BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
SỤ ĐA VIÊNG SỤ PHĂN THOONG
MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
THỊ XÃ PHÔNSAVẶN, TỈNH XIÊNG KHOẢNG
NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Nghệ An, 9/2015
1
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
SỤ ĐA VIÊNG SỤ PHĂN THOONG
MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
THỊ XÃ PHÔNSAVẶN, TỈNH XIÊNG KHOẢNG
NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
CHDCND Lào
Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
CNH-HĐH
Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
CNXH
Chu nghĩa xã hội
GD&TT
Giáo dục và Thể thao
NDCM
Nhân dân cách mạng
THCS
Trung học cơ sở
THPT
Trung học phổ thông
Tổng cộng là 167 người......................................................................................41
Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống là một trong những yếu tố cấu thành nhân
cách của người Giáo viên. Không có phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống đúng
đắn thì dù có năng lực chuyên môn giỏi đến đâu thì cũng rất khó hoàn thành tốt
nhiệm vụ của Nhà giáo, Nhà khoa học và Nhà quản lý......................................44
Số liệu từ bảng 2.6 cho thấy, có tới 83,8% số người được hỏi đánh giá ở mức độ
Tốt; 13.9% số người được hỏi đánh giá ở mức độ Khá về phẩm chất chính trị,
đạo đức, lối sống của đội ngũ giáo viên. Không có ý kiến nào đánh giá ở mức độ
Chưa đáp ứng. Số ý kiến đánh giá ở mức độ Trung bình, chủ yếu liên quan đến
tác phong làm việc khoa học của đội ngũ giáo viên............................................44
Như vậy, đa số giáo viên của Trung học Phổ thông Thị xã Phônsavặn đều đáp
ứng tốt các yêu cầu về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống............................45
2.3.3. Thực trạng công tác phát triển đội ngũ giáo viên trung học phổ thông thị
xã Phônsavặn.......................................................................................................45
- Ban Giám hiệu Nhà trường: 9 người.................................................................93
iii
DANH MỤC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU
Sơ đồ 1: Mối liên hệ ba chức năng của giáo dục........Error: Reference source not
found
Sơ đồ 2: Mối quan hệ giữa kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội......Error: Reference
source not found
Bảng 2.1: Số trường, lớp, học sinh, cán bộ giáo viên THPT trên địa bàn thị xã
Phôn sa vặn ( 2014-2015):................................Error: Reference source not found
Bảng 2.2: Bảng thống kê cơ sở vật chất các trường THPT trong toàn Thị xã
năm 2014-2015:................................................Error: Reference source not found
Bảng 2.3: Kết quả xếp loại học lực, đạo đức của các trường THPT trên địa bàn
TX Phôn SaVăn................................................Error: Reference source not found
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Về mặt lý luận
Giáo dục đóng vai trò chủ yếu trong việc giữ gìn, phát triển và truyền bá
văn minh của nhân loại. Trong thời đại ngày nay khoa học công nghệ phát triển
ngày càng nhanh và bước sang giai đoạn mới, giai đoạn mà tri thức của con
người và thông tin trở thành những yếu tố hàng đầu, đây cũng là nguồn tài
nguyên có giá trị nhất, giai đoạn mà trí tuệ của con người trở thành nền móng,
động lực chính cho sự phát triển, tăng trưởng kinh tế và tiến bộ của xã hội.
Trong bối cảnh đó, giáo dục trở thành nhân tố quyết định nhất đối với sự phát
triển nhanh và bền vững của mỗi Quốc gia, mỗi dân tộc. Chính vì vậy, Chính
phủ và nhân dân các nước đã đánh giá cao vai trò của giáo dục.
Tận dụng những thời cơ, vận hội mới và vượt lên trên những thách thức,
khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ lịch sử là công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước nhằm xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, Đảng và Chính
phủ Nước CHDCND Lào đã chọn giáo dục, khoa học và công nghệ là khâu đột
phá của thời kỳ mới, hướng tới chiến lược phát triển giáo dục thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước chính là sự “phát huy yếu tố con người”,
“phát triển nguồn nhân lực”.
