BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
---------------------------
PHÙNG THẾ TUẤN
MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ
GIẢNG VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KỸ THUẬT VĨNH LONG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN, 2015
BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
---------------------------
PHÙNG THẾ TUẤN
MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ
GIẢNG VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KỸ THUẬT VĨNH LONG
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học
1.3.2. Yêu cầu về đội ngũ giảng viên trường Đại học sư phạm kỹ thuật.....................17
1.4. Một số vấn đề về phát triển đội giảng viên trường Đại học sư phạm kỹ thuật.........20
1.4.1. Mục tiêu, nội dung phát triển đội ngũ giảng viên trường Đại học sư phạm kỹ
thuật Vĩnh Long...........................................................................................................20
1.4.2. Những yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến công tác phát triển đội ngũ giảng viên
trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long.............................................................23
Chương 2..............................................................................................................................28
THỰC TRẠNG VỀ ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN & CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ
GIẢNG VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC...................................................................................28
SƯ PHẠM KỸ THUẬT VĨNH LONG................................................................................28
2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Long.............28
2.1.1. Điều kiện tự nhiên..............................................................................................28
2.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội...................................................................................30
2.2. Khái quát về nguồn nhân lực và công tác đào tạo nghề tỉnh Vĩnh Long..................31
2.2.1. Nhu cầu về nguồn nhân lực tỉnh Vĩnh Long..........................................................31
2.2.2. Công tác đào tạo nghề tỉnh Vĩnh Long..............................................................32
2.3. Khái quát về trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long.....................................33
2.4. Thực trạng đội ngũ giảng viên và phát triển đội ngũ giảng viên trường Đại học sư
phạm kỹ thuật Vĩnh Long.................................................................................................40
2.4.1. Giới thiệu việc tổ chức khảo sát thực trạng đội ngũ giảng viên và phát triển đội
ngũ giảng viên ở trường ĐHSPKT Vĩnh Long............................................................40
2.4.2. Thực trạng đội ngũ giảng viên trường ĐHSPKT Vĩnh Long.............................42
Bảng 2.5 : Thống kê ĐNGV theo giới, thành phần chính trị, trình độ lý luận chính trị
chủ yếu.............................................................................................................................45
Bảng 2.6: Thống kê ĐNGV theo trình độ chuyên môn và trình độ sư phạm.................48
2.4.3. Thực trạng công tác phát triển đội ngũ giảng viên trường Đại học sư phạm kỹ
thuật Vĩnh Long...........................................................................................................55
2.5. Đánh giá chung về thực trạng đội ngũ giảng viên và hoạt động phát triển đội ngũ
- Trường nỗ lực nhiều hơn nữa để đẩy mạnh hoạt động NCKH và chuyển giao CN, trở
thành trung tâm khoa học của khu vực ĐBSCL. Nhà trường từng bước hoàn thiện cơ sở vật
chất, kỹ thuật đáp ứng cho yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng theo hướng hiện đại; thực hiện kiểm
định chất lượng giáo dục theo hướng bền vững; nâng cao uy tín và vị thế nhà trường trong
quá trình đổi mới chất lượng giáo dục và đào tạo theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ XI và Chiến lược giáo dục 2011-2020; đến cuối thập kỷ tới trở thành một
trong những trường đại học mạnh của vùng, có uy tín trong hệ thống đại học nước nhà và
được sự thừa nhận của cộng đồng đại học quốc tế. TÀI LIỆU THAM KHẢO................102
PHỤ LỤC...........................................................................................................................104
1. Phụ lục 1: Phiếu khảo sát...........................................................................................104
2. Phụ lục 2: (Bảng 2.9: Thống kê tỷ lệ đánh giá thực trạng ĐNGV)............................110
3./ Phụ lục 3: (Bảng 2.10: Thống kê tỷ lệ đánh giá hoạt động phát triển ĐNGV).........113
1
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và nghiên cứu hoàn thành luận văn, tôi luôn nhận
được sự giúp đỡ tận tình quý báu của quý cơ quan, trường học, quý nhà giáo, bạn bè
và đồng nghiệp. Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến:
- Xin trân trọng cảm ơn GVC. TS. Phan Quốc Lâm đã trực tiếp hướng dẫn
tác giả nghiên cứu trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp.
