LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tác giả đã
nhận được sự động viên, giúp đỡ tận tình, tạo điều kiện thuận lợi của các cấp
lãnh đạo; của nhiều thầy giáo, cô giáo, các bạn đồng nghiệp và gia đình.
Tác giả chân thành cảm ơn: Hội đồng đào tạo, Hội đồng khoa học
trường Đại học Vinh; Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Hà Tĩnh, Phòng Giáo dục
huyện Kỳ Anh; các thầy giáo, cô giáo; đội ngũ cán bộ quản lý của 26 trường
THCS trong huyện Kỳ Anh, cùng đông đảo đồng nghiệp đã tận tình quản lý,
giảng dạy, cung cấp tài liệu, tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở thực tế, đóng
góp những ý kiến quí báu cho việc nghiên cứu hoàn thành đề tài. Đặc biệt,
tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS. TS. Đinh Xuân Khoa Người hướng dẫn khoa học đã tận tâm bồi dưỡng kiến thức, phương pháp
nghiên cứu, năng lực tư duy và trực tiếp giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn
này.
Mặc dầu rất cố gắng trong quá trình thực hiện, song luận văn không
tránh khỏi những thiếu sót, tác giả kính mong nhận được những lời chỉ dẫn
ân cần của các thầy giáo, cô giáo, ý kiến trao đổi của các đồng nghiệp để
luận văn được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn.
Vinh, tháng 8 năm 2013
Nguyễn Thành Quý
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN.......................................................................................................................1
DANH MôC viÕt t¾t
THCS
Trung học cơ sở
KTHN
:
Kỹ thuật hướng nghiệp
TNCS
:
Thanh niên cộng sản
TNTP
:
Thiếu niên tiền phong
ĐNGV
:
Đội ngũ giáo viên
KT-XH
:
Kinh tế xã hội
TBDH
:
Thiết bị dạy học
CNTT
:
Công nghệ thông tin
HDND
:
Hội đồng nhân dân
ĐTBDGV
:
Đào tạo bồi dưỡng giáo viên
BDTX
:
Bồi dưỡng thường xuyên
độ, năng lực chuyên môn xứng đáng với tầm vóc của thời kỳ mới.
1
Ngành giáo dục và đào tạo đã và đang đứng trước những cơ hội phát
triển mới, nhưng cũng đang đối đầu với nhiều thách thức mới. Yêu cầu phát
triển quy mô, đồng thời phải đảm bảo chất lượng, nâng cao hiệu quả giáo
dục - đào tạo ở tất cả các bậc học, ngành học.
Trong quá trình phát triển của giáo dục – đào tạo, đội ngũ giáo viên
đóng vai trò hết sức quan trọng. Với mục tiêu cơ bản là nâng cao dân trí,
đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, giáo dục – đào tạo tác động trực tiếp
đến mọi mặt của đời sống xã hội, tạo lập nguồn vốn cho con người – nguồn
nhân lực quan trọng nhất của quá trình phát triển đất nước. Đối với bản thân
ngành Giáo dục – Đào tạo, nhân tố con người là đội ngũ giáo viên và cán bộ
quản lý ở các cấp học, bậc học. Thông qua hoạt động giảng dạy, nghiên cứu
khoa học, lao động sản xuất và các hoạt động xã hội khác, đội ngũ giáo viên
là người thường xuyên trực tiếp thực hiệc các mục tiêu, chiến lược phát triển
giáo dục. Với vai trò chủ đạo trong quá trình Giáo dục – Đào tạo ở các
trường, các cơ sở, chất lượng đội ngũ giáo viên tác động trực tiếp và quyết
định đến chất lượng giáo dục. Về vấn đề này, đồng chí Đỗ Mười đã nhấn
mạnh trong bài phát biểu ở Hội nghị lần thứ 4, Ban chấp hành Trung ương
Đảng khóa VII: “Để đảm bảo chất lượng giáo dục – đào tạo, phải quyết định
tốt vấn đề thầy giáo, phải đào tạo và đào tạo lại một đội ngũ giáo viên giỏi,
có trách nhiệm, có lương tâm, có lòng tự hào nghề nghiệp đó là điều kiện để
nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo”.
