Quá trình thực hiện chính sách ruộng đất ở hà tĩnh từ năm 1945 đến năm 1975 - Pdf 33

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
_______________________________

BÙI THỊ TRANG

QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN
CHÍNH SÁCH RUỘNG ĐẤT Ở HÀ TĨNH
TỪ NĂM 1945 ĐẾN NĂM 1957

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

NGHỆ AN - 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
_______________________________

BÙI THỊ TRANG

QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN
CHÍNH SÁCH RUỘNG ĐẤT Ở HÀ TĨNH
TỪ NĂM 1945 ĐẾN NĂM 1957

Chuyên ngành: LỊCH SỬ VIỆT NAM
Mã số: 602.203.13

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

Cán bộ hướng khoa học:

TỪ NĂM 1954 ĐẾN NĂM 1957........................................................................72
3.1. Hà Tĩnh thực hiện cải cách ruộng đất.......................................................72
3.1.1. Chủ trương của Đảng........................................................................72
3.1.2. Hà Tĩnh thực hiện công cuộc cải cách ruộng đất..............................76


3.2. Hà Tĩnh thực hiện sửa sai, hoàn thành cải cách ruộng đất.......................85
3.2.1. Chủ trương của Đảng........................................................................85
3.2.2. Hà Tĩnh thực hiện sửa sai, hoàn thành cải cách ruộng đất................89
3.3. Tác động của cải cách ruộng đất và sửa sai đối với nông dân và nông
thôn..................................................................................................................95
CHƯƠNG 4. TỔNG QUAN KẾT QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH RUỘNG
ĐẤT Ở HÀ TĨNH VÀ MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM...........................99
4.1. Kết quả của quá trình thực hiện chính sách ruộng đất ở Hà Tĩnh............99
4.2. Hạn chế của quá trình thực hiện chính sách ruộng đất ở Hà Tĩnh.........102
4.3. Bài học kinh nghiệm từ quá trình thực hiện chính sách ruộng đất ở Hà
Tĩnh thời kỳ 1945-1957.................................................................................108
4.3.1. Nắm vững mục tiêu kết hợp hai vấn đề dân tộc – dân chủ trong quá
trình thực thi chính sách ruộng đất............................................................108
4.3.2. Phải xuất phát từ thực tế đất nước và địa phương để xác định đường
lối, chủ trương và thi hành chính sách ruộng đất cho phù hợp.................110
4.3.3. Về phương pháp phát động quần chúng phải chú trọng khâu tuyên
truyền giáo dục quần chúng......................................................................113
4.3.4. Kế hoạch phát động quần chúng thực hiện chính sách ruộng đất phải
đảm bảo tính kế thừa, nhiệm vụ kết hợp phải có trọng tâm và phục vụ cho
thực hiện chính sách ruộng đất..................................................................114
4.3.5. Phải đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng, đảm bảo nguyên tắc dân
chủ.............................................................................................................116
4.3.6. Phải nắm vững và thực hiện đúng đường lối giai cấp ở nông thôn.116
Tiểu kết chương 4:........................................................................................119

Tuy nhiên việc giải quyết mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ chiến lược cách
mạng ấy tùy thuộc vào những điều kiện lịch sử cụ thể.


