1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ HOÀNG MAI
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC
XÃ HỘI HOÁ GIÁO DỤC Ở CÁC TRƯỜNG MẦM
NON QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Đinh Xuân Khoa
NGHỆ AN, NĂM 2015
2
LỜI CẢM ƠN
Để thực hiện và hoàn thành đề tài Luận văn này, tôi đã nhận được sự hỗ
trợ, giúp đỡ và tạo điều kiện từ nhiều cơ quan, tổ chức và cá nhân. Luận văn
cũng được hoàn thành dựa trên sự tham khảo, học tập kinh nghiệm từ các kết
quả nghiên cứu liên quan, các tạp chí chuyên ngành của nhiều tác giả ở các
trường Đại học, các tổ chức nghiên cứu, tổ chức chính trị… Đặc biệt là sự
hợp tác của cán bộ, giáo viên, nhân viên các trường Mầm non quận Gò Vấp,
Thành phố Hồ Chí Minh đồng thời là sự giúp đỡ, tạo điều kiện về vật chất và
1.4. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI HOÁ GIÁO
DỤC Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON
Kết luận chương 1
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA
GIÁO DỤC Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON QUẬN GÒ VẤP, THÀNH
PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.1. KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI,
TRUYỀN THỐNG LỊCH SỬ, VĂN HÓA GIÁO DỤC CỦA QUẬN GÒ
VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC Ở
CÁC TRƯỜNG MẦM NON QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Kết luận chương 2
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA
GIÁO DỤC Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON QUẬN GÒ VẤP, THÀNH
PHỐ HỒ CHÍ MINH
3.1. NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG GIẢI PHÁP
3.2. CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC Ở CÁC
TRƯỜNG MẦM NON QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
3.3. MỐI LIÊN HỆ GIỮA CÁC GIẢI PHÁP
3.4. THĂM DÒ SỰ CẦN THIẾT VÀ TÍNH KHẢ THI CỦA CÁC GIẢI
PHÁP ĐỀ XUẤT
Kết luận chương 3
Trang
01
06
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Xã hội hoá giáo dục là một chủ trương lớn, có tầm chiến lược của Đảng
và Nhà nước, tạo động lực và phát huy mọi nguồn lực để phát triển một nền
giáo dục tiên tiến, chất lượng ngày càng cao trên cơ sở có sự tham gia của toàn
xã hội. Là một trong những phương thức thực hiện để mọi người dân đều có cơ
hội được học tập.
Nghị quyết số 90/CP ngày 21 tháng 8 năm 1997 về phương hướng và
chủ trương xã hội hóa giáo dục đã chỉ rõ và điều đó lại được nhấn mạnh trong
Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam 2011-2020: “Huy động nguồn lực
của các ngành, các cấp, các tổ chức kinh tế - xã hội và cá nhân để phát triển
giáo dục và đào tạo. Tăng cường quan hệ của nhà trường với gia đình và xã
hội. Huy động trí tuệ, nguồn lực của toàn ngành, toàn xã hội vào việc đổi mới
nội dung, chương trình thực hiện giáo dục toàn diện. Ban hành cơ chế chính
sách cụ thể khuyến khích và qui định trách nhiệm các ngành, địa phương, các
tổ chức kinh tế - xã hội và người sử dụng lao động tham gia xây dựng trường,
hỗ trợ kinh phí cho người học, thu hút nhân lực đã được đào tạo và giám sát
các hoạt động giáo dục”. Xã hội hóa giáo dục là con đường cơ bản lâu dài
giúp giải quyết những vấn đề lớn của giáo dục như đầu tư phát triển, dân chủ
hóa, trường học thân thiện, chất lượng và hiệu quả giáo dục, mạng lưới và cơ
cấu giáo dục…, thậm chí cả nâng cao nhận thức lí luận và kinh nghiệm quản
lí trong giáo dục.
Các Nghị quyết Trung ương 4 (khoá VII), Nghị quyết Trung ương 2
(khoá VIII), Kết luận hội nghị Trung ương 6 (khoá IX), Nghị quyết Trung ương
(khoá X) cũng đã khẳng định: "Đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục, coi giáo dục là sự
nghiệp của toàn dân là một giải pháp quan trọng để tiếp tục phát triển giáo dục".
5
Trong những năm qua, chủ trương thực hiện công tác xã hội hóa của
ngành Giáo dục và Đào tạo quận Gò Vấp đã được Đảng, chính quyền và nhân
dân quan tâm, hưởng ứng tích cực và thực sự đi vào cuộc sống. Quy mô phát
triển giáo dục tăng, ngân sách đầu tư cho giáo dục không ngừng phát triển.