Trong văn kiện hội nghị lần thứ 4, Ban chấp hành Trung ương Đảng
khóa VII đã nêu rõ: “Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục”.
Luật Giáo dục 2005 (bổ sung năm 2009) cũng đã ghi rõ: “Nhà giáo
giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục”. Vì vậy, xây
dựng, phát triển và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên là nhiệm vụ cấp
Chí Minh”; "Mỗi thầy, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng
tạo", phong trào thi đua "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực"
trong các cơ sở giáo dục.
3
(3). Triển khai công tác đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo và cán bộ quản lý
cơ sở giáo dục đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu và đảm bảo về chất lượng
theo hướng chuẩn hóa, theo qui hoạch, kế hoạch.
(4). Thực hiện đầy đủ, kịp thời việc đánh giá theo chuẩn, các chế độ,
chính sách đối với nhà giáo và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục, đặc biệt là các
nhà giáo và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục công tác tại vùng có điều kiện
kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, các cơ sở giáo dục chuyên biệt.
Về thực tiễn
Kỳ Anh là một trong những huyện nghèo của tỉnh Hà Tĩnh. Nhưng
trong những năm gần đây, được sự đầu tư từ các nguồn lực của nước ngoài
vào cảng Vũng Áng và các tuyến đường biên giới Việt – Lào, nền kinh tế
đang phát triển mạnh mẽ. Tuy vậy, chất lượng giáo dục đang là nỗi lo của
các cấp ủy Đảng, Chính quyền địa phương, toàn ngành giáo dục và toàn thể
nhân dân. Đặc biệt ở cấp học THCS, đây là lứa tuổi dậy thì, vì vậy các em
có nhiều hành động, nhiều suy nghĩ mà cần có người lớn can thiệp kịp thời.
Huyện Kỳ Anh có 24 trường THCS, 2 trường PTCS (Tiểu học và THCS). Ở
các trường cơ cấu chưa đồng bộ, nhiều trường quá nhỏ lẻ, đội ngũ giáo viên
đang có nhiều bất cập về số lượng, chất lượng và cơ cấu.
Chính vì vậy, một trong những giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu
quả giáo dục – đào tạo, đáp ứng được mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo
nhân lực, bồi dưỡng nhân tài mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Kỳ Anh
đã xác định trong thời gian tới thì phải xây dựng, phát triển, chuẩn hóa đội
ngũ giáo viên của huyện nhà, trong đó có đội ngũ giáo viên các trường trung
học cơ sở.
- Tìm hiểu cơ sở lý luận việc phát triển đội ngũ giáo viên bậc THCS
- Khảo sát, đánh giá thực trạng công tác phát triển đội ngũ giáo viên
của các trường THCS ở huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.
- Đề xuất các giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên các trường THCS
ở huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.
6.
Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu luận: Nhằm thu thập các thông tin
lý luận để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài. Thuộc nhóm phương pháp
nghiên cứu lý luận gồm:
+ Phương pháp phân tích – Tổng hợp tài liệu.
+ Phương pháp khái quát hóa các nhận định độc lập.
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Nhằm thu thập những
thông tin để xây dựng cơ sở thực tiễn của đề tài, thuộc nhóm phương pháp
nghiên cứu thực tiễn gồm:
+ Tổng kết sáng kiến kinh nghiệm.
5
+ Phương pháp điều tra.
+ Phương pháp phỏng vấn.
+ Phương pháp lấy ý kiến các chuyên gia.
6.3 Phương pháp thống kế toán học.
7. Đóng góp của luận văn
- Về mặt lý luận : Đề tài góp phần hệ thống hóa một số vấn đề về lí luận
và đề xuất những giải pháp để phát triển đội ngũ giáo viên THCS có tính
khả thi nhằm nâng cao hiệu quả chất lượng giáo dục đào tạo.
bảo duy trì và nâng cao chất lượng. Bởi vậy, đã có rất nhiều tác giả quan
tâm nghiên cứu vấn đề quản lý đội ngũ giáo viên để tìm ra các giải pháp hữu
hiệu nhằm nâng cao chất lượng GD.