2

Trong thời kỳ Cách mạng tháng Tám, Đảng ta đặt nhiệm vụ giải phóng dân
tộc lên hàng đầu, nhiệm vụ dân chủ chỉ thực hiện có mức độ, cụ thể là chỉ lấy
ruộng đất của bọn đế quốc, bọn tay sai tạm cấp cho nông dân sản xuất... nhằm
ưu tiên cho nhiệm vụ giải phóng dân tộc.
1.2. Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời nhằm đem lại những quyền lợi chính
đáng cho giai cấp công nhân và đông đảo quần chúng nông dân. Trong cương
lĩnh ngày 3-2-1930, Đảng cộng sản Việt Nam đã đề ra nhiệm vụ của cách mạng
Việt Nam là “tư sản dân quyền cách mệnh và thổ địa cách mệnh”. Nhiệm vụ
phản đế được giương cao nhằm thực hiện độc lập dân tộc, nhiệm vụ phản phong
được thực hiện ở mức độ nhất định. Đường lối đúng đắn đó đã tập hợp đông đảo
quần chúng nhân dân lao động làm nên sự thắng lợi của cách mạng Tháng Tám.
Cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
từng bước thực hiện khẩu hiệu “người cày có ruộng” như giảm tô, giảm tức, tạm
cấp ruộng đất vắng chủ cho nông dân. Những biện pháp đó tạo sự tin tưởng,
phấn khởi cho nông dân, huy động được nhân dân góp sức người sức của cho
cuộc kháng chiến chống Pháp.
Chỉ hơn một năm sau Cách mạng tháng Tám dân tộc ta lại phải tiến hành
cuộc kháng chiến chống Pháp. Vấn đề gải quyết ruộng đất cho nông dân từng
bước được thực hiện theo yêu cầu của cuộc kháng chiến và mức độ khác nhau ở
mỗi địa phương.
Tháng 12/1953, Luật cải cách ruộng đất được thông qua và thực hiện ở toàn
miền Bắc nhằm củng cố sức dân, tập trung cho cuộc kháng chiến. Sau khi hòa
bình được lập lại công cuộc cải cách ruộng đất được tiếp tục nhằm thực hiện
triệt để khẩu hiệu “người cày có ruộng”. Đến năm 1957, công cuộc cải cách

trên cả nước.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề ruộng đất trong cách mạng dân tộc dân chủ Việt Nam đã được nhiều
học giả nghiên cứu. Có thể kể đến các tác phẩm chủ yếu sau: “Vấn đề dân cày”


4

của Qua Ninh và Vân Đình, “ Nông dân và nông thôn trong lịch sử Việt Nam”
tập 1 và tập 2 của Viện Sử học, “Phác qua tình hình ruộng đất và nông dân
trước Cách mạng Tháng Tám” của Nguyễn Kiên Giang.
Ở những tác phẩm trên các tác giả đã phản ánh khá cụ thể tình trạng thiếu
ruộng cày và gánh nặng sưu thuế mà người nông dân phải chịu đựng.
Tác giả Qua Ninh và Vân Đình trong “Vấn đề dân cày” đã phản ánh khá cụ
thể tình hình người nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám trên cả ba
miền với tình trạng thiếu ruộng canh tác do nạn kiêm tinh ruộng đất của phong
kiến và thực dân, tình trạng bóc lột tô cao thuế nặng, tình trạng cho vay nặng lãi
và hối lộ, bên cạnh đó thiên tai gây lũ lụt cũng làm cho tình cảnh người nông
dân thêm khốn đốn.
“Cách mạng ruộng đất ở Việt Nam” của tập thể tác giả ở Viện kinh tế do
Trần Phương chủ biên là công trình nghiên cứu tương đối công phu về cuộc
cách mạng phản phong ở nước ta. Các tác giả cũng đã phác họa một cách cơ bản
tình hình ruộng đất ở nước ta trước năm 1945, trong đó tập trung làm rõ tình
trạng thiếu ruộng của người dân, tác phẩm cũng đã đi sâu nghiên cứu về quá
trình thực hiện chính sách ruộng đất của nhà nước ở các tỉnh miền Bắc 1945 cho
đến hết cải cách ruộng đất và sửa sai cũng như chính sách ruộng đất ở miền núi
và ở miền Nam. Các tác giả đã đánh giá một cách khách quan thành quả, hạn
chế cũng như rút ra bài học kinh nghiệm từ quá trình thực hiện chính sách ruộng
đất ở nước ta.
Tác phẩm “Đánh giá cho đúng những thắng lợi của nhiệm vụ phản phong

4. Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
4.1. Nhiệm vụ
Luận văn nghiên cứu quá trình thực hiện chính sách ruộng đất ở Hà Tĩnh từ
sau Cách mạng tháng Tám ở các phương diện sau:
+ Tình hình ruộng đất, nông dân, nông thôn Hà Tĩnh trước Cách mạng tháng
Tám.