- Đảng ủy, Ban Giám Hiệu trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long đã
tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi được tham gia học tập và hoàn thành chương
trình Thạc sĩ khoa học giáo dục.
- Ban Giám hiệu, Khoa Giáo dục, Phòng Khoa học Công nghệ và Sau đại
học trường Đại học Vinh, Đại học Long An, quý thầy cô đã tận tình giảng dạy và
giúp đỡ chúng tôi trong suốt quá trình học tập, cung cấp những kiến cần thiết để
chúng tôi nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
- Ban Giám hiệu, các phòng, khoa, giảng viên trường Đại học Sư phạm Kỹ
Trung cấp nghề
Trung cấp chuyên nghiệp
Trung tâm dạy nghề
Ủy ban nhân dân
Xã hội chủ nghĩa
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Thống kê số lượng giảng
viên…………………………………………..42
BCHTW
CNH, HĐH
ĐBSCL
ĐNGV
GD&ĐT
GVDN
CSDN
GV
HSSV
KT – XH
LĐ – TB&XH
NCKH
NXB
QLGD
ĐH SPKT
TCDN
TCN
TCCN
TTDN
UBND
4
xã hội, nâng cao dân trí, thúc đẩy con người phát triển toàn diện. Vận nước hưng
suy phụ thuộc vào giáo dục. Đại kế giáo dục, người thầy là gốc. Có thầy tốt mới có
giáo dục tốt. “Tôn sư trọng đạo” là truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta và không
ngừng được vun đắp, phát triển. Nhà giáo có vị trí vô cùng quan trọng trong xã hội,
đó là người truyền đạt kiến thức, là nhà giáo dục trong việc hình thành và phát triển
kỹ năng sống, đạo đức cho HSSV, là tấm gương sáng để HSSV noi theo.
Chỉ thị 40–CT/TW ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư về việc “Xây dựng, nâng
cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục” chỉ rõ: “Số lượng
giảng viên còn thiếu nhiều, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc
thiểu số... Cơ cấu giảng viên đang mất cân đối giữa các môn học, bậc học, vùng
miền. Chất lượng chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ nhà giáo có mặt chưa đáp
ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và phát triển kinh tế-xã hội…”[1, tr.1].
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ
sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với
phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và
đào tạo là đầu tư phát triển. Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo theo
nhu cầu phát triển của xã hội; nâng cao chất lượng theo yêu cầu chuẩn hoá, hiện
đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế, phục vụ đắc lực sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội và điều
kiện cho mọi công dân được học tập suốt đời” [18, tr.6].
Đây là tư duy mang tầm chiến lược, thể hiện quan điểm toàn diện, khách
quan, khoa học của Đảng Cộng sản Việt Nam. Bởi hơn lúc nào hết, phát triển
ĐNGV vững mạnh, toàn diện, vừa "hồng” vừa “chuyên” là yêu cầu cấp thiết của
giáo dục Việt Nam hiện tại. Yêu cầu phát triển ĐNGV được Đại hội XI chỉ rõ là
phải "xây dựng ĐNGV đủ về số lượng, đáp ứng yêu cầu về chất lượng" [18, tr.58],
là khâu then chốt, là tiền đề trong đổi mới giáo dục và đào tạo
Quyết định 630/QĐ-TTg ngày 29/5/2012 của Thủ tướng chính phủ về phê
những lợi thế đặc biệt của Vĩnh Long trong sự phát triển kinh tế, được gia nhập vào
vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, nên thu hút khá nhiều dự án đầu tư trong nước
và nước ngoài, tạo động lực thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
của tỉnh theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Trong thời gian qua, khi các
khu, cụm công nghiệp đi vào hoạt động, nhu cầu lao động, đặc biệt là lao động qua
6
đào tạo nghề rất lớn. Mặt khác, dân số trong độ tuổi lao động tăng lên hàng năm,
cùng với số lao động chưa qua đào tạo, lao động chưa có việc làm ngày càng nhiều
nên công tác đào tạo cán bộ có tay nghề ngày càng cấp thiết hơn.
Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật (ĐHSPKT) Vĩnh Long tiền thân là Trường
Trung học Kỹ thuật Vĩnh Long được thành lập vào năm 1958. Sau khi miền nam
hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước, Trường Trung học Kỹ thuật Vĩnh Long
được Nhà nước tiếp quản. Ngày 31 tháng 5 năm 1976 Bộ trưởng Bộ Lao Động
thương Binh và Xã Hội ký Quyết định thành lập Trường Giảng viên Dạy nghề Cửu
Long. Tháng 8 năm 1978 trường được đổi tên thành Trường Sư phạm Kỹ thuật IV.
Ngày 24 tháng 9 năm 1997 trường được Thủ tướng Chính Phủ ký Quyết định nâng
cấp thành Trường Cao đẳng Sư phạm Kỹ Thuật IV, trực thuộc Bộ Giáo Dục và Đào
Tạo. Ngày 03 tháng 7 năm 1998 trường được đổi tên thành Trường Cao đẳng Sư
phạm Kỹ thuật Vĩnh Long, trực thuộc Tổng cục dạy nghề, Bộ Lao động – Thương
binh và Xã hội. Ngày 11/11/2013, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số
2152/QĐ-TTg thành lập trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long đến nay.
Là trường Đại học duy nhất trực thuộc Bộ lao động thương binh và xã hội
đóng trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long. Trong các năm qua trường Đại học Sư phạm Kỹ
thuật Vĩnh Long đã có nhiều đóng góp cung cấp đào tạo nguồn nhân lực phục vụ sự
nghiệp phát triển KT – XH của tỉnh và khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Tuy
nhiên, trước những yêu cầu đổi mới của công tác đào tạo đại học, trường vẫn còn
nhiều bất cập như:
Nếu đề xuất và thực hiện được các giải pháp có cơ sở khoa học và có tính
khả thi thì sẽ phát triển được ĐNGV trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long
đảm bảo về số lượng, chất lượng, cơ cấu giảng viên. Từ đó, nâng cao được chất
lượng đào tạo đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế -xã hội
của tỉnh và khu vực.
6. Phạm vi nghiên cứu
- Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu, khảo sát, đánh giá thực trạng
ĐNGV và phát triển đội ngũ GV trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long
trong thời gian 2010 – 2014 và đề xuất một số giải pháp để thực hiện trong thời gian
tới.
8
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa, khái quát hóa các tài liệu liên quan để
xây dựng cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát: Quan sát hoạt động quản lý của cán bộ quản lý để
có thông tin đầy đủ hơn về thực trạng quản lý ĐNGV.
- Phương pháp điều tra: Điều tra bằng phiếu thăm dò gửi Ban Giám hiệu,
lãnh đạo các phòng/khoa chuyên môn, GV để khảo sát thực trạng ĐNGV, tình hình
đào tạo nghề, các hoạt động quản lý phát triển ĐNGV và tính cần thiết và tính khả
thi của các giải pháp đề xuất.
- Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến chuyên gia, cán bộ quản lý của
phòng, khoa, chuyên môn, tổ trưởng bộ môn, GV về tính cấp thiết, khả thi, hiệu quả
của các giải pháp đã đề xuất.
7.3. Nhóm phương pháp nghiên cứu bổ trợ
Phương pháp toán thống kê để xử lý các số liệu thu được về mặt định lượng.