Các nhà nghiên cứu GD Xô Viết trước đây như: V.A Xukhomlinxki;
và Xvecxlerơ đã cho rằng “ Kết quả toàn bộ hoạt động của nhà trường phụ
thuộc rất nhiều vào công việc tổ chức đúng đắn và hợp lý hoạt động của đội
ngũ giáo viên ” [33].
Trong đó, có nhiều tác giả, và nhà nghiên cứu về giáo dục đã khẳng
định: Hiệu trưởng phải là người lãnh đạo toàn diện và chịu trách nhiệm
trong công tác quản lý nhà trường; xây dựng được một đội ngũ giáo viên
tâm huyết với nghề nghiệp, có trình độ chuyên môn vững vàng, luôn phát
huy tính sáng tạo trong lao động và tạo ra khả năng ngày càng hoàn thiện
tay nghề sư phạm là yếu tố quyết định thành công trong quản lý giáo viên
của người hiệu trưởng. Bởi vậy, các nhà nghiên cứu thống nhất: Việc xây
7
dựng và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên là nhiệm vụ hết sức quan trọng trong
những nhiệm vụ của các cấp quản lý.
Ngày 11 tháng 01 năm 2005, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định
số 09/QĐ-CP phê duyệt đề án “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà
giáo và CBQLGD giai đoạn 2005-2010”, với mục tiêu tổng quát là: “Xây
dựng đội ngũ nhà giáo và CBQLGD theo hướng chuẩn hoá, nâng cao chất
lượng đảm bảo về số lượng, đồng bộ về cơ cấu đặc biệt chú trọng nâng cao
bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, lương tâm nghề nghiệp và
trình độ chuyên môn của nhà giáo, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự
nghiệp GD trong công cuộc đẩy mạnh CNH – HĐH đất nước". QĐ số
09/QĐ-CP đưa ra các nhiệm vụ chủ yếu: “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng
để tiếp tục xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và CBQLGD.
- Vị trí của trường THCS
Điều 6, Chương 1 Luật Giáo dục ghi rõ: Hệ thống giáo dục quốc dân
gồm:
- Giáo dục mầm non có nhà trẻ và mẫu giáo;
- Giáo dục phổ thông có hai bậc học là bậc tiểu học và bậc trung học; bậc
trung học có hai cấp là cấp trung học cơ sở và cấp trung học phổ thông;
- Giáo dục nghề nghiệp có trung học chuyên nghiệp và dạy nghề;
- Giáo dục đại học đào tạo hai trình độ là trình độ cao đẳng và trình độ đại
học; giáo dục sau đại học đào tạo hai trình độ là trình độ thạc sĩ và trình độ
tiến sĩ.
Giáo dục THCS là cấp cơ sở của bậc trung học (bao gồm Tiểu học;
THPT, trung học chuyên nghiệp dạy nghề), tạo tiền đề cho phân luồng và
liên thông giữa giáo dục phổ thông và giáo dục chuyên nghiệp.
Giáo dục THCS là cấp học phổ cập phải “bảo đảm cho hầu hết thanh,
thiếu niên sau khi tốt nghiệp tiểu học tiếp tục học tập để đạt trình độ THCS
trước khi hết tuổi 18, đáp ứng yêu cầu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực,
bồi dưỡng nhân tài phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
9
nước” (NQ số 41/2000/QH 10). Giáo dục THCS được thực hiện trong 4
năm học, từ lớp 6 đến lớp 9. Mục tiêu của giáo dục THCS là nhằm giúp cho
học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học, có trình
độ học vấn phổ thông cơ sở và những hiểu biết ban đầu về KTHN để tiếp
tục học trung học phổ thông, trung học chuyên nghiệp, học nghề hoặc đi vào
cuộc sống lao động.
Như vậy trường THCS là cơ sở giáo dục của bậc trung học, bậc học
nối tiếp bậc tiểu học của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm hoàn chỉnh học
vấn phổ thông.
- Mục tiêu của giáo dục THCS.
trường hợp có thể vận dụng một cách sáng tạo những kiến thức đã học để
giải quyết những vấn đề trong học tập hoặc thường gặp trong cuộc sống bản
thân và cộng đồng; có kĩ năng lao động kĩ thuật đơn giản; biết thưởng thức
và ham thích sáng tạo cái đẹp trong cuộc sống và trong văn học nghệ thuật;
biết rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh và bảo vệ sức khoẻ. Biết sử dụng hợp
lí thời gian để giữ cân bằng giữa hoạt động trí lực và thể lực, giữa lao động
và nghỉ ngơi, biết tự định hướng con đường học tập và lao động tiếp theo.