6

+ Thực hiện chính sách ruộng đất và giảm tô ở Hà Tĩnh từ năm 1945 đến
năm 1954.
+ Thực hiện cải cách ruộng đất từ năm 1954 đến năm 1957.
4.2. phạm vi nghiên cứu
4.2.1. Phạm vi thời gian
Luận văn nghiên cứu quá trình thực hiện chính sách ruộng đất ở tỉnh Hà
Tĩnh trong thời gian từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1957.
4.2.2. Phạm vi không gian
Luận văn nghiên cứu quá trình thi hành chính sách ruộng đất trên phạm vi
toàn tỉnh Hà Tĩnh
5. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1. Nguồn tài liệu
Để giải quyết nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi đã sử dụng các nguồn tài liệu sau:
+ Tài liệu lưu trử:
Các văn bản lưu trử bao gồm Báo cáo, Chỉ thị, Hồ sơ tổng kết của TW và Hà
Tĩnh về thực hiện chính sách ruộng đất ở Hà Tĩnh. Đây là nguồn tài liệu hết sức
quan trọng. Tuy nhiên chúng tôi có một số khó khăn khi tiếp cận nguồn tài liệu
này. Đó là nguồn tài liệu được lưu giữ không đầy đủ, các số liệu của các nguồn
lưu trử không thống nhất, có khi cùng một cơ quan nhưng con số trong các văn
bản chênh lệch nhau quá lớn.

Chương 2. Thực hiện chính sách ruộng đất và giảm tô ở Hà Tĩnh từ năm
1945 đến năm 1954
Chương 3. Thực hiện cải cách ruộng đất từ năm 1954 đến năm 1957
Chương 4. Tổng quan kết quả thực hiện chính sách ruộng đất ở Hà Tĩnh và
một số bài học kinh nghiệm


8

CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH RUỘNG ĐẤT, NÔNG DÂN
VÀ NÔNG THÔN HÀ TĨNH TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM
1.1. Vài nét về tỉnh Hà Tĩnh
Nằm trên giải đất chắn ngang giữa chiều dài của đất nước, Hà Tĩnh có vị trí
rất quan trọng về mặt chính trị và lịch sử. Mọi con đường xuyên dọc đất nước từ
Bắc vào Nam đều phải qua địa phận Hà Tĩnh. Trong lịch sử, đã từng có một thời
gian khá dài Hà Tĩnh từng là miền đất “phên dậu” ở Phương Nam của Tổ Quốc.
Đất đai Hà Tĩnh thoai thoải theo chiều dốc từ Tây sang Đông. Dãy Trường
Sơn sừng sững phía Tây làm chổ dựa, đồng thời cũng là đường phân giới tự
nhiên giữa Hà Tĩnh với các tỉnh KhămMuộn và BôLiKhămXây của nước Lào.
Phía Đông là biển Đông trải rộng mênh mông. Phía Bắc là tỉnh Nghệ An vốn từ
xưa đã cùng chung trong “xứ Nghệ”. Phía Nam dãy Hoành Sơn từ Trường Sơn
đổ ra biển làm đường phân giới với tỉnh Quảng Bình.
Đất đai Hà Tĩnh không rộng, diện tích toàn tỉnh chỉ có trên 6.054 km2,
chiếm khoảng 1,7% diện tích toàn quốc, là một tỉnh trung bình của nước ta.
Hình thể Hà Tĩnh giống như một hình thang lệch, bề rộng phía Bắc là 85 km,
phía Nam là 90 km, chiều dài theo bờ biển là 137 km, dọc theo biên giới Việt
Lào là 143 km.
Đất đai Hà Tĩnh phân bố không đều, đồi núi chiếm phần lớn diện tích trong
tỉnh, hầu hết ở miền đất phía Tây và phía Nam (4.101 km2 là rừng núi, chiếm
80% diện tích toàn tỉnh). Dãy Trường Sơn soải rộng ra thành từng lớp đồi trọc,

đại bộ phận từ cột 7. Có vùng như Hương Lâm, Hương Liên thuộc Hương Khê
cao tới mức 78, ruộng phần nhiều là bậc thang mà không thành những vùng rộng
lớn, có tính cách xén nhỏ ra từng mảnh. Có 5 xã ở miền núi vùng Kỳ Anh thuộc
lưu vực chạy về Quảng Bình củng nằm vào tình trạng ấy.


