác. Đạo đức luôn luôn là mối quan hệ hai
chiều, là một thể chế đặc thù của xã hội nhằm điều chỉnh các hành vi của con
người trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đạo đức là phương thức xác lập
mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, giữa lợi ích xã hội và lợi ích cá nhân.
Các Mác cho rằng: Đạo đức chính là lực lượng bản chất của con người
trong sự phát triển của nó theo hướng ngày càng đạt tới giá trị đích thực của
cái thiện.
Theo ông, bất luận trong mối quan hệ xã hội nào thì đạo đức cũng là quan
hệ thực sự người, là sự phản ánh tồn tại xã hội cho nên mỗi hình thái kinh tế - xã
hội hay mỗi giai đoạn lịch sử đều định hình những nguyên tắc, chuẩn mực đạo
đức tương ứng. Trong đó, ngoài những giá trị chung, nó còn hàm chứa các nét
16
dưỡng và rèn luyện bản thân để trở thành người có nhân cách, vừa có đức vừa
có tài là hết sức quan trọng đối với mỗi con người, là nhiệm vụ hàng đầu của
thanh niên, học sinh, sinh viên.
Ngày nay, việc tiến vào nền văn minh tri thức sẽ đặt ra những thách thức
mới, câu hỏi mới về người đại diện của nền văn minh mới đó là ai, phải chăng
là con người có giáo dục? Một thuật ngữ của Peter F. Drucker, tác giả của
những công trình nghiên cứu nổi tiếng thế giới về kinh tế và xã hội mà chúng
ta có thể tham khảo. Theo Peter Ferdinand Drucker: Sự thay đổi vĩ đại nhất sẽ
là sự thay đổi về tri thức, về hình thức và nội dung, về ý nghĩa của tri thức, về
những trách nhiệm của tri thức và về những đặc điểm của con người có giáo
dục. Con người đó là một “nguyên mẫu xã hội”, theo cách nói của các nhà xã
hội học, “Con người có giáo dục sẽ quyết định khả năng hoạt động của xã hội.
Con người này cũng là hiện thân của các giá trị, niềm tin và trách nhiệm của xã
hội”[43, tr.240-250].
Ở thời đại nào, dưới chế độ nào, việc giáo dục đạo đức cho thế hệ đang
lớn cũng là trung tâm chú ý của mọi thành viên trong xã hội. Trước đây nhiều
người vẫn cho rằng khi kinh tế phát triển, con người giàu có thì đạo đức, quan
hệ giữa người và người sẽ tốt đẹp hơn. Nhưng có lẽ thật thiếu sót khi cho rằng
như vậy, bởi một khi con người chưa tự ý thức bản thân mình, chưa có trách
nhiệm với bản thân mình, gia đình, cộng đồng và xã hội thì vấn đề giáo dục đạo
đức vẫn là quan trọng và rất cần thiết ở bất kỳ thời đại nào.
Giáo dục đạo đức là một nội dung quan trọng trong giáo dục nhân cách
con người phát triển toàn diện. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở
mọi người phải có đức, có tài mới đóng góp được nhiều lợi ích cho xã hội. Mỗi
giai đoạn lịch sử phát triển xã hội có mục tiêu, nội dung, chương trình, phương
pháp, hình thức giáo dục cụ thể nhằm xây dựng nhân cách toàn diện cho thế hệ
trẻ, đáp ứng được những yêu cầu, đòi hỏi phát triển của xã hội.
Ngày nay, xã hội đã giàu lên rất nhiều, nhưng đâu đâu cũng báo hiệu về
với đạo đức vị kỷ, cá nhân. Giáo dục đạo đức học sinh, sinh viên gắn chặt với
18
giáo dục tư tưởng - chính trị, giáo dục truyền thống và giáo dục bản sắc văn hóa
dân tộc, giáo dục pháp luật nhà nước XHCN, cung cấp cho học sinh, sinh viên
những phương thức ứng xử đúng trước vấn đề của xã hội... giúp cho các em có
khả năng tự kiểm soát được hành vi của bản thân một cách tự giác, có khả năng
chống lại những biểu hiện lệch lạc về lối sống.
Tóm lại, giáo dục đạo đức: là một mặt của hoạt động giáo dục nhằm xây
dựng cho thế hệ trẻ những tính cách nhất định và bồi dưỡng cho họ những quy
tắc hành vi thể hiện trong giao tiếp với mọi người với công việc, với Tổ quốc.
Giáo dục đạo đức cần phải được coi trọng đặc biệt, nhất là trong sự nghiệp cách
mạng hiện nay của dân tộc khi mà nước ta gia nhập WTO. Giáo dục đạo đức cho
thế hệ trẻ là làm cho nhân cách của họ phát triển đúng về mặt đạo đức, tạo cơ sở
để họ ứng xử đúng đắn trong các mối quan hệ của cá nhân với bản thân, với
người khác (gia đình, bạn bè, thầy cô giáo…) với xã hội, với tổ quốc, với môi
trường tự nhiên, với cộng đồng quốc tế.