Trên nền tảng những kiến thức và kĩ năng nói trên mà hình thành và phát
triển các năng lực chủ yếu đáp ứng yêu cầu phát triển con người Việt Nam
trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Những năng lực hành động có
hiệu quả mà một trong những thành phần quan trọng là năng lực tự học, tự
giải quyết vấn đề, mạnh dạn trong suy nghĩ hành động trên cơ sở phân biệt
được đúng, sai; năng lực thích ứng với những thay đổi trong thực tiễn để có
thể chủ động, linh hoạt và sáng tạo trong học tập, lao động, sinh sống cũng
như hoà nhập với môi trường tự nhiên, cộng đồng xã hội; năng lực tự khẳng
định, biểu hiện ở tinh thần phấn đấu học tập và lao động, không ngừng rèn
luyện bản thân, có khả năng tự đánh giá và phê phán trong phạm vi môi
trường hoạt động và trải nghiệm của bản thân.
11
Ngoài mục tiêu chung như trên, đối với các huyện miền núi, vùng
cao, giáo dục THCS còn có mục tiêu giúp học sinh hiểu về văn hoá dân tộc
mình, và các dân tộc khác trên đất nước Việt Nam; đoàn kết hoà nhập với
các dân tộc anh em nhưng vẫn giữ được bản sắc văn hoá của dân tộc mình;
hiểu biết các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước đối với dân tộc
và miền núi; áp dụng kiến thức tiến bộ khoa học vào cuộc sống hằng ngày,
vào công cuộc xoá đói giảm nghèo và bài trừ các hủ tục lạc hậu, các tệ nạn
xã hội.
sống lao động. Nếu giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những
cơ sở ban đầu thì giáo dục THCS giúp học sinh phát triển kết quả giáo dục
tiểu học, hình thành học vấn ở trình độ cơ sở, những hiểu biết ban đầu về kỹ
thuật để tiếp tục học lên THPT, TCCN hoặc đi vào cuộc sống lao động. Như
vậy, ta có thể thấy người giáo viên THCS có một vai trò quan trọng, tạo cầu
nối cho giáo dục phổ thông bậc tiểu học và bậc trung học.
1.2.3. Phát triển là:
Biến đổi hặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến
cao, đơn giản đến phức tạp, phát triển sản xuất, phát triển kinh tế xã hội,
phát triển văn hóa, phát triển giáo dục...[28,743].
1.2.4. Phát triển đội ngũ giáo viên.
Chương trình hành động của ngành Giáo dục thực hiện Chiến lược phát triển
giáo dục Việt Nam 2011-2020, ban hành kèm theo quyết định số 711/QĐ – TTg
ngày 13 tháng 06 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ về phát triển đội ngũ nhà
giáo và cán bộ quản lý giáo dục.
a) Củng cố, hoàn thiện hệ thống đào tạo giáo viên, đổi mới căn bản và
toàn diện nội dung và phương pháp đào tạo, bồi dưỡng nhằm hình thành đội
ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đủ sức thực hiện đổi mới chương
trình giáo dục phổ thông sau năm 2015. Tập trung đầu tư xây dựng các
trường sư phạm và các khoa sư phạm tại các trường đại học để nâng cao
chất lượng đào tạo giáo viên.
13
b) Đảm bảo từng bước có đủ giáo viên thực hiện giáo dục toàn diện
theo chương trình giáo dục mầm non và phổ thông, dạy học 2 buổi/ngày,
giáo viên dạy ngoại ngữ, giáo viên tư vấn học đường và hướng nghiệp, giáo
viên giáo dục đặc biệt và giáo viên giáo dục thường xuyên.
c) Chuẩn hóa trong đào tạo, tuyển chọn, sử dụng và đánh giá nhà giáo
và cán bộ quản lý giáo dục. Chú trọng nâng cao đạo đức nghề nghiệp, tác
mạng, bồi đắp cho học sinh nhân cách văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc, dạy
cho các em tri thức khoa học và kĩ năng nghề nghiệp.
