ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ NGÂN
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG
TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2013 HÀ NỘI - 2013
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1. NỘI DUNG VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC GIÁO DỤC
ĐẠO ĐỨC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG
CAO ĐẲNG TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI 13
1.1. Các khái niệm cơ bản 13
1.1.1. Khái niệm đạo đức 13
1.1.2. Khái niệm đạo đức xã hội chủ nghĩa 16
1.1.3. Khái niệm lý tưởng cách mạng 18
1.2. Nội dung giáo dục đạo đức xã hội chủ nghĩa cho sinh viên các trường
Cao đẳng. 21
1.2.1. Giáo dục lòng yêu nước và tinh thần tự hào dân tộc, yêu nước gắn
liền với yêu chủ nghĩa xã hội. 21
1.2.2. Giáo dục ý thức tự giác, sáng tạo trong học tập và nghiên cứu
khoa học. 25
1.2.3. Giáo dục lý tưởng cách mạng, lối sống cho sinh viên 27
1.3. Tầm quan trọng của việc giáo dục đạo đức xã hội chủ nghĩa cho sinh
viên các trường Cao đẳng trên địa bàn Hà Nội 35
1.3.1. Những đặc điểm cơ bản của sinh viên một số trường Cao đẳng trên
địa bàn Hà Nội. 35
1.3.2. Tầm quan trọng của việc giáo dục đạo đức xã hội chủ nghĩa cho
sinh viên các trường Cao đẳng trên địa bàn Hà Nội. 43
Chương 2. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG GIÁO DỤC
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau hơn 25 năm tiến hành đổi mới toàn diện đất nước, Đảng ta, nhân
dân ta đã và đang thu được những thành tựu hết sức to lớn, có ý nghĩa lịch sử,
đưa nước ta thoát khỏi tình trạng nước nghèo kém phát triển, bước vào nhóm
nước đang phát triển có thu nhập trung bình.
Những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội đã và đang tạo điều kiện
thuận lợi cho sinh viên được rèn luyện, phấn đấu vươn lên vì ngày mai lập
thân, lập nghiệp. Bên cạnh những chuyển biến tích cực, sự tác động mạnh mẽ
từ mặt trái của cơ chế thị trường, của toàn cầu hóa và hội nhập thế giới, đã và
đang làm nảy sinh những hiện tượng tiêu cực, ảnh hưởng không tốt đến đạo
đức, lối sống của thanh niên nói chung và sinh viên nói riêng, làm cho không
ít thanh niên, sinh viên sa ngã, hư hỏng, xa rời các giá trị đạo đức tốt đẹp của
dân tộc, có thái độ thờ ơ, bàng quan trước các sự kiện kinh tế, chính trị của
đất nước. Đáng lo ngại là một bộ phận học sinh, sinh viên suy thoái đạo đức,
mờ nhạt lý tưởng, thực dụng, thiếu hoài bão lập thân, lập nghiệp vì tương lai
bản thân và tiền đồ đất nước.
Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc Hội Sinh viên Việt Nam lần thứ VIII
năm 2009 đã đánh giá: Bên cạnh những ưu điểm và thành tựu mà sinh viên
Việt Nam đã đạt được, hiện nay vẫn còn:
Một bộ phận sinh viên chưa xác định được mục tiêu, động cơ học
tập đúng đắn, thiếu kiên trì, quyết tâm, chưa chăm chỉ học tập, thiếu
trung thực trong thi cử, kiểm tra, chưa thể hiện rõ ước mơ, hoài bão,
thụ động, thiếu ý chí vươn lên, ứng xử kém, tinh thần trách nhiệm
xã hội còn hạn chế, có những biểu hiện chưa tốt về lối sống, mắc tệ
6
nạn xã hội, vi phạm pháp luật, một bộ phận sinh viên còn dễ bị lợi
dụng, lôi kéo vào những hoạt động với mục đích xấu
Là một bộ phận của giới trẻ, sinh viên các trường Cao đẳng trên địa bàn
Hà Nội cũng không nằm ngoài sự biến động đó. Cùng với sự phát triển chung
công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước” của Ban tư tưởng - Văn hoá Trung
ương (Nxb Chính trị Quốc gia, HN, 2004). Trong cuốn sách này nội dung lý
luận cũng như thực tiễn đạo đức xã hội xã hội chủ nghĩa được nhóm biên soạn
trình bày một cách khá hệ thống. Ngoài ra những chuẩn mực, giá trị đạo đức
truyền thống của dân tộc cũng được trình bày một cách có hệ thống trên
những nét cơ bản. Trên cơ sở đó, nhóm các nhà biên soạn đã đề xuất phương
hướng và giải pháp xây dựng đạo đức mới cho đội ngũ cán bộ, đảng viên
trong giai đoạn hiện nay.