10

Những vùng đồng ruộng, dọc theo các chân núi Trường Sơn, Tùng Lĩnh,
Thiên Nhẫn, Hồng Lĩnh hay các đồi núi khác trong 6 huyện mức cao trên 250
đến 350 và thấp dần xuống.
Vùng ven biển thuộc năm huyện Nghi Xuân, Thạch Hà, Can Lộc, Cẩm
Xuyên và Kỳ Anh từ đường số 1 trở ra biển mức đất từ 2,00 đến 1,50 có nơi
0,50 và củng có khoảnh lại cao trên mức 3,00.
Cũng do tình hình mức đất như vậy nên ruộng đất phần nhiều là bậc thang,
hoặc là dõi cao, dõi thấp không thành vùng đồng bằng rộng lớn, chỉ có một vùng
như Mỹ, Quang, Huy, Thành thuộc Cẩm Xuyên; Xuân, Đại, Khánh, Trung thuộc
Can Lộc; Lâm, Trung, Nhân, Bùi, Xá, Diển thuộc Đức Thọ; An, Giang, Viên
thuộc Nghi Xuân là những vùng tương đối bằng rộng mà thôi.
Một số xã ngoài đê La Giang có đất phù sa, 15 xã nghi xuân và các xã ven
biển của Thạch Hà, Can Lộc, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh đất cát còn thì đất pha sét
hoặc pha cát.
Vùng đất cát ven biển, ven sông, hay ở vùng Hương Khê, Hương Sơn
thường nước rất chóng bị ngấm, chỉ sau mưa một thời gian 15 đến 20 ngày là hết
nước bị hạn. Còn vùng sét tuy giữ được nước lâu ít thấm, nên vụ chiêm thường
ít bị hạn, song đến vụ mùa đầu vụ thường bị cạn khô nẻ, lúc này đất không được
ẩm nên nhiều vùng đất không thể canh tác được.
Hà Tĩnh là một tỉnh có nhiều núi, và chính do Núi đã ngăn cách trong tỉnh ra
những lưu vực cách biệt nhau: dọc theo biên giới Lào – Việt từ Tây Bắc đến Tây
Nam, có dãy núi Trường Sơn ngăn cách ở phía Bắc, chân dãy núi này ăn ra giáp

dãy núi từ Lĩnh Cam vào Quảng Bình và ở dãy Hoành Sơn, đồng thời củng là
một nguồn sinh thủy quan trọng, nhưng số diện tích đồi trọc còn chiếm rất nhiều
nên lúc mưa nước về nhanh dễ gây nên nạn lụt lớn.
Mặt khác, núi phần nhiều là núi đất nên có nhiều thung lũng đủ các loại nhỏ,
vừa, lớn có điều kiện thuận lợi cho việc làm các loại hồ chứa nước. Trừ các dãy


12

núi ở ven biển nhiều đá lại dốc đứng nên khó cho việc làm hồ chứa, nhất là dãy
Hồng Lĩnh.
Mạng lưới sông ngòi của Hà Tĩnh khá dày đặc. Tính ra ở dọc ven biển và
các dãy núi có 5 hệ thống sông chảy ra 5 cửa biển. Ngoài ra còn một lưu vực
chảy về Quảng Bình.
Hai con sông Ngàn Sâu và Ngàn Phố cùng với các nhánh của nó trải ra khắp
miền Hương Sơn và Hương Khê, đến ngã ba tam soa dưới chân núi Tùng (Linh
Cảm), thì hợp thành dòng sông La chảy qua Đức Thọ, rồi nhập vào sông Lam ở
Đức Quang (Đức Thọ). Từ đó sông Lam chạy dọc theo hai tỉnh Nghệ An và Hà
Tĩnh, rồi đổ ra cửa hội (Nghi Xuân). Ngoài ra trong tỉnh còn có nhiều con sông
khác, như Minh Lương (Can Lộc), Ngàn Mọ, Hộ Độ (Thạch Hà), sông Rác (Cẩm
Xuyên)...và những kênh đào chạy dọc từ Bắc vào Nam.
Lưu vực Sông La rộng 3.161 km2 là lưu vực rộng nhất chiếm hơn ½ toàn
tỉnh. Còn hai lưu vực sông Ngàn Sâu (Hương khê và một phần Đức Thọ), và
sông Ngàn Phố (Hương Sơn) hợp thành cùng với phần ngoài đê La Giang (Đức
Thọ). Những lưu vực này lại cùng hợp lại với lưu vực sông Cả của Nghệ An
rộng lớn hợp thành sông Lam chảy ra cửa Hội. Chiều dài của sông này nếu tính
từ phát nguyên nơi xa nhất là 136 km. Do đó tuy lưu vực này có nhiều cây
nhưng vì rộng nên hàng năm thường mang về rất nhiều lụt lớn. Trong 10 năm
qua đã xãy ra hai lần vỡ đê gây nhiều thiệt hại cho nhân dân. Dòng sông lại hợp
và cạn, núi dốc nên hàng năm nước mang về rất nhiều cát bồi lấp lòng sông, gây