Khẳng định vai trò và vị trí hết sức quan trọng của giáo dục trong việc
quyết định tương lai của dân tộc, Hiến pháp nước CHDCND Lào cũng đã ghi rõ:
“ Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu”.
Để góp phần giải quyết từng bước những bất cập và mất cân đối, đồng
thời để nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả Giáo dục thì quy hoạch phát triển
giáo dục mà cụ thể là quy hoạch phát triển giáo dục THPT càng trở nên quan
trọng, thiết thực và cấp bách đối với việc phát triển giáo dục tại Tỉnh Xiêng
Khoảng Nước CHDCND Lào phục vụ cho mục tiêu phát triển Kinh tế - xã hội
thời kỳ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Chính phủ Lào.
Công tác phát triển đội ngũ giáo viên trung học phổ thông.
2
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên THPT huyện thị xã Phônsavặn, tỉnh
Xiêng Khoảng, nước CHDCND Lào.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu nghiên cứu và đề xuất được một số giải pháp có cơ sở khoa học, hợp
lý, khả thi và áp dụng một cách sáng tạo, thì sẽ phát triển được đội ngũ giáo viên
THPT thị xã Phônsavặn, tỉnh Xiêng Khoảng, nước CHDCND Lào đủ về số
lượng, đồng bộ về cơ cấu và đảm bảo về chất lượng.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên THPT
thị xã Phônsavặn, tỉnh Xiêng Khoảng, nước CHDCND Lào.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng đội ngũ giáo viên và thực trạng một số
giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên THPT thị xã Phônsavặn, tỉnh Xiêng
Khoảng, nước CHDCND Lào.
- Đề xuất một số giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên THPT thị xã
Phônsavặn, tỉnh Xiêng Khoảng, nước CHDCND Lào.
6. Phương pháp nghiên cứu
- Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp, khái
quát các văn kiện của Đảng các cấp, các chỉ thị của Chính phủ, của Bộ Giáo dục
và Thể thao, các tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
- Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Khảo sát, điều tra, thu
thập số liệu của thực tiễn liên quan đến vấn đề nghiên cứu. Phương pháp chuyên
gia, điều tra xã hội học.
- Phương pháp thống kê : Để xử lý số liệu điều tra, thăm dò tính khả thi.
7. Những đóng góp của đề tài
nghiên cứu của mình đã cho rằng “Kết quả toàn bộ hoạt động của nhà trường
phụ thuộc rất nhiều vào công việc tổ chức đúng đắn và hợp lý công tác hoạt
động của đội ngũ giáo viên”
V.A Xukhômlinxki đã tổng kết những thành công cũng như thất bại của
26 năm kinh nghiệm thực tiễn làm công tác quản lý chuyên môn nghiệp vụ của
một hiệu trưởng, cùng với nhiều tác giả khác, ông đã nhấn mạnh đến sự phân
công hợp lý, sự phối hợp chặt chẽ, sự thống nhất quản lý giữa hiệu trưởng và
phó hiệu trưởng để đạt được mục tiêu trong hoạt động chuyên môn nghiệp vụ đề
ra. Vai trò lãnh đạo, quản lý một cách toàn diện của một hiệu trưởng đã được
các tác giả đánh giá cao. Tuy nhiên, trong thực tế còn có vai trò quan trọng của
các phó hiệu trưởng, các tổ trưởng chuyên môn, các tổ chức, đoàn thể tham gia
quản lý các hoạt động chuyên môn của nhà trường. Vậy, làm thế nào để công tác
xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên đạt hiệu quả cao nhất, huy động được
tối đa sức mạnh của mỗi giáo viên ? Đó là vấn đề mà các tác giả đặt ra trong
công trình nghiên cứu của mình. Nói chung, các tác giả đều chú trọng đến việc
phân công hợp lý và các biện pháp quản lý của Hiệu trưởng
Các nhà nghiên cứu cũng đã thống nhất cho rằng: Một trong những giải
pháp hữu hiệu nhất để phát triển đội ngũ giáo viên là phải bồi dưỡng đội ngũ
giáo viên, phát huy được tính sáng tạo trong lao động của họ và tạo khả năng
ngày càng hoàn thiện tay nghề sư phạm, phải biết lựa chọn giáo viên bằng nhiều
5
nguồn khác nhau và bồi dưỡng họ trở thành những giáo viên tốt theo tiêu chuẩn
nhất định, bằng những biện pháp khác nhau.