+ “ Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh với việc nâng cao đạo đức cách
mạng cho cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay” của PGS,TS
Nguyễn Thế Kiệt ( Nxb CTQG xuất bản năm 2011). Trong cuốn sách này,
tác giả đề cập đến 2 vấn đề lớn. Một là, nguồn gốc bản chất và nội dung đạo
đức cách mạng Hồ Chí Minh; hai là, đạo đức người cán bộ lãnh đạo quản lý
hiện nay- Thực trạng và giải pháp ( dưới ánh sáng đạo đức cách mạng Hồ
Chí Minh). Đây là một trong những tài tham khảo có giá trị khi nghiên cứu
đạo đức học.
+ “Xây dựng đạo đức gia đình ở nước ta hiện nay” của TS Nguyễn
Thị Thọ ( Nxb CTQG xuất bản năm 2011). Trong cuốn sách này, tác giả
đề cập đến 3 vấn đề lớn. Thứ nhất là một số vấn đề lý luận về đạo đức gia
đình. Thứ hai là kinh tế thị trường và sự tác động của nó đối với đạo đức
gia đình ở nước ta hiện nay và thứ ba là một số giải pháp định hướng đối
với việc xây dựng đạo đức gia đình ở nước ta hiện nay. Trong đó tác giả
8
nhấn mạnh việc đẩy mạnh công tác giáo dục đạo đức gia đình đáp ứng yêu
cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước.
+ “Thanh niên và lối sống của thanh niên Việt Nam trong quá trình
đổi mới và hội nhập quốc tế” do Phạm Hồng Tung chủ biên( Nxb CTQG
xuất bản năm 2011). Công trình chuyên khảo này là một trong những sản
phẩm khoa học của Đề tài cấp Nhà nước mã số KX.03.16/06-10. Công
nay” của Trần An Bình (Luận văn Thạc sĩ Triết học 2011).
+ “Giá trị đạo đức truyền thống với việc xây dựng Y đức cho sinh viên
các trường cao đẳng Y tế ở thành phố Hà Nội hiện nay” của Mai Thị Minh
Nghĩa( Luận văn Thạc sĩ Triết học 2011).
+ “Vấn đề giáo dục đạo đức cho sinh viên tỉnh Tuyên Quang hiện nay”
của Trương Thị Thu Ngà( Luận văn thạc sĩ triết học 2012)
+ “Phát huy giá trị đạo đức truyền thống dân tộc trong việc xây dựng
đạo đức mới cho sinh viên ở Nam Định hiện nay” của Vũ Thị Mai (Luận văn
thạc sĩ triết học 2012)
- Các bài viết nghiên cứu có liên quan đến đề tài.
Trong nhiều năm qua, trên một số tạp chí – nhất là các tạp chí thuộc
lĩnh vực lý luận chính trị - đã đăng tải nhiều bài viết liên quan đến đạo đức,
trong đó có một số bài viết trực tiếp bàn đến vấn đề giáo dục đạo đức nói
chung, giáo dục đạo đức cho sinh viên nói riêng, thí dụ :
+ “ Về việc tạo ra bước chuyển mạnh mẽ trong xây dựng nền đạo đức
mới ở nước ta hiện nay” của Nguyễn Văn Phúc (Tạp chí Triết học số 11,
2006).Trong bài viết này, tác giả đi sâu phân tích sự cần thiết phải tạo ra bước
chuyển mạnh mẽ trong xây dựng nền đạo đức mới ở nước ta hiện nay, để đáp
ứng yêu cầu phát triển đất nước.