Tuy nhiên công tác giáo dục vẫn còn gặp nhiều khó khăn khi thực hiện nhiệm
vụ trong tình hình mới: Cơ sở vật chất, trang thiết bị còn hạn chế, lạc hậu; đội
ngũ giáo viên thiếu, đời sống giáo viên còn gặp khó khăn. Một số địa
phương cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể, cha mẹ chưa nhận thức đầy
đủ về vị trí tầm quan trọng của giáo dục. Nhận thức trong một số cán bộ,
giáo viên về công tác xã hội hoá giáo dục còn phiến diện không đầy đủ,
nên chưa huy động được các nguồn lực, các lực lượng xã hội tham gia phối
hợp trong công tác giáo dục.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài “Một số giải pháp quản
lý công tác xã hội hóa giáo dục ở các trường Mầm non quận Gò Vấp,
Thành phố Hồ Chí Minh” để nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất các giải pháp quản
lý công tác xã hội hóa giáo dục ở các trường Mầm non quận Gò Vấp, Thành
phố Hồ Chí Minh, nhằm mục đích nâng cao chất lượng và hiệu quả chăm sóc,
giáo dục trong bối cảnh đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo như
nghị quyết đại hội XI của Đảng.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Vấn đề quản lý công tác xã hội hóa giáo dục ở các trường Mầm non.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Giải pháp quản lý công tác xã hội hóa giáo dục ở các trường Mầm non
quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
7
8
- Tham khảo ý kiến chuyên gia.
6.3. Nhóm phương pháp khác bổ trợ cho luận văn:
Thống kê toán học để xử lý số liệu, tăng tính thuyết phục.
7. Đóng góp của luận văn
- Hệ thống các vấn đề lý luận quản lý công tác xã hội hóa giáo dục ở
các trường Mầm non.
- Phản ánh được thực trạng quản lý công tác xã hội hóa giáo dục ở các
trường Mầm non quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đề xuất những giải pháp quản lý công tác xã hội hóa giáo dục ở các
trường Mầm non quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh có tính cấp thiết và
khả thi.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị và tài liệu tham khảo, luận văn
được chia thành 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý công tác xã hội hóa giáo dục ở các
trường Mầm non.
Chương 2: Thực trạng quản lý công tác xã hội hóa giáo dục ở các
trường Mầm non quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
Chương 3: Một số giải pháp quản lý công tác xã hội hóa giáo dục ở các
trường Mầm non quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
9
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA
GIÁO DỤC Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON
Tại Singapore có 160 trường Mầm non. Bậc Mầm non được coi là bậc
học quan trọng của hệ thống giáo dục. Bộ Giáo dục của nước này đã đưa ra
chính sách “Giáo dục tích cực”, kêu gọi giáo viên xây dựng các chiến lược
hiệu quả để kích thích tinh thần học tập của trẻ ngay từ khi các em mới bước
chân vào trường học. Theo đó, các trường Mầm non sẽ cải thiện chương trình
giảng dạy và phương pháp đánh giá chất lượng. Để hỗ trợ việc đổi mới giáo
dục, Bộ Giáo dục Singapore đầu tư 1/3 ngân sách cho giáo dục Mầm non
trong tổng số ngân sách giáo dục. Đất đai ở Singapore là một tài sản vô cùng
quý giá nhưng phần lớn số tài sản này dành cho các trường học. Các trường
Mầm non ở Singapore đều phải đạt chuẩn về môi trường, phòng ốc, sân tập,
phòng tập đa năng rộng rãi, bao gồm cả học kỹ năng và học âm nhạc, múa,
võ, bơi... chuyên nghiệp đáp ứng được năng khiếu của trẻ em. Để có được
điều này, các trường luôn tạo môi trường thân thiện, cởi mở với phụ huynh,
gắn bó phụ huynh với nhà trường qua các hoạt động do trường tổ chức. Chính
vì vậy, mỗi phụ huynh đều thấy rõ việc chung tay xây dựng trường là điều cần
thiết để phục vụ cho nhu cầu của trẻ và vì trẻ.
Trước đây, thế giới biết đến Phần Lan là xứ sở của hoa TuLip, còn giáo
dục hầu như biết rất ít về Phần Lan. Nhưng hơn 10 năm trở lại đây, cả thế giới
đều biết và ngưỡng mộ Phần Lan bởi hai sự kiện chính: Điện thoại Nokia và
thành tích nổi bật trong giáo dục. Giáo dục Phần Lan tạo ra cơ hội bình đẳng
cho tất cả mọi cấp học. Mạng lưới nhà trường rộng lớn và các dịch vụ không
có bất kì một sự phân biệt nào. Giáo dục cơ bản là hoàn chỉnh và miễn phí.