Một số giải pháp để nâng cao chất lượng mà tác giả quan tâm là tổ chức
hội thảo chuyên môn, qua đó có điều kiện trao đổi những kinh nghiệm về
chuyên môn nghiệp vụ để nâng cao trình độ của mình. Tuy nhiên nội dung hội
thảo chuyên môn cần phải chuẩn bị kỹ, phù hợp và có tác dụng thiết thực đến
dạy học. Việc tổ chức hội thảo phải sinh động, thu hút được nhiều giáo viên
dục, nhất là đội ngũ giáo viên đang trực tiếp giảng dạy …
Để giáo dục phát triển nhanh và nhằm “Phát huy nguồn lực con người,
yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững”, khi bước vào thời kỳ mới,
Đảng và Nhà nước CHDCND Lào xác định: “Mục tiêu chủ yếu là thực hiện giáo
dục toàn diện: đức dục, trí dục, thể dục, mỹ dục ở tất cả các bậc học”.
Ngoài ra, những mục tiêu cụ thể xác định năm 2010 – 2015, Bộ GD&TT
Lào củng cố chương trình và giáo trình hệ thống phổ thông từ 11 năm nâng lên
thành 12 năm, đáp ứng ngân sách cho công tác quản lý trường học, xóa việc thu
các loại phí đối với cấp phổ thông cơ sở nhằm thực hiện chính sách phổ cập giáo
dục tiểu học toàn dân. Giai đoạn từ nay đến năm 2015, CHDCND Lào phấn đấu
đạt mục tiêu tất cả các tỉnh, thành phố đều có trường phổ thông trung học kiểu
mẫu vào năm 2014; hoàn thành việc biên soạn giáo trình và sách giáo khoa cấp
trung học vào năm 2015. Đảm bảo phần lớn thanh, thiếu niên trong độ tuổi ở
thành thị và nông thôn đồng bằng được học hết THPT, trung học chuyên nghiệp
hoặc đào tạo nghề, tạo điều kiện cho mọi người, ở mọi lứa tuổi được học tập
thường xuyên, học tập suốt đời.
Từ các nguyên tắc chung, các tác giả đã nhấn mạnh vai trò của quản lý
chuyên môn trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục. Bởi do tính chất nghề
nghiệp mà hoạt động chuyên môn của giáo viên có nội dung rất phong phú.
Ngoài giảng dạy và làm công tác chủ nhiệm lớp, hoạt động chuyên môn còn bao
gồm cả các công việc như tự bồi dưỡng và bồi dưỡng, giáo dục học sinh ngoài
giờ lên lớp, sinh hoạt chuyên môn, nghiên cứu khoa học... hay nói cách khác,
quản lý chuyên môn của giáo viên thực chất là quản lý quá trình lao động sư
phạm của người thầy.
7
Như vậy, vấn đề nâng cao chất lượng của giáo viên từ lâu đã được các nhà
nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm. Qua các công trình nghiên cứu của
họ, chúng ta thấy một điểm chung đó là: Khẳng định vai trò quan trọng của các
mọi đối tượng theo yêu cầu của xã hội.