10
+ “ Về tính quy luật của sự hình thành hệ giá trị và chuẩn mực đạo đức
mới” của Nguyễn Văn Phúc (Tạp chí Triết học số 3, 2007). Trên cơ sở quan
điểm duy vật lịch sử, tác giả Nguyễn Văn Phúc đã đi sâu phân tích tính quy
luật cũng như sự cần thiết của sự hình thành hệ giá trị và chuẩn mực đạo đức
mới ở nước ta hiện nay. Hệ giá trị và chuẩn mực đạo đức này nhìn chung khá
bao quát, trong đó có học sinh, sinh viên.
+ “ Thực trạng đạo đức của đội ngũ cán bộ, đảng viên nước ta hiện
nay qua văn kiện Đại hội XI của Đảng” của Trần Sỹ Phán (Tạp chí Triết học
số 8, 2011). Trong bài viết này, trên cơ sở tổng hợp số liệu thu thập được, tác
Trên cơ sở nhận thức về giáo dục đạo đức xã hội chủ nghĩa, phân tích
thực trạng giáo dục đạo đức xã hội chủ nghĩa cho sinh viên các trường Cao
đẳng trên địa bàn Hà Nội và nguyên nhân của nó; đưa ra một số giải pháp chủ
yếu nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục đạo đức xã hội chủ nghĩa
cho sinh viên các trường Cao đẳng trên địa bàn Hà Nội
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt được mục đích nói trên, luận văn cần thực hiện những nhiệm vụ
cơ bản như sau:
- Góp phần làm sáng tỏ nội hàm của khái niệm đạo đức xã hội chủ
nghĩa, tầm quan trọng, nội dung giáo dục đạo đức xã hội chủ nghĩa cho sinh
viên các trường Cao đẳng trên địa bàn Hà Nội.
- Tìm hiểu thực trạng của giáo dục đạo đức xã hội chủ nghĩa cho sinh
viên các trường Cao đẳng trên địa bàn Hà Nội
- Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường giáo dục đạo đức xã
hội chủ nghĩa cho sinh viên các trường Cao đẳng trên địa bàn Hà Nội 12
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề giáo dục đạo đức xã hội chủ
nghĩa cho sinh viên trong phạm vi các trường Cao đẳng trên địa bàn Hà Nội
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử; kết hợp với các phương pháp lịch sử và lôgic,
phân tích và tổng hợp, điều tra xã hội học, thống kê để thực hiện đề tài.
6. Đóng góp của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham
khảo trong nghiên cứu, giảng dạy những vấn đề liên quan đến giáo dục đạo
đức ở các trường đại học, cao đẳng.
7. Kết cấu của luận văn
lề thói, tập tục. Hai danh từ đó chứng tỏ rằng, khi ta nói đến đạo đức, tức là
nói đến những lề thói tập tục và biểu hiện mối quan hệ nhất định giữa người
và người trong sự giao tiếp với nhau hàng ngày. Sau này người ta thường
phân biệt hai khái niệm, moral là đạo đức, còn Ethicos là đạo đức học.
Ở phương Đông, các học thuyết về đạo đức của người Trung Quốc cổ
đại bắt nguồn từ cách hiểu về đạo và đức của họ. Đạo là một trong những
phạm trù quan trọng nhất của triết học Trung Quốc cổ đại. Đạo có nghĩa là
con đường, đường đi, về sau khái niệm đạo được vận dụng trong triết học để
chỉ con đường của tự nhiên. Đạo còn có nghĩa là con đường sống của con
người trong xã hội.
Khái niệm đức đầu tiên xuất hiện trong Kim văn đời nhà Chu và từ đó
trở đi nó được người Trung Quốc cổ đại sử dụng nhiều. Đức dùng để nói đến
nhân đức, đức tính và nhìn chung đức là biểu hiện của đạo, là đạo nghĩa, là
nguyên tắc luân lý. Như vậy có thể nói đạo đức theo quan niệm của người
14
Trung Quốc cổ đại chính là những yêu cầu, những nguyên tắc do cuộc sống
đặt ra mà mỗi người phải tuân theo.