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT VĨNH LONG
1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Các nghiên cứu ở ngoài nước
Khi nghiên cứu về vai trò quản lý, các nhà lý luận quản lý quốc tế như:
Fredrerich Wiliam Taylor (1856 - 1915) – Mỹ; Henri Fayol (1841 - 1925) – Pháp;
Max Weber (1864 - 1920) – Đức, đều khẳng định: Quản lý vừa là khoa học vừa là
nghệ thuật thúc đẩy sự phát triển xã hội. Từ năm 1980, nhà xã hội học người Mỹ,
Leonard Nadle đã đưa ra sơ đồ quản lý nguồn nhân lực để diễn tả mối quan hệ và
các nhiệm vụ của công tác quản lý nguồn nhân lực. Ông cho rằng quản lý nguồn
nhân lực phải có 3 nhiệm vụ chính (cùng với các nhiệm vụ thành tố) là: i) Phát triển
nguồn nhân lực (gồm GD&ĐT, bồi dưỡng, phát triển, nghiên cứu, phục vụ); ii) Sử
dụng nguồn nhân lực (gồm tuyển dụng, sàng lọc, bố trí, đánh giá, đãi ngộ, kế hoạch
hóa sức lao động); iii) Môi trường nguồn nhân lực (gồm mở rộng chủng loại việc
làm, mở rộng quy mô làm việc, phát triển tổ chức)– (dẫn theo [19, tr.13]).
Khi đề cập đến ĐNGV, ngoài sự thống nhất về nội dung các nhiệm vụ quản
lý với quản lý phát triển nguồn nhân lực, thời gian gần đây những nghiên cứu trên
thế giới đều dành sự quan tâm đặc biệt đến chất lượng GV; đề cao việc thúc đẩy
phát triển bền vững và thích ứng nhanh của mỗi GV và cả đội ngũ…(dẫn theo [29,
tr.14]).
Một nghiên cứu trong công trình chung của các thành viên OECD (Tổ chức
hợp tác phát triển Châu Âu) đã chỉ ra chất lượng nhà giáo gồm 5 mặt: i) Kiến thức
phong phú về phạm vi chương trình và nội dung bộ môn mình dạy; ii) Kỹ năng sư
phạm, kể cả việc có được “kho kiến thức” về PPDH, về năng lực sử dụng những
phương pháp đó; iii) Có tư duy phản ánh trước mỗi vấn đề và có năng lực tự phê,
nét rất đặc trưng của nghề dạy học; iv) Biết cảm thông và cam kết tôn trọng phẩm
11
12
Vĩnh Long. Do đó, việc nghiên cứu phát triển ĐNGV của trường Đại học Sư phạm Kỹ
thuật Vĩnh Long một cách hệ thống, sâu, rộng trong giai đoạn hiện nay cần được quan
tâm thực hiện.
1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Giảng viên và đội ngũ giảng viên
1.2.1.1. Khái niệm giảng viên
Luật Giáo dục năm (2005) tại khoản 3, điều 70 quy định: “Nhà giáo giảng
dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là
GV; ở cơ sở giáo dục đại học gọi là giảng viên”[25, tr.25].
Như vậy, giảng viên đó là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà
trường hoặc các cơ sở giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân nhằm thực hiện
mục tiêu giáo dục là truyền tải tri thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, xây dựng, hình
thành và phát triển nhân cách cho người học đáp ứng với yêu cầu nhân lực của thị
trường lao động và của phát triển kinh tế - xã hội.
1.2.1.2. Khái niệm đội ngũ giảng viên
a). Đội ngũ: Hiện nay, có nhiều cách hiểu khác nhau về đội ngũ dùng cho
các tổ chức xã hội một cách rộng rãi như: đội ngũ cán bộ công chức, đội ngũ trí
thức…đều xuất phát theo cách hiểu thuật ngữ quân sự về đội ngũ “đó là gồm nhiều
người, tập hợp thành một lực lượng có tổ chức chặt chẽ, hàng ngũ chỉnh tề” .
Theo Từ điển Tiếng Việt “Đội ngũ là tập hợp một số đông người, cùng chức
năng nghề nghiệp thành một lực lượng”.
Như vậy, chúng ta có thể hiểu đội ngũ là một tập thể người, được tổ chức và
tập hợp thành một lực lượng cùng chung một lý tưởng, một mục đích, làm việc theo
kế hoạch, gắn bó với nhau về quyền lợi vật chất, tinh thần.
b). Đội ngũ giảng viên: Theo tác giả Nguyễn Minh Đường quan niệm
“ĐNGV trong ngành giáo dục là một tập thể người bao gồm cán bộ quản lý, GV và
để chỉ huy, điều hành, kiểm tra, điều chỉnh, phối hợp sự nỗ lực của các thành viên
trong tổ chức nhằm đạt mục tiêu đề ra.