Ở Indonexia, ngoài hệ thống giáo dục nhà trường, họ còn coi trọng
các loại hình giáo dục ngoài nhà trường; ở gia đình; xã hội; các doanh
11
nghiệp; các trường Đại học mở với nhiều chương trình đa dạng phục vụ
phát triển cộng đồng và mọi tầng lớp xã hội.
Dù trong bất cứ hoàn cảnh nào các bậc cha mẹ cũng mong muốn cho con cái
mình được học hành nên người. Truyền thống hiếu học ấy thể hiện ở chỗ
nhân dân ta rất coi trọng việc học, quý mến thầy giáo và quan tâm đến công
tác giáo dục thế hệ trẻ. Dưới thời phong kiến và Pháp thuộc, tuy Nhà nước chỉ
mở trường dạy học dành cho con em các quan lại, các nhà chức trách và con
cái nhà giàu nhưng đại bộ phận nhân dân lao động cũng đã tự lo liệu để cho
con em mình được đi học bằng cách gửi con cho các thầy đồ dạy hoặc do dân
tự mở lớp mời thầy về dạy.
Trải qua nhiều thời kỳ, nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau, xã hội hóa
giáo dục ở nước ta đã có những bước phát triển mới. Từ khi Đảng Cộng Sản
Việt Nam ra đời, lãnh đạo Cách mạng tháng 8 thành công, quan điểm giáo
dục của Đảng và Bác Hồ đã được khởi xướng và dấy lên nhiều phong trào
học tập rầm rộ. Khẩu hiệu “Diệt giặc dốt” và sắc lệnh thành lập Nha bình dân
học vụ của Chính phủ đã mở đầu cho nền giáo dục của dân, do dân và vì dân.
Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, giáo dục là một bộ phận của cách
mạng, do đó giáo dục cũng là sự nghiệp của quần chúng. Đáp ứng lời kêu gọi
diệt giặc dốt của Bác Hồ và Chính phủ, phong trào học tập được nhân dân
hưởng ứng sôi nổi, phong trào lan ra rộng khắp từ thành thị đến nông thôn,
đâu đâu cũng có người đi học, đâu đâu cũng có các lớp xóa nạn mù chữ.
Ngày 9/12/1981 Bộ Giáo dục ban hành Điều lệ tổ chức và hoạt động
của Hội đồng giáo dục các cấp chính quyền ở địa phương nhưng mãi đến
Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VI (1986), với đường lối đổi mới
của Đảng, đất nước ta bắt đầu chuyển mình để bước sang một thời kỳ mới,
thời kỳ đổi mới tư duy trên các lĩnh vực mà trước tiên là lĩnh vực kinh tế
13
hàng hóa - kinh tế thị trường với xu thế mở cửa. Hoàn cảnh khách quan và
chủ quan đã đặt ra nhiều thời cơ và thách thức mới đòi hỏi nền giáo dục
nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác này. Các nhà nghiên cứu khác như
Nguyễn Mậu Bành, Võ Tấn Quang, Trần Kiểm, Thái Duy Tuyên, Lê Đức
Phúc… có nhiều bài viết về công tác xã hội hoá giáo dục. Viện khoa học Giáo
dục nhiều năm qua đã tiến hành hệ thống đề tài nghiên cứu về xã hội hoá giáo
dục.
Sau khi khái quát các nghiên cứu về xã hội hoá giáo dục và quản lý
công tác xã hội hoá giáo dục, quản lý xã hội hoá giáo dục mầm non ở trong và
ngoài nước tác giả khẳng định: Xã hội hoá giáo dục và quản lý xã hội hoá
giáo dục, quản lý xã hội hoá giáo dục mầm non đã được các tác giả trong và
ngoài nước quan tâm nghiên cứu và có ý nghĩa lý luận và thực tiễn lớn lao
trong quản lý công tác xã hội hoá giáo dục. Hiện nay chưa có công trình
nghiên cứu về quản lý công tác xã hội hoá giáo dục ở các trường Mầm non
quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. Nhằm góp phần nâng cao chất lượng
giáo dục mầm non, hiệu quả quản lý công tác xã hội hoá giáo dục mầm non
trên địa bàn quận Gò Vấp nên tác giả chọn đề tài này để nghiên cứu.