Dân tộc Lào từ xưa đã có truyền thống “tôn sư trọng đạo”, nó đã trở thành
đạo lý của con người Lào. Trong xã hội, người thầy giáo luôn được kính trọng,
vai trò của người thầy giáo đã được xã hội đúc kết “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư”,
“không Thầy đố mày làm nên”. Lao động sư phạm của người giáo viên vừa
mang tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật nhân đạo cao. Để xứng đáng với
sự tôn vinh của xã hội, đồng thời góp phần hoàn thành CNH-HĐH đất nước
trong thời kỳ hội nhập thì đội ngũ giáo viên nói chung và đội ngũ giáo viên
trong trường THPT phải là lực lượng chủ yếu quan trọng nhất, quyết định chất
lượng đào tạo, nhằm tạo ra những sản phẩm đặc biệt: đó là những nhân cách
phát triển toàn diện đạt được mục tiêu giáo dục của nhà trường, sản phẩm đó
không được quyền có phế phẩm: “Những con người phát triển toàn diện về đức trí - thể - mỹ”.
Như vậy, giáo viên là những người làm công tác dạy học, giáo dục trong
các cơ sở giáo dục, người trực tiếp biến các chủ trương, các chương trình cải
cách, đổi mới giáo dục thành hiện thực.
1.2.1.2. Giáo viên THPT
Giáo viên THPT là những người làm công tác dạy học, giáo dục trong các
nhà trường THPT, các cơ sở giáo dục ở bậc THPT. Theo quy định tại Nước
CHDCND Lào thì trình độ chuẩn được đào tạo đối với giáo viên THPT là: Có
bằng tốt nghiệp đại học sư phạm, hoặc có bằng tốt nghiệp đại học và có chứng
chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm
1.2.2. Đội ngũ và đội ngũ giáo viên trung học phổ thông
1.2.1.1. Đội ngũ
Có nhiều quan niệm và cách hiểu khác nhau về khái niệm đội ngũ.
Theo Đại từ điển Tiếng Việt thì “đội ngũ” có nghĩa là:
(1). Tổ chức gồm nhiều người tập hợp lại thành một lực lượng.
(2). Tập hợp số đông người cùng chức năng nghề nghiệp.
9
Đội ngũ có tổ chức chặt chẽ, có ý thức kỷ luật cao, chấp hành tốt các quy
chế chuyên môn, kỷ cương, kỷ luật của nhà trường. Biết coi trọng kỷ luật, thấy
kỷ luật là sức mạnh của tập thể.
Đội ngũ giáo viên phát triển vững mạnh là mỗi cá nhân luôn luôn có ý
thức tiến thủ, ý thức xây dựng tập thể, phấn đấu trong mọi lĩnh vực. Mỗi thành
viên phải là tấm gương sáng cho học sinh noi theo.
1.2.3. Phát triển, phát triển đội ngũ giáo viên Trung học Phổ thông
1.2.3.1. Phát triển
Phát triển có thể hiểu theo nhiều nghĩa:
- Theo từ điển Tiếng Việt thì “phát triển” là sự mở mang.
- Theo nghĩa triết học, phát triển là sự vận động, biến đổi của sự vật, hiện
tượng theo chiều hướng đi lên, từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, từ thấp đến cao,
từ đơn giản đến phức tạp. Đó là một quá trình tích luỹ về lượng, dẫn đến sự thay
đổi về chất của sự vật, hiện tượng.
Như vậy, phát triển là sự biến đổi của sự vật, hiện tượng theo chiều hướng
tích cực cả về số lượng và chất lượng.