Ở phương Tây, vấn đề đạo đức từ lâu đã thu hút sự quan tâm của nhiều
nhà tư tưởng. Cho đến nay, người ta vẫn coi Xôcrát ( 469 – 399 trCN) là
người đầu tiên đặt nền móng cho khoa học Đạo đức học. Còn Arixtốt (384 –
322 trCN) đã viết bộ sách Đạo đức học với 10 cuốn, trong đó ông đặc biệt
quan tâm đến phẩm hạnh con người. Nội dung của phẩm hạnh chính là chỗ
biết định hướng đúng, biết làm việc thiện. Ông nói: Chúng ta bàn về đạo đức
không phải để biết đức hạnh là gì mà là để trở thành con người có đức hạnh.
Trong lịch sử Đạo đức học, Êpiquya ( 341 – 271 trCN) là người đầu
tiên đưa ra phạm trù lẽ sống vào Đạo đức học và là một trong những người có
công luận giải về sự tự do của con người
Ngày nay, đạo đức được định nghĩa như sau:
“Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc,
nó bao gồm hành vi của cá nhân đối với xã hội (đối với tổ quốc, nhà nước,
giai cấp mình và giai cấp khác…) và đối với người khác. Những chuẩn mực
và quy tắc đạo đức nhất định được công luận của xã hội, hay một giai cấp,
dân tộc thừa nhận. Ở đây quan niệm của cá nhân về nghĩa vụ của mình đối
với xã hội và đối với người khác (khuôn phép hành vi) là tiền đề của hành vi
đạo đức của cá nhân. Đã là một thành viên của xã hội, con người phải chịu sự
giáo dục nhất định về ý thức đạo đức, một sự đánh giá đối với hành vi của
mình và trong hoàn cảnh nào đó còn chịu sự khiển trách của lương tâm…Cá
nhân phải chuyển hóa những đòi hỏi của xã hội và những biểu hiện của chúng
thành nhu cầu, mục đích và hứng thú trong hoạt động của mình. Biểu hiện của
sự chuyển hóa này là hành vi cá nhân tuân thủ những ngăn cấm, những
khuyến khích, những chuẩn mực phù hợp với những đòi hỏi của xã hội…Do
16
vậy sự điều chỉnh đạo đức mang tính tự nguyện, và xét về bản chất, đạo đức
là sự lựa chọn của con người phù hợp với sự phát triển của xã hội.
Thứ ba, đạo đức là một hệ thống các giá trị, các hiện tượng đạo đức thường
biểu hiện dưới hình thức khẳng định, hoặc là phủ định một hình thức chính
đáng, hoặc không chính đáng nào đó. Nghĩa là nó bày tỏ sự tán thành hay
phản đối trước thái độ hoặc hành vi ứng xử của các cá nhân, giữa cá nhân với
cộng đồng trong một xã hội nhất định. Vì vậy, đạo đức là một nội dung hợp
thành hệ thống giá trị xã hội. Sự hình thành phát triển và hoàn thiện hệ thống
giá trị đạo đức không tách rời sự phát triển và hoàn thiện của ý thức đạo đức
và sự điều chỉnh đạo đức. Nếu hệ thống giá trị đạo đức phù hợp với sự phát
triển, tiến bộ, thì hệ thống ấy có tính tích cực, mang tính nhân đạo. Ngược lại,
thì hệ thống ấy mang tính tiêu cực, phản động, phản nhân đạo.
1.1.2. Khái niệm đạo đức xã hội chủ nghĩa
Trả lời các câu hỏi: Có đạo đức cộng sản hay không, có luân lý cộng sản
hay không, V. I. Lênin khẳng định rằng: “ Tất nhiên là có. Người ta thường
bảo chúng ta không có đạo đức của chúng ta, và giai cấp tư sản buộc tội
cao cả. Tư tưởng nhân đạo cốt lõi trong đạo đức cộng sản là: tất cả vì con
người, tôn trọng con người, thương yêu con ngưòi, giải phóng con người, tạo
mọi điều kiện cho con người được phát triển tự do và toàn diện trong mối
quan hệ hài hoà giữa cá nhân và tập thể, cộng đồng và xã hội. Chỉ có chủ
nghĩa cộng sản mới đem lại hạnh phúc thực sự cho con người.