1.2. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1. Khái niệm về xã hội hoá, xã hội hoá giáo dục
1.2.1.1. Khái niệm về xã hội hóa
Xã hội hóa là thuật ngữ đã được các nhà kinh tế học, xã hội học, giáo
dục học vào những năm đầu thế kỷ XX sử dụng nhằm biểu đạt một số vấn đề
thuộc các lĩnh vực nghiên cứu của mình.
Xã hội hóa là một khái niệm của nhân loại học và xã hội học, được hiểu
theo hai nghĩa:
- Là sự tham gia rộng rãi của cộng đồng xã hội vào một số hoạt động
mà trước đó chỉ có một ngành, một đơn vị chức năng nhất định thực hiện (ví
dụ: xã hội hóa giáo dục, xã hội hóa y tế…)
16
17
Xã hội hóa giáo dục thực chất là xã hội hoá các hoạt động giáo dục,
xã hội hóa sự nghiệp giáo dục. Có thể nói một cách khái quát: Xã hội hoá
giáo dục là một quá trình mà cả cộng đồng và xã hội cùng tham gia vào
giáo dục. Trong đó mọi tổ chức, gia đình và công dân có trách nhiệm chăm
lo sự nghiệp giáo dục, phối hợp với nhà trường thực hiện mục tiêu giáo
dục, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh và an toàn.
Xã hội hoá giáo dục, thuật ngữ này cho dù ở cấp độ nào đó đồng
nghĩa với thuật ngữ ''xã hội học tập''. Hai thuật ngữ này lần đầu tiên xuất
hiện trong báo cáo của UNESCO có tựa đề ''Học để tồn tại; thế giới giáo
dục hôm nay và ngày mai''. Nội dung của nó bao gồm hai khía cạnh song
hành, quan hệ mật thiết với nhau. Thứ nhất: Mọi tổ chức, mọi tập thể, mọi
cá nhân theo khả năng của mình đều có thể cung ứng cơ hội học tập cộng
đồng. Thứ hai: Mọi người dân trong cộng đồng đều có thể tận dụng cơ hội
để có thể có cơ hội học tập và tham gia phát triển giáo dục cộng đồng,
nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho bản thân.
Xã hội hoá giáo dục không phải là một giải pháp tình thế nhất thời
chỉ được tổ chức thực hiện trong một thời gian nhất định mà là một tư
tưởng cách mạng chiến lược lâu dài. Điều 12, Luật giáo dục 2005 ghi rõ:
''Phát triển giáo dục, xây dựng xã hội học tập là sự nghiệp của Nhà nước
và của toàn dân; thực hiện đa dạng hoá các loại hình trường và các hình
thức giáo dục; khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá
nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục” [12, tr.45].
Bản chất xã hội của xã hội hoá giáo dục là tổ chức thực hiện xây
dựng một nền giáo dục xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân. Giảm
bớt được gánh nặng và sự ''khoán trắng'' về đầu tư ngân sách cho giáo
dục. Bên cạnh đó, xã hội hoá giáo dục chính là ''giáo dục cho tất cả mọi
người; tất cả mọi người cho sự nghiệp giáo dục'', đó là đưa giáo dục gắn
19
mọi người cùng làm giáo dục, Nhà nước và xã hội, trung ương và địa
phương cùng làm giáo dục” [13, tr.36].
Chuyên gia Nguyễn Trần Bạt trong bài ''Xã hội hoá giáo dục” (tài liệu
số 13 của Võ Tấn Quang (Chủ biên - 2001): Xã hội hoá giáo dục - NXB Đại
học quốc gia Hà Nội), sau khi nêu rõ: “Xã hội hóa giáo dục là tinh thần, là
nội dung quan trọng nhất của cải cách giáo dục, bảo đảm sự thành công
của cải cách giáo dục”, tác giả đã khẳng định: ''Xã hội hóa giáo dục có
nghĩa là Nhà nước tạo ra không gian xã hội, pháp luật và chính trị cho việc
hình thành một khu vực giáo dục mà ở đấy ai cũng có quyền đóng góp cho sự
nghiệp giáo dục, thực hiện sự cạnh tranh về chất lượng giáo dục, tức là giáo
dục phải thuộc về xã hội. Tác giả còn đề cập và nhấn mạnh: “Xã hội hóa
giáo dục không chỉ là đa dạng hoá hình thức và các nguồn đầu tư cho Giáo
dục và Đào tạo, mà quan trọng nhất là đa dạng hoá nội dung hay đa dạng
hoá, hiện đại hoá chương trình giáo dục thích ứng với những đòi hỏi của xã
hội” [14, tr.23].