Hơn nửa thế kỷ qua, đội ngũ thầy cô giáo có mặt khắp trên mọi miền
của tổ quốc, không quản khó khăn gian khổ, vượt qua mọi thử thách, cống
hiến tài năng tâm trí cho thế hệ trẻ trưởng thành và trở thành chủ nhân xây
dựng và bảo vệ đất nước.
Vai trò của người giáo viên THCS.
Trong nhà trường, giáo viên là lực lượng quyết định chất lượng giáo
dục; là người trực tiếp tổ chức quá trình dạy học trên lớp và quá trình giáo
dục theo nội dung chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo với phương
pháp sư phạm nhằm đạt mục tiêu giáo dục của cấp học, của nhà trường. Về
vai trò của người thầy giáo, Bác Hồ khẳng định: “Nhiệm vụ giáo dục là rất
quan trọng và vẻ vang, vì nếu không có thầy giáo thì không có giáo dục”
[1,161].
Chức năng của người giáo viên THCS: Trong nhà trường XHCN,
giáo viên có những chức năng sau đây:
- Chức năng của một nhà sư phạm: đây là chức năng cơ bản, thể hiện
ở phương pháp giảng dạy và giáo dục học sinh của người giáo viên. Để thực
hiện tốt chức năng này, người giáo viên phải biết tổ chức đúng đắn quá trình
nhận thức, quá trình hình thành những phẩm chất và năng lực cần thiết cho
học sinh.
- Chức năng của một nhà khoa học: Người giáo viên nghiên cứu về
nội dung chương trình, nghiên cứu đổi mới phương pháp giảng dạy, tổng kết
15
kinh nghiệm, đề xuất những sáng kiến hay nói cách khác là tham gia các
hoạt động nghiên cứu khoa học thì mới giải quyết được những vấn đề
thường xuyên nẩy sinh nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học giáo dục.
- Chức năng của nhà hoạt động xã hội: Ngoài việc tích cực tham gia
học sinh; thương yêu, tôn trọng học sinh; đối xử công bằng với học sinh; bảo
vệ các quyền và lợi ích chính đáng của học sinh; đoàn kết, giúp đỡ các bạn
đồng nghiệp;
- Phối hợp với giáo viên chủ nhiệm, các giáo viên khác, gia đình học
sinh, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trong các hoạt động giảng dạy
và giáo dục học sinh;
- Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.
Giáo viên chủ nhiệm lớp, ngoài các quy định trên, còn có thêm những
nhiệm vụ như: Tìm hiểu nắm vững học sinh trong lớp về mọi mặt để có biện
pháp tổ chức giáo dục sát đối tượng, nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của cả lớp;
phối hợp với giáo viên bộ môn, phụ huynh học sinh, Đoàn TNCS Hồ Chí
Minh, Đội TNTP Hồ Chí Minh và các tổ chức đoàn thể ở địa phương; nhận
xét đánh giá xếp loại học sinh cuối kì, cuối năm học, đề nghị khen thưởng kỉ
luật học sinh; báo cáo định kì, đột xuất với hiệu trưởng. Giáo viên Tổng phụ
trách Đội TNTP Hồ Chí Minh được bồi dưỡng về công tác Đội, có nhiệm vụ
tổ chức các hoạt động Đội và tham gia các hoạt động ở địa phương.
Giáo viên THCS có quyền: Được nhà trường tạo điều kiện để thực
hiện nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục học sinh; được hưởng mọi quyền lợi
vật chất tinh thần và được chăm sóc bảo vệ sức khoẻ theo các chế độ chính
sách đối với giáo viên; được trực tiếp thông qua các tổ chức của mình tham
gia quản lí nhà trường; được hưởng nguyên lương và các phụ cấp (nếu có)
khi đi học nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ theo quy định hiện
hành; được hợp đồng thỉnh giảng và nghiên cứu khoa học tại các trường, cơ
17
sở giáo dục khác và nghiên cứu nếu bảo đảm thực hiện đầy đủ những nhiệm
vụ nói trên.
1.3.2. Yêu cầu về phẩm chất, năng lực GV THCS
chuyển từ ngoài vào; sẽ xác định được số GV cần phải có cho một trường
hoặc một cấp học.