Có nhiều khái niệm khác nhau về quản lý như: Quản lý thể hiện việc tổ chức,
điều hành tập hợp người, công cụ, phương tiện tài chính, để kết hợp các yếu tố đó
với nhau nhằm đạt được mục tiêu định trước.
14
Hiện nay, quản lý được hiểu như sau: Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu
của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức,
chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra công việc của các thành viên thuộc một hệ thống,
đơn vị và việc sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt được mục đích đã định. [22;
tr.4].
1.2.3.2. Khái niệm về quản lý sự phát triển đội ngũ giảng viên
Quản lý sự phát triển ĐNGV chính là tìm cách khuếch trương để đạt hiệu
suất cao nhất của 5 yếu tố “phát năng”: (1) GD&ĐT để toàn đội ngũ đạt đến sự
chuẩn hóa, hiện đại; (2) Thực hiện các chế độ, chính sách tốt nhất đối với GV; (3)
Tạo ra môi trường làm việc thuận lợi, đảm bảo tính hợp lý, tính xã hội hóa và tính
đồng thuận trong tổ chức; (4) Tổ chức hoạt động giảng dạy một cách hợp lý, đồng
bộ với các yếu tố số lượng, cơ cấu của đội ngũ; (5) Tăng cường cơ chế dân chủ hóa
trong hoạt động giúp GV tự phát triển bản thân [19, tr.24] thông qua việc sử dụng
các nguồn lực phù hợp để đạt được mục đích đã định của nhà trường.
1.3. Một số vấn đề về đội ngũ giảng viên trường Đại học sư phạm kỹ thuật.
1.3.1. Vị trí, vai trò của giảng viên trường Đại học sư phạm kỹ thuật
- Dân tộc ta vốn có truyền thống “tôn sư trọng đạo”, vị trí, vai trò của người
thầy luôn được xã hội tôn vinh với sự kính trọng, tin tưởng. Người thầy là người
đảm đương trọng trách đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện và đưa con người thành đạt
trong cuộc sống, sống có nhân nghĩa và làm cho xã hội ngày càng tốt đẹp hơn; Xã
hội đã đặt toàn bộ niềm tin lên vai người thầy trong vai trò “dạy chữ, dạy người” và
GVDN không những có nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực có tay nghề, kỹ thuật …
trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội mà còn nhiệm vụ lớn hơn là dạy
người, hình thành phẩm chất đạo đức của người lao động mới, ở người học phù hợp
với chuẩn mực xã hội.
- Vai trò của GVDN đối với chất lượng đào tạo: “Người thầy là nhân tố
quyết định đến chất lượng giáo dục”. Kinh nghiệm thực tế cho thấy, muốn đánh giá
chất lượng đào tạo nghề của một cơ sở đào tạo, trước hết phải nhìn vào ĐNGV. Nếu
ĐNGV được đào tạo chính quy, có năng lực thực sự, có kỹ năng, kỹ xảo nghề
nghiệp thì đó là yếu tố cơ bản để đảm bảo chất lượng đào tạo. Trình độ, kiến thức,
nhận thức của người học phụ thuộc rất nhiều vào trình độ kiến thức, năng lực lý
luận và thực tiễn; phẩm chất, nhân cách đạo đức; phương pháp truyền đạt của người
16
thầy đối với người học. Vị trí, vai trò của người thầy trên con đường nhận thức tri
thức của người học là rất quan trọng. Tuy nhiên, nếu chúng ta tuyệt đối hoá vai trò
của người thầy sẽ dẫn đến phiến diện, một chiều, chủ quan, duy ý chí. Bởi vì, trên
thực tế trình độ tư duy lý luận, kiến thức thực tế của người học có được không chỉ
thông qua một con đường duy nhất - “người thầy” mà nó được hình thành từ nhiều
con đường khác nhau như: học ở sách vở, bạn bè, đồng nghiệp, xã hội, thông qua
các phương tiện thông tin đại chúng, qua thực tiễn công tác…
Điểm nổi bật về lao động sư phạm của GVDN là vừa lao động trí óc, vừa lao
động chân tay, vừa cần chất xám và có tay nghề cao.