Để hình thành đạo đức mới - đạo đức trong xã hội cộng sản chủ nghĩa,
chúng ta phải tích cực đấu tranh với những quan điểm đạo đức lạc hậu,
phản động đang ngăn cản quá trình phát triển lịch sử. Đại diện cho đạo đức
cộng sản là giai cấp vô sản, sứ mệnh của nó là thủ tiêu tận gốc sự bóc lột
và áp bức dưới bất cứ hình thức nào, và về khách quan nó tiêu biểu cho lợi
18
ích của toàn thể quần chúng lao động, nó bao hàm nhiều nhân tố đạo đức
chung của cả loài người.
Trong xã hội hiện nay, bên cạnh những truyền thống đạo đức tốt đẹp của
dân tộc và của nhân loại đang trở thành nguồn sức mạnh tinh thần vô cùng to
lớn của sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, thì cũng đang còn không ít
những vấn đề thuộc về lĩnh vực đạo đức cần phải giải quyết. Đó là cuộc đấu
tranh giữa lối sống lành mạnh, trung thực, vị tha, nhân ái thấm đượm tình
người sâu sắc với lối sống thực dụng, ích kỷ, chạy theo đồng tiền bất chính,
sẵn sàng chà đạp lên nhân phẩm người khác.
Đứng trước sự suy thoái đạo đức, sự phát triển lệch chuẩn nhân cách so
với yêu cầu xã hội trong một bộ phận nhân dân đòi hỏi chúng ta “phải tăng
cường công tác giáo dục tư tưởng chính trị, rèn luyện đạo đức cách mạng,
chống chủ nghĩa cá nhân ”, lành mạnh hoá đời sống tinh thần xã hội – đây là
một nhiệm vụ quan trọng của công cuộc đổi mới đất nước hiện nay.
1.1.3. Khái niệm lý tưởng cách mạng
Theo Từ điển tiếng Việt, lý tưởng là “mục đích cao nhất, tốt đẹp nhất
mà người ta mong muốn đạt tới”. Theo từ điển xã hội học, lý tưởng là “những
khát khao, nguyện vọng, tư tưởng về tương lai tốt đẹp mà con người hằng
Điều 2, Luật Giáo dục (năm 2005) viết: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo
con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm
mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân,
đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã viết: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát
20
vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam
và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”.
Với những điều đã trình bày như trên, có thể thấy, khái niệm “lý
tưởng cách mạng” luôn có nội hàm là “độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”.
Hai nhân tố độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội có mối quan hệ biện chứng
với nhau, chúng là điều kiện, tiền đề cho nhau. Theo đó, “độc lập dân tộc là
điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ
sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc. Xây dựng chủ nghĩa xã hội và
bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược có quan hệ chặt
chẽ với nhau”.
Như vậy, lý tưởng cách mạng là những khát khao, nguyện vọng của mỗi
người và toàn thể dân tộc Việt Nam về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
- Về khái niệm lý tưởng cách mạng của thanh niên
Lý tưởng cách mạng của thanh niên không tách rời lý tưởng của Đảng,
của dân tộc, đó là những khát khao, nguyện vọng về độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội. Bước vào công cuộc đổi mới, trong điều kiện của cơ chế kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, lý tưởng cách
mạng của thanh niên là tiếp tục phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống cho sinh viên nhằm
hướng đến các chuẩn mực xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn cách
thể thiếu được để phát triển thế hệ trẻ, nhằm xây dựng ở họ lòng yêu nước
nồng nàn, thiết tha gắn bó với độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức
trong sáng, có ý chí và quyết tâm xây dựng quê hương, đất nước giàu mạnh.
Đó là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, trong đó nhà trường
luôn đóng vai trò trực tiếp và quan trọng.
22
Giáo dục chủ nghĩa yêu nước cho thanh niên Việt Nam, đòi hỏi phải có
hệ thống giải pháp mang tính đồng bộ và khoa học, trước hết cần quan tâm
nhận thức và giải quyết một số nội dung cơ bản như sau:
Thứ nhất, cụ thể hóa các phương thức biểu hiện của chủ nghĩa yêu nước
Việt Nam trong thời kỳ mới để sinh viên dễ hiểu, dễ tiếp thu và chuyển hóa
thành hành động cách mạng.