Số lượng giáo viên là một yếu tố định lượng của đội ngũ, nó rất quan
trọng nhưng sẽ không nói lên được gì, ngoài vấn đề chất lượng còn phải
xem xét một cách thấu đáo đến cơ cấu đội ngũ còn phải hợp lý.
b. Về cơ cấu đội ngũ:
Cơ cấu đội ngũ GV THCS sẽ được trình bày trong các giải pháp phát
triển đội ngũ GV, gồm một số giải pháp sau:
- Giải pháp thực hiện công tác quy hoạch, xây dựng đội ngũ GV.
- Giải pháp bố trí, xây dựng đội ngũ GV.
- Giải pháp đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ GV.
- Giải pháp tuyển chọn, thuyên chuyển, đánh giá, xếp loại đội ngũ giáo viên.
- Giải pháp đảm bảo các điều kiện cho công tác phát triển đội ngũ GV.
1.4. CÁC NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ
GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ.
1.4.1. Quy hoạch đội ngũ GV THCS.
Một trong những nhiệm vụ của mỗi nhà trường là phải thực hiện công
tác quy hoạch đội ngũ, nó có tác dụng làm cho người quản lý và cơ quan
quản lý biết được về số lượng, chất lượng, độ tuổi, trình độ và cơ cấu
chuyên môn, giới tính, của từng GV và cả đội ngũ GV; đồng thời xây dựng
được kế hoạch phát triển đội ngũ; nhằm tìm ra các biện pháp nâng cao chất
lượng (phẩm chất và năng lực) cho từng GV và cả đội ngũ để họ có được
khả năng hoàn thành và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Quan trọng hơn
kết quả quy hoạch là cơ sở chủ yếu mang tính định hướng cho việc vận
dụng và thực hiện các chức năng cơ bản của quản lý vào hoạt động quản lý
bộ máy tổ chức và đội ngũ nhân sự giáo dục trong các trường THCS ở
19
huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh. Như vậy, quản lý đội ngũ GV là phải thực
Đánh giá đội ngũ không những để biết thực trạng mọi mặt của đội
ngũ mà qua đó còn nhận biết được các dự báo về tình hình chất lượng đội
ngũ cũng như vạch ra những kế hoạch khả thi đối với hoạt động nâng cao
chất lượng đội ngũ. Mặt khác kết quả đánh giá ĐNGV nếu chính xác lại là
cơ sở cho việc mỗi cá nhân có sự tự điều chỉnh bản thân nhằm thích ứng với
tiêu chuẩn đội ngũ.
Như vậy, để nâng cao chất lượng đội ngũ GV không thể không nhận
biết chính xác về chất lượng đội ngũ thông qua hoạt động đánh giá đội ngũ,
từ đó mà đánh giá chất lượng đội ngũ GV là một giải pháp khả thi nhằm
nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên. Công tác này phải được tiến hành
thường xuyên, nghiêm túc, đúng quy trình và theo định kỳ.
Công tác đánh giá phân loại nhà giáo đã có nhiều đổi mới, bước đầu
phát huy tính tích cực, tạo động lực và khuyến khích nhà giáo phấn đấu
vươn lên. Hạn chế trong công tác này là nhận thức và trách nhiệm của một
bộ phận nhà giáo và cán bộ quản lý GD chưa đầy đủ, còn né tránh, nể nang;
chưa ban hành kịp thời các tiêu chí đánh giá, thiếu các tiêu chí cụ thể, định
lượng nên việc đánh giá chưa thật chính xác, khách quan, chưa phản ánh
đúng thực chất về đội ngũ.
Cho đến nay, ở Việt Nam chưa thực hiện việc đánh giá giáo viên
trung học gắn liền với quyết định thăng tiến về nghề nghiệp của họ. Tuy
nhiên, hằng năm, các nhà trường vẫn tiến hành đánh giá giáo viên dựa trên
các văn bản:
Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học, ban hành kèm theo Thông tư
số 30/2009/TT-BGDĐT ngày 22 tháng 10 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo
dục và Đào tạo. Tuy vậy, việc thực hiện đánh giá ở một số trường học chưa
trở thành một bản lề trong đánh giá, phân loại giáo viên.
21