- Vai trò của GVDN đối với đổi mới giáo dục: Phương pháp dạy thay đổi,
từ chỗ lấy người dạy là trung tâm sang lấy người học làm trung tâm của quá trình
dạy - học, đòi hỏi người GV phải phấn đấu, rèn luyện để bước lên một tầm cao mới
tiến kịp với thời đại. Phương pháp này đòi hỏi người thầy không chỉ có kiến thức
trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt về lĩnh vực mình đảm trách mà còn phải có phương
pháp tổ chức việc học cho người học. Người thầy phải trở thành người đạo diễn,
yêu thương, trách nhiệm của người thầy đối với nghề, với các em học sinh…
Chính vì thế, Người nhắc các nhà giáo: “Dạy cũng như học đều phải biết chú
trọng cả tài và đức”.
Trong quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã là nhà giáo phải yêu người,
yêu nghề, yêu trường, yêu chủ nghĩa xã hội, điều này có ảnh hưởng trực tiếp đến
chất lượng giáo dục - đào tạo. Yêu nghề, yêu người là cơ sở để các thầy, cô yên
tâm công tác, say mê, toàn tâm, toàn ý với công việc; biết vươn lên, nâng cao năng
lực, đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp.
Nói cách khác, phẩm chất “hồng” và “chuyên” của người GV ngày nay
phải được thể hiện rõ bằng chính những việc làm cụ thể. Ở trên lớp, đòi hỏi người
GV phải cung cấp đủ lượng kiến thức, bảo đảm cho người học tiếp thu được kiến
thức bằng sự hướng dẫn tận tâm chứ không chỉ là giảng bài. Để kích thích tư duy
học sinh tự suy nghĩ, tự tìm tòi, khám phá, đòi hỏi người GV phải đầu tư, cập nhật
kiến thức trong soạn giảng; hướng vào từng cá nhân, kiên trì dành nhiều thời gian
mới phát hiện được điểm mạnh, điểm yếu của từng học sinh…
18
Người GV phải có thế giới quan khoa học đúng đắn, có định hướng thái độ,
hành vi ứng xử trước các vấn đề về thế giới tự nhiên, thực tiễn xã hội nghề nghiệp;
phải đổi mới, sáng tạo trong dạy học trước vô vàn kiến thức, nguồn tài nguyên khoa
học kỹ thuật vô tận; say mê, bền bỉ, cần cù, nghiêm túc và sáng tạo trong lao động
sư phạm… Ngoài ra, người thầy cũng cần phải cương quyết đấu tranh loại trừ
những biểu hiện chạy theo thành tích, xúc phạm đến nhân cách và thân thể học sinh,
hoặc cố kiếm tiền bằng mọi hình thức, tự đánh mất mình, làm ảnh hưởng chung đến
uy tín của đồng nghiệp, mất lòng tin của xã hội. Đặc biệt, GV phải không ngừng
nêu cao đạo đức, tác phong gương mẫu, thương yêu, gần gũi người học, gắn bó,
đoàn kết với đồng nghiệp, thực sự là tấm gương sáng cho người học noi theo.
1.3.2.2. Yêu cầu về năng lực của đội ngũ giảng viên
trình lao động đầy trách nhiệm, thương yêu, sâu sát người học, nắm vững chuyên
môn, am hiểu tâm lý người học, tâm lý học sư phạm cùng với một số phẩm chất tâm
lý cần thiết khác như sự “tinh ý” sư phạm, trí tượng tượng, khả năng phân tích, tổng
hợp …
Thứ tư là năng lực về hợp tác: GV không chỉ hợp tác với đồng nghiệp mà
với GV của môn học khác. Ngoài ra, hoạt động hợp tác của GV trong xã hội hiện
nay còn đòi hỏi phạm vi đối tượng rộng mở, đó là gia đình người học, các lực lượng
xã hội khác, đặc biệt là những thành phần liên quan đến sản phẩm giáo dục (người
sử dụng, doanh nghiệp, các cơ quan, công ty…). Trong giai đoạn hiện nay ĐNGV
cần thay đổi căn bản nhận thức về mục tiêu, phương thức giáo dục, phương pháp
dạy học.