phối ra làm 3 vùng:
+ Vùng mưa ít gồm có Đức Thọ, Hương Sơn, Nghi Xuân và Can Lộc.
Lượng mưa như sau:
Địa điểm
Can lộc
Trung lương

Trung bình
1817,5
1750,8

Cao nhất

Thấp Nhất

2311,0 (42)
2122,0 (40)

1390 (1937)
1437 (37)

Ngày mưa lớn
nhât
585 (23-9-58)
181 (19-3-37)


14

Linh cảm

gây nên lụt hay có khi cuối vụ chiêm lại bị mưa tiểu mãn gây nên lụt úng.
Nước mạch: ở những vùng ven núi và vùng đất cát như Nghi Xuân, hay một
số xã ven biển ở Can Lộc, Thạch Hà, Cẩm Xuyên và Kỳ Anh thường có nước
mạch, bình thường chỉ đào xuống chừng 2 mét là có nước mạch. Ở một số vùng
khác tuy không phải vùng ven đồi cát hay ven núi như Thạch Việt, Thạch Kênh
đã đào thử thấy xuống sâu 6 mét có một lớp cát 1m50 cũng có mạch nước.
Nhưng nước mạch thường không phải là mạch có áp lực mà chỉ nhỉ trong
cát, đất, đá ra nên nhân dân thường chỉ đào giếng để dùng nước ăn chứ chưa
dùng để tưới ruộng, trừ một vài xã ở Cẩm Xuyên, Kỳ Anh hay Nghi Xuân khi bị
hạn nặng có dùng một ít.
Vùng biển Hà Tĩnh rộng khoảng 20.000 km2 với nhiều đảo to nhỏ. Bờ biển
dài 137 km, phần lớn là bằng phẳng. Từ Nghi Xuân đến đèo Ngang có nhiều cửa
biển tốt như cửa Hội (Nghi Xuân), cửa Sót (Thạch Hà), cửa Nhượng (Cẩm


15

Xuyên), cửa Khẩu (Kỳ Anh). Một số cửa biển đang được xây dựng thành những
bến cảng cho tàu bè ra vào mở ra nhiều triển vọng tốt đẹp cho sự giao lưu quốc tế.
Tình hình thiên tai:
Hà Tĩnh là một tỉnh mưa nhiều, nhưng phân phối không đều thường gây ra
hạn, lụt lớn, lại là một tỉnh ven biển nên thêm một nạn nước mặn uy hiếp.
Trước Cách mạng tháng Tám, bị đế quốc phong kiến thống trị đã khổ cực
trăm đường thêm thiên tai hàng năm hoành hành, nên cuộc đời của người nông
dân Hà Tĩnh hết sức cực khổ lũ lụt liên tiếp xãy ra, hạn luôn luôn uy hiếp. Từ
khi chính quyền về tay cách mạng, tuy chúng ta có cố gắng rất nhiều để hạn chế
tác hại của thiên tai song việc sản xuất còn lệ thuộc vào thiên nhiên mà quần
chúng vẫn còn phải chịu những tai họa lớn.
Về hạn hán: Về vụ chiêm thì nhiều năm đầu vụ bị hạn hàng vạn ha bị hạn
phải cấy muộn. Nghiêm trọng nhất là cấy ra rồi không đủ nước để lúa trổ lại gặp