1.2.3.2. Phát triển đội ngũ giáo viên THPT
Phát triển đội ngũ giáo viên có nghĩa là làm cho đội ngũ giáo viên ngày
càng đủ về số lượng, mạnh về chất lượng và hợp lý về cơ cấu, đáp ứng yêu cầu
nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo. Việc phát triển đội ngũ giáo viên đặt ra
yêu cầu phải thực hiện các nội dung như: Kế hoạch hoá đội ngũ giáo viên, tuyển
dụng, lựa chọn giáo viên, định hướng, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sắp xếp, đề bạt
thuyên chuyển…sao cho đội ngũ đó ngày càng tiến bộ, phát huy được phẩm
chất, năng lực của mình để giảng dạy, giáo dục đạt hiệu quả ngày càng cao.
Tuy nhiên phát triển đội ngũ giáo viên là phát triển tập thể những con
người nhưng là tập thể những con người có học vấn, có nhân cách phát triển ở
trình độ cao. Vì thế trong phát triển đội ngũ giáo viên chúng ta cần chú ý một số
yêu cầu chính sau đây:
quả giáo dục, đáp ứng yêu cầu đặt ra của địa phương.
12
- Nâng cao nhận thức cho các cấp quản lý và đội ngũ giáo viên đối với
việc phát triển đội ngũ giáo viên.
- Đổi mới công tác xây dựng kế hoạch phát triển đội ngũ, tuyển dụng, bố
trí, sử dụng và thuyên chuyển giáo viên.
- Thường xuyên bồi dưỡng giáo viên nhằm không ngừng nâng cao kiến
thức và kỹ năng sư phạm cho đội ngũ giáo viên.
- Xây dựng hoàn thiện chế độ, chính sách đối với đội ngũ giáo viên
- Thực hiện đánh giá xếp loại, sàng lọc đội ngũ giáo viên theo Chuẩn nghề
nghiệp.
- Tăng cường trang bị cơ sở vật chất, thiết bị dạy học cho các trường học.
1.3. Một số vấn đề người giáo viên Trung học Phổ thông
1.3.1. Vị trí, vai trò và chức năng của người giáo viên trung học phổ thông
1.3.1.1. Vị trí, vai trò của người giáo viên THPT
Bất cứ xã hội nào cũng tạo dựng cho được vị thế xứng đáng cho người
thầy giáo của xã hội mình. Các nhà tư tưởng tiến bộ của mọi thời đại đều ca
ngợi ý nghĩa cao cả và tính ưu việt của nghề dạy học.
Nhà giáo dục người Tiệp Cômenxki đã viết: Chức vụ mà xã hội trao cho
người giáo viên là chức vụ quang vinh mà dưới ánh mặt trời này không có chức
vụ nào cao quí hơn, nhưng cũng đặt ra cho người giáo viên yêu cầu cao về lòng
nhân ái "Anh không thể như một người cha thì cũng không thể là một người
thầy".
Nhà giáo dục Đixtevec nhấn mạnh: Vai trò của người giáo viên là vô cùng
vì đối tượng chăm sóc của người giáo viên không phải là hòn đá mà là con
người", “Không có giáo viên thì thế giới sẽ trở về thời đại dã man".
Nhà giáo dục Usinxki đã đánh giá cao vai trò của người giáo viên: Sự
nhân, vừa cho tập thể nhằm xây dựng nguồn lực con người thành động lực cho
sự phát triển bền vững.
Xu thế đổi mới giáo dục của thế kỷ XXI đang đặt ra những yêu cầu mới
về phẩm chất, năng lực và làm thay đổi vai trò, chức năng của giáo viên.
14
Ngày nay khoa học, kỹ thuật, công nghệ đem lại sự biến đổi nhanh chóng
trong đời sống KT-XH thì giáo viên không chỉ đóng vai trò truyền đạt các tri
thức khoa học mà còn phát triển những cảm xúc, thái độ, hành vi đảm bảo cho
người học làm chủ được và biết ứng dụng hợp lý những tri thức đó.