Thứ năm là năng lực đánh giá: Năng lực đánh giá giúp cho GV nắm được
trình độ và khả năng tiếp thu bài của người học để xác nhận kết quả của một hoạt
động để bổ sung điều chỉnh trong dạy học. Để tạo được uy tín trước người học,
người GV phải có quan điểm đánh giá khách quan, chính xác và công bằng. Thái độ
và hành vi trung thực, khách quan của nhà giáo dục một mặt đảm bảo các yêu cầu
của nhiệm vụ giáo dục mặt khác tạo ra sức cảm hóa lớn đối với người học kể cả
đánh giá thành công hay hạn chế của người học. Khả năng đánh giá đúng của GV
đối với người học sẽ tác động mạnh mẽ đến kết quả tự học và kết quả rèn luyện đạo
đức cho học sinh và bản thân GV.
20
Thứ sáu là năng lực phát triển chuyên môn: Mỗi GV có thể dạy 30 – 40 năm
nhưng họ phải liên tục học hỏi, nghiên cứu. Đây là năng lực trụ cột của năng lực sư
phạm, là điều kiện để giảng dạy, “biết mười dạy một”. Ngày nay, người học không
nhất nhất cái gì cũng tuân thủ, phục tùng thầy vô điều kiện. Họ được tiếp cận rất
nhiều thông tin, hiểu biết rất nhiều, là thầy, phải chinh phục trò bằng kiến thức sâu
rộng của mình, điều đó còn có tác dụng tạo uy tín cho người thầy.
Như vậy, ĐNGV với yêu cầu đủ về số lượng phải được đặt trong mối quan
hệ hài hòa với các yếu tố kinh tế, tâm lý, chính trị, xã hội; số lượng không thể đơn
thuần về mặt số học.
b). Về cơ cấu đội ngũ giảng viên
Phát triển ĐNGV cần đồng bộ góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp của
nguồn nhân lực. Một cơ cấu hợp lý sẽ tạo ra hoạt động nhịp nhàng cho tổ chức, hạn
chế tối đa sự triệt tiêu, tăng cường sự cộng hưởng lẫn nhau giữa các yếu tố trong tổ
chức. Để phát triển ĐNGV, tất yếu phải áp dụng các giải pháp làm dịch chuyển cơ
cấu (điều chuyển, cho nghỉ việc, tuyển dụng, đào tạo bổ sung …). Các thành phần
cơ cấu ĐNGV được xem xét là:
- Cơ cấu ngành học (theo nhóm đào tạo): là xác định tỷ lệ GV hợp lý giữa
các tổ bộ môn (hoặc khoa) với chương trình của các ngành học. Mỗi GV giảng dạy
được ít nhất 02 môn và mỗi môn học có ít nhất 02 GV giảng dạy.
- Cơ cấu trình độ đào tạo: Đạt chuẩn trình độ GVDN được quy định tạo Luật
DN; Theo Thông tư số 30/2010/TT-BLĐTBXH, ngày 29/9/2010 của Bộ LĐTB&XH về Quy định chuẩn giảng viên, giảng viên dạy nghề [8].
- Cơ cấu xã hội:
+ Cơ cấu giới tính đội ngũ: So với các khu vực khác trong các cơ sở đào tạo
nghề GV nữ thường chiếm tỷ lệ thấp hơn nam giới. Do đó, về khía cạnh như điều
kiện để được đào tạo nâng cao, bồi dưỡng thường xuyên, sinh đẻ, con ốm …có tác
động đến hiệu suất lao động của đội ngũ.
+ Cơ cấu thành phần dân tộc, tôn giáo: Là sự phân bố một tỷ lệ tương đối
hợp lý về GV là người dân tộc ít người trong các cơ sở dạy nghề, cũng như đặc
điểm tôn giáo trong ĐNGV.