1.1.3. Giáo dục đạo đức nghề nghiệp
1.1.3.1. Quan điểm về đạo đức nghề nghiệp
Khi bàn về đạo đức nghề nghiệp có nhiều quan niệm khác nhau, theo
quan niệm của quốc tế về đạo đức nghề nghiệp không giống với quan niệm của
Việt Nam. Từ trước tới nay ở Việt Nam, nói đến đạo đức nghề nghiệp, chúng ta
thường liên tưởng tới việc một người có dối trá, lừa gạt, vi phạm pháp luật, v.v...
hay không? Trong khi đó theo quan niệm của quốc tế, nói đến đạo đức nghề
nghiệp là nói đến các tiêu chuẩn nghề nghiệp như trình độ, năng lực chuyên
môn, kinh nghiệm thực tế, v.v... hoặc các quan hệ về kinh tế tài chính như góp
vốn, đầu tư, vay nợ, v.v... Tuân thủ nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp là đảm bảo
được sự độc lập, khách quan và không lệ thuộc vào các quan hệ kinh tế tài chính
trong quá trình hành nghề. Nhưng tổng hợp những quan niệm đạo đức nghề
phán đoán của tôi, tôi sẽ tránh mọi điều xấu và bất công. Tôi sẽ không trao chất
độc cho bất kỳ ai, kể cả khi họ yêu cầu và không tự mình gợi ý cho họ. Tôi
suốt đời hành nghề cho sự vô tư và thân thiết. Dù vào bất cứ nhà nào, tôi cũng
20
chỉ vì lợi ích của người bệnh, tránh mọi hành vi xấu xa, cố ý, nhất là tránh cám
dỗ phụ nữ thiếu niên, tự do hay nô lệ. Dù tôi có nhìn hoặc nghe thấy gì trong
xã hội trong và cả ngoài lúc hành nghề của tôi, tôi sẽ xin im lặng trước những
điều không bao giờ cần để lộ ra và coi sự kín đáo trong trường hợp đó như một
nghĩa vụ.
Ở nước ta danh y Lê Hữu Trác cũng đòi hỏi người thầy thuốc chân chính
phải là người nêu cao tám đức tính: Nhân, Minh, Trí, Đức, Thành, Lượng,
Khiêm, Cần; và tránh xa tám điều tội lỗi: Lười, Tham, Keo, Lừa dối, Bất nhân,
Hẹp hòi, Thất đức, Dốt. Với một ý nghĩa nhất định, có thể coi: Tu, Tề, Trị, Bình,
nêu gương như là một chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp mà Nho giáo đòi hỏi ở
những nhà quản lý xã hội.
Vấn đề đạo đức nghề nghiệp đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập trong
nhiều tác phẩm của Người. Năm 1927, tác phẩm “Đường Kách mệnh” của
Nguyễn Ái Quốc được xuất bản là một trong những văn kiện lý luận quan trọng
đầu tiên dùng để truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào cách mạng
Việt Nam. Ngay từ đầu tác phẩm “Đường Kách mệnh”, Người đã chỉ ra những
đức tính cần có của một người cách mạng như sau:
“Tự mình phải:
Cần kiệm
Hoà mà không tư
Cả quyết sửa lỗi mình
Cẩn thận mà không nhút nhát
Hay hỏi
Nhẫn nại (chịu khó)
chủ tương lai của đất nước. Quan điểm đạo đức nghề nghiệp của Người bắt
nguồn từ tư tưởng nhân văn cao cả và đạo đức cách mạng. Bác cho rằng việc tu
dưỡng đạo đức, đặc biệt là đạo đức nghề nghiệp của người cán bộ phải được đặt
lên hàng đầu trong việc thực hiện nhiệm vụ công tác. Qua tìm hiểu tư tưởng Hồ
Chí Minh về đạo đức của người cán bộ, công chức thì ta thấy được phạm trù
22
trung tâm là “đức” và “tài”. Đức và Tài trong công cuộc xây dựng, đổi mới đất
nước hiện nay, được Đảng và Nhà nước ta rất coi trọng và đặt ra những yêu cầu
nhất định đối với cán bộ, công chức, nhất là cán bộ lãnh đạo và quản lý các
ngành, các cấp.
Chủ tịch Hồ Chí Minh coi đạo đức là cái gốc, là nền tảng của người cán
bộ cách mạng, là “nguồn cội” làm cho tinh thần cách mạng không bao giờ
cạn: Cũng như sông phải có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn;
cây phải có gốc, không có gốc thì cây khô héo. Người cách mạng phải có đạo
đức cách mạng, không có đạo đức thì dù có tài giỏi đến mấy cũng không thể
lãnh đạo nhân dân được. Người chỉ rõ: “Đạo đức là cái gốc của người cán bộ,
trăm sự thành bại đều do cán bộ tốt hay xấu”.
Khi nói, người cán bộ, công chức có đức, có tài là muốn đề cập đến
những khía cạnh hết sức cụ thể chẳng hạn: Phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo
đức, trình độ học vấn, chuyên môn, năng lực quản lý, điều hành… Ta có thể
hiểu phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức thuộc về phạm trù đạo đức; còn
trình độ và năng lực… thuộc về phạm trù tài. Song việc tạm tách như vậy chỉ
mang tính chất tương đối, bởi ngay trong từng việc cụ thể đức và tài bao chứa ở
trong nhau. Trong một chừng mực nào đó giữa hai phạm trù đức và tài trong đạo
đức của người cán bộ luôn cần sự thể hiện thống nhất như một chỉnh thể. Đòi
hỏi cán bộ, công chức phải có đức, có tài trong thực thi công vụ là muốn đề cập
tới những tiêu chuẩn chung nhất của người cán bộ, công chức. Đối với cán bộ
công chức, cán bộ quản lý nhà nước nhất thiết phải có kiến thức về khoa học