Trong thời đại khoa học công nghệ phát triển nhanh và nước ta đang trong
thời kỳ tiến hành CNH-HĐH, người giáo viên phải được đào tạo ở trình độ học
vấn cao, không chỉ về khoa học tự nhiên, kỹ thuật, công nghệ mà còn phải được
đào tạo cả khoa học xã hội và nhân văn, khoa học giáo dục. Người giáo viên
phải có ý thức, nhu cầu khả năng không ngừng trong hoàn thiện, phát huy tính
độc lập, chủ động, sáng tạo trong hoạt động sư phạm cũng như biết phối hợp
nhịp nhàng với tập thể sư phạm nhà trường trong việc thực hiện mục tiêu giáo
dục.
Ngày nay phương pháp dạy học đang chuyển từ kiểu dạy học tập trung
vào vai trò giáo viên sang kiểu dạy học tập trung vào vai trò của học sinh, từ
cách dạy thông báo đồng loạt, học tập thụ động sang cách dạy phân hoá, học tập
tích cực.
Vai trò chủ động, tích cực, sáng tạo của học sinh được phát huy, nhưng
vai trò của giáo viên không hề giảm nhẹ mà trái lại: Kinh nghiệm nghề nghiệp
của mỗi người trong chúng ta cho biết khi tiến hành một tiết dạy theo kiểu
thuyết trình, độc thoại thì bao giờ dễ hơn tiến hành một tiết dạy theo phương
pháp tích cực. Bởi vậy giáo viên phải được đào tạo công phu, có trình độ cao về
chuyên môn nghiệp vụ mới có thể là người đóng vai trò cố vấn, người trọng tài
sức lao động cho xã hội, chuẩn bị lớp người lao động cho xã hội tương lai. Đây
là loại lao động có hiệu quả nhất.
1.3.2.2. Về đối tượng của lao động sư phạm
Bất kỳ một ngành nghề nào cũng có đối tượng quan hệ trực tiếp của mình.
Một số ngành nghề có đối tượng quan hệ trực tiếp là con người như: bán hàng,
thầy thuốc, nhân viên cảnh sát vv... Đối tượng quan hệ trực tiếp của người giáo
viên cũng là con người. Nhưng đối tượng ở đây không hoàn toàn giống với con
người trong quan hệ với thầy thuốc, chị bán hàng, hay các lĩnh vực khác. Đối
tượng của lao động sư phạm là con người, thế hệ trẻ đang lớn lên. Xã hội tương
16
lai mạnh hay suy, phát triển hay trì trệ tuỳ thuộc rất lớn vào những thực thể đang
phát triển này.
Đối tượng của lao động sư phạm có những đặc điểm:
- Học sinh không chỉ chịu tác động sư phạm của giáo viên, của nhà trường
mà còn chịu ảnh hưởng của các nhân tố khác: Gia đình, bạn bè, các lực lượng xã
hội, các phương tiện thông tin, đại chúng. Các nhân tố này có ảnh hưởng tích
cực hoặc tiêu cực đến học sinh. Vì vậy, chủ thể lao động cần có khả năng phối
hợp, thống nhất các ảnh hưởng và tác động theo hướng tích cực, giúp cho học
sinh có định hướng giá trị đúng đắn.
- Đối tượng của lao động sư phạm vừa có những đặc điểm chung về lứa
tuổi, nhưng lại có những nét tâm lý, tính cách, nhu cầu khác nhau, không phát
triển theo tỉ lệ thuận với những tác động sư phạm mà theo những qui luật của sự
hình thành nhân cách, của tâm lý, nhận thức.
- Trong quá trình giáo dục, học sinh không chỉ là đối tượng tác động của
giáo viên mà còn là chủ thể của các hoạt động sư phạm. Vì vậy, kết quả của lao
động sư phạm không chỉ phụ thuộc vào trình độ, năng lực của giáo viên mà còn
phụ thuộc vào vai trò chủ thể tích cực của học sinh, vào mối quan hệ qua lại
giữa giáo viên – học sinh, vào nhân cách của giáo viên. Vì vậy, để lao động sư