thuộc nhóm Mã Liêng và Cọi, cư trú ở miền núi cao huyện Hương Khê. Dân cư
phân bố không đều, vùng đồng bằng dọc sông, ven biển tuy diện tích chỉ có hơn
20% nhưng chiếm tới hơn 70% dân số toàn tỉnh.
Cư dân Hà Tĩnh làm ăn sinh sống chủ yếu bằng hoạt động kinh tế nông
nghiệp. Bằng sức lao động cần cù, tinh thần chịu đựng gian khổ, khắc phục khó
khăn, những người dân ở đây đã khai phá, cải tạo đất đai thành ruộng đồng tốt
tươi, từ đó hình thành các xóm làng trù phú, đông vui.
Rừng núi bạt ngàn là kho của cải vô giá với đủ các loại gỗ quý như lim, gụ,
sến, táu... Rừng còn cung cấp hàng trăm loại lâm sản quý khác có giá trị như tre,
nứa, mây, củ nâu, nấm hương, mộc nhĩ, sa nhân, quế... Bên cạnh đó là những
loại động vật quý hiếm, kèm theo những mỏ khoáng sản quý để phát triển
nghành công nghiệp khai khoáng. Không chỉ vậy, xung quanh rừng còn có
những đồng cỏ trải rộng mênh mông, thuận lợi cho việc phát triển nghành chăn
nuôi gia súc lớn. Suốt bờ biển từ cửa Hội vào đèo ngang là những nơi đánh cá,


17

biển Hà Tĩnh có nhiều loại cá ngon và các loại tôm, cua, mực... Hà Tĩnh có
nhiêu vùng làm muối biển.
Do nhu cầu tự túc, tự cấp, từ xưa ở Hà Tĩnh đã có một số nghề thủ công cổ
truyền gắn liền với nền kinh tế nông nghiệp như lụa Hạ, đồ rèn Trung Lương, đồ
mộc Thái Yên (Đức Thọ), nón lá Kỳ Anh... Ngoài ra, phải kể đến các sản phẩm
thủ công gia đình như đồ tre, chiếu cói, võng gai, quạt giấy...
Hà Tĩnh còn là một vùng văn hóa phát triển rực rỡ qua các thời kỳ lịch sử
của dân tộc. Ham học hỏi, tôn sư trọng đạo vốn là truyền thống tốt đẹp của nhân
dân trong tỉnh. Nơi đây đã sản sinh ra nhiều danh nhân như đại thi hào Nguyễn
Du với Truyện Kiều bất hủ, nhà thơ kiêm nhà kinh tế thủy lợi Nguyễn Công
Trứ, Danh y Hải thượng lãn ông Lê Hữu Trác, nhà sử học Nguyễn Nghiễm với
Việt Sử Bị Lãm (7 quyển).

công ty S.A.N.A (công ty nông nghiệp Bắc Trung Kỳ)... Các điền này chủ yếu
trồng cà phê, lúa, ngoài ra còn trồng ngô, khoai, vừng, đậu, chè và về sau có thí
nghiệm trồng cây cọ dầu.
Do tình hình khí hậu thời tiết và đất đai của Hà Tĩnh nên có hai vụ chính là
vụ chiêm và vụ mùa, hoa màu và cây công nghệ chính là trong vụ chiêm. Ở
những vùng thấp lụt và có điều kiện nước, nhân dân củng có cấy lúa trong vụ
mùa. Lúa mùa vùng ven biển thường trỉa vại thay cho cấy nước vì đầu vụ phần
lớn không mưa.
“Diện tích canh tác toàn Tỉnh: 86.853 ha.
Ruộng hai vụ lúa: 36.742 ha.
Ruộng một vụ lúa 1 vụ màu: 12.793,9 ha.
Ruộng một vụ chiêm: 19.254,9 ha.
Ruộng một vụ mùa: 5.197,7 ha.
Đất trồng màu: 9.443,6 ha.
Đất gieo mạ: 3.422,6 ha.