Chúng ta đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH trong điều kiện
đất nước đã hoàn toàn độc lập, nhân dân được sống trong hòa bình. Do vậy,
yêu nước trong điều kiện hiện nay chính là sự cố gắng phấn đấu học tập, tu
dưỡng và rèn luyện; là tinh thần lao động cần cù, sáng tạo và tiết kiệm của
mỗi người dân để làm ra ngày càng nhiều của cải vật chất cho xã hội; tham
gia tích cực và có hiệu quả vào công cuộc xóa đói giảm nghèo, làm giàu chính
đáng cho bản thân, gia đình và cho xã hội để qua đó, góp phần phát triển kinh
tế đất nước.
Thanh niên, sinh viên Việt Nam dù ở cương vị nào cũng phải nỗ lực
hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, thực hiện tốt nghĩa vụ và trách nhiệm công
dân, phấn đấu góp phần đưa nước ta thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, từng bước
vươn lên theo kịp các nước trong khu vực và thế giới. Do vậy, thế hệ trẻ ngày
nay cần thể hiện lòng yêu nước của mình bằng hành động dũng cảm, sáng tạo,
xung kích trong phát triển kinh tế; năng động, nhạy bén “đi tắt đón đầu” trong
học tập nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ vào sản xuất,
đem lại năng suất, chất lượng và hiệu quả cao, hạ giá thành sản phẩm, xây
dựng nên những thương hiệu Việt có sức cạnh tranh cao trên trường quốc tế.
hợp của toàn dân tộc, chúng ta cần phải “tăng cường tuyên truyền, giáo dục
tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc, trách nhiệm và nghĩa vụ… cho mọi người”
Trong đó, việc tích cực đổi mới, lựa chọn, kết hợp và vận dụng sáng tạo các
24
phương pháp, hình thức tuyên truyền, giác ngộ chủ nghĩa yêu nước giữ vai trò
hết sức quan trọng. Đặc biệt, cần kết hợp chặt chẽ giữa tuyên truyền, giáo dục
chủ nghĩa yêu nước với đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước trong sinh
viên. Thi đua chính là điều kiện, tiền đề quan trọng để biến lòng yêu nước
thành hành động cách mạng tự giác của mọi người.
Thứ ba, tạo ra các điều kiện và môi trường xã hội thuận lợi, làm cơ sở
và động lực để phát huy chủ nghĩa yêu nước Việt Nam trong điều kiện mới.
Trong điều kiện hiện nay, nhiều sinh viên có tinh thần yêu nước, nhưng họ lại
khó có thể thể hiện những hành vi yêu nước, khi họ còn rất khó khăn, thiếu
thốn, để lập nghiệp. Khi sinh viên đã ý thức được họ cần phải làm gì để thể
hiện tinh thần yêu nước thì vai trò của Đảng và Nhà nước trong việc tạo những
điều kiện và môi trường thuận lợi cho sinh viên có những hoạt động cụ thể,
thiết thực góp phần vào sự ổn định, phát triển đất nước là vô cùng quan trọng.
Đảng và Nhà nước phải không ngừng nâng cao chất lượng lao động
trẻ, giải quyết việc làm, tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho sinh viên sau
khi ra trường. Huy động nhiều nguồn lực xã hội, đầu tư ngân sách thoả đáng
để đẩy mạnh dạy nghề, hoàn thiện chính sách đào tạo nghề, giải quyết việc
làm; có chính sách tín dụng ưu đãi cho các cơ sở dạy nghề, đặc biệt các nghề
kỹ thuật cao; đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng dịch vụ thị trường lao động; tín
dụng ưu đãi cho sinh viên vay tạo việc làm, lập nghiệp; khuyến khích sinh
viên đi lao động, học tập có thời hạn ở nước ngoài. Xây dựng chiến lược
truyền thông quốc gia về định hướng nghề nghiệp, việc làm cho sinh viên.
Bảo đảm cơ cấu hợp lý trong đào tạo công nhân kỹ thuật, trung cấp chuyên
nghiệp, cao đẳng. Tập trung đào tạo hình thành nguồn nhân lực khoa học -
công nghệ có chất lượng cao, nhất là công nghệ thông tin, công nghệ mới đáp
mình làm và đưa ra những lựa chọn đúng đắn. Đồng thời là đích mà chúng ta