19

Trong thời kỳ Pháp thuộc vụ chiêm cấy được: 48.233 ha, vụ mùa cấy được:
31.520 ha.”[124,tr6]
Nhưng hàng năm đại bộ phận bị hạn hán, nhiều năm hạn kéo dài từ tháng 3
đến tháng 8, có năm tháng giêng đã bị hạn, lụt lội thì từ tháng 9 đến tháng 11 do
đó nhiều năm vụ chiêm lúa lỗ ko nước nên lúc thu hoạch không được gì, khoai
bị sùng hà, không củ.... Vụ mùa thì bị ngập lụt khi lúa lỗ hay chắc xanh. Trung
thủy nông thì nơi có vài ba cái như đập Hòa Dục tưới 275 ha, Nham Xá tưới 150
ha, Mạc Khê làm ra mà không dùng được, hoặc một số cống dưới đê nước mặn,
đập của nhà chung hoặc địa chủ nhưng đều phải làm lại.
Sản lượng vụ chiêm 946 kg/ha, vụ mùa 779 kg/ha.
Trước Cách mạng tháng Tám, đời sống nông dân và nông thôn Hà Tĩnh có

Nhất là khoản thuế đinh (còn gọi là thuế thân hay là sưu, đánh vào đầu
người). “Từ năm 1897, thực dân Pháp bắt đầu đẩy mạnh cuộc khai thác thuộc
địa lần thứ nhất ở Việt Nam, thuế thân đã nhảy vọt từ 3 hào lên 2 đồng 3 hào,
tăng 12 lần. Sau đó cứ tăng dần cho đến sau chiến tranh thế giới thứ nhất thì mỗi
người đàn ông từ 18 đến 60 tuổi phải đóng 2 đồng 9 hào, nếu cộng cả khoản tiền
công tư ích thì mức thuế lên tới 3 đồng 6 hào, hơn giá 3 tạ lúa thời đó”. [22,tr50]
Dưới thời thực dân Pháp thống trị, ở Hà Tĩnh không có một cơ sở sản xuất
công nghiệp nào đáng kể. Các nghành nghề thủ công của nhân dân trong tỉnh vốn
có truyền thống lâu đời đã không được tư bản Pháp khuyến khích phát triển, bị
kìm hãm, hạn chế trong phạm vi địa phương chật hẹp nên ngày càng mai một dần.
Dưới ách thống trị tàn bạo của đế quốc và phong kiến, những người làm
nghề thủ công hay buôn bán nhỏ củng chịu tai họa thuế má khủng khiếp. Nạn
cho vay nặng lãi hoành hành ở nông thôn và thị trấn củng góp phần làm cho
nhiều chủ thủ công hay nhà buôn lâm vào con đường bần cùng hóa và phá sản
hàng loạt.
Đời sống văn hóa, giáo dục và xã hội của nhân dân Hà Tĩnh dưới thời thuộc
Pháp vô cùng lạc hậu thấp kém.


21

Trong bối cảnh kinh tế - xã hội đó, sự phân hóa giai cấp ngày càng rõ rệt.
Giai cấp nông dân chiếm tuyệt đại bộ phận xã hội, đồng thời cũng là đối
tượng của chính sách bần cùng hóa của thực dân Pháp, họ phải chịu đựng nhiều
nhất và cũng bị phân hóa mạnh nhất. Nông dân bị mất ruộng đất phải tìm kế sinh
sống bằng nhiều cách. Số đông nông dân phải nhận ruộng đất cày cấy nộp tô, trở
thành những tá điền cho địa chủ. Số khác phải bỏ nhà đi lang thang làm thuê
cuốc mướn kiếm ăn lần hồi. Còn một số cũng khá đông đi vào các nhà máy xí
nghiệp của Pháp ở Vinh – Bến Thủy, hay vào các đồn điền trong tỉnh. Một số
nữa phải đi vào Nam Bộ, để rồi bỏ xác lại những đồn điền cao su trong đó.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status