Như vậy, xã hội hóa giáo dục là một tư tưởng chiến lược của Đảng và
Nhà nước, bản thân tư tưởng đó qua mỗi giai đoạn được phát triển, mở rộng
phong phú cả về hình thức và nội dung. Xã hội hóa giáo dục là một nhân tố
mới đã và đang phát huy sức mạnh đối với sự nghiệp phát triển giáo dục,
đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cho sự nghiệp công nghiệp hóa –
hiện đại hóa đất nước. Chính xã hội hóa công tác giáo dục lại tạo ra những
những điều kiện, những tác nhân làm xuất hiện những nhân tố mới trong
quá trình đi lên của phong trào giáo dục. Những kinh nghiệm được rút ra từ
thực tiễn thực hiện xã hội hóa giáo dục, trên cơ sở đó nâng cao sự đổi mới
tư duy giáo dục, giải quyết kịp thời những vấn đề đặt ra của sự nghiệp phát
triển Giáo dục và Đào tạo.
Như vậy theo tôi, khái niệm quản lý có thể được hiểu: Quản lý là một
quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý
21
nhằm đạt được mục tiêu chung. Bản chất của quản lý là một loại lao động để
điều khiển lao động xã hội ngày càng phát triển, các loại hình lao động càng
phong phú, phức tạp thì hoạt động quản lý càng có vai trò quan trọng.
Để đạt được mục tiêu đã định, quản lý phải thông qua các chức năng
như: Lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra - đánh giá.
1.2.2.2. Khái niệm về quản lý công tác xã hội hóa giáo dục
Quản lý công tác xã hội hóa giáo dục là quá trình chỉ đạo, điều hành
công tác xã hội hóa giáo dục; là hệ thống những tác động có ý thức, có mục
đích, có kế hoạch, phù hợp với quy luật của chủ thể quản lý đến các lực lượng
trong và ngoài ngành giáo dục nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục
tiêu giáo dục. Hay nói cách khác, đó là hệ thống các tác động có chủ đích của
chủ thể quản lý các cấp đến các đối tượng quản lý nhằm làm cho công tác xã
hội hóa giáo dục đạt được các mục tiêu dự kiến.
Quản lý xã hội hóa giáo dục cần phải mềm dẻo và linh hoạt để tạo được
những phong trào, định hướng phong trào, phát huy dân chủ trong nhân dân,
huy động mạnh mẽ nội lực của nhân dân và toàn xã hội để phục vụ cho sự
nghiệp phát triển giáo dục.
Trên cơ sở chức năng quản lý, chúng ta có thể xác định các nội dung
của công tác xã hội hóa giáo dục như sau:
- Lập kế hoạch;
- Tổ chức thực hiện kế hoạch;
- Chỉ đạo thực hiện kế hoạch;
- Kiểm tra, đánh giá kết quả.
1.2.3. Khái niệm về giải pháp và giải pháp quản lý công tác xã hội
- Giám sát, đôn đốc, kiểm tra việc triển khai và thực hiện xã hội hóa
giáo dục.
23
Giải pháp quản lý công tác xã hội hóa giáo dục: Là cách thức chủ thể
quản lý tiến hành sử dụng các công cụ quản lý tác động vào việc thực hiện
từng khâu của chức năng quản lý trong quá trình nhằm huy động được toàn xã
hội tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình giáo dục. Hay nói cách
khác, giải pháp quản lý công tác xã hội hóa giáo dục chính là hệ thống các
biện pháp, phương pháp, cách thức quản lý việc thực hiện công tác xã hội hóa
giáo dục nhằm huy động toàn thể xã hội tham gia một cách có hiệu quả vào
sự nghiệp giáo dục.
1.3. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI HOÁ GIÁO DỤC Ở CÁC
TRƯỜNG MẦM NON
1.3.1. Chức năng, nhiệm vụ của giáo dục mầm non trong hệ thống
giáo dục quốc dân
Giáo dục và Đào tạo là cốt lõi, là trọng tâm của chiến lược trồng người.
Phát triển giáo dục là nền tảng để tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cao, là
động lực của sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Vì vậy Đảng ta đã
khẳng định "Giáo dục là quốc sách hàng đầu, trong đó giáo dục mầm non là
một bộ phận cấu thành của hệ thống giáo dục quốc dân, có vị trí rất quan
trọng trong sự nghiệp phát triển nguồn nhân lực của đất nước”. Giáo dục mầm
non thực hiện việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ từ 03 tháng tuổi đến 06
tuổi. Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ phát triển về thể chất, tình
cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn
bị cho trẻ vào lớp Một; hình thành và phát triển ở trẻ những chức năng tâm
sinh lý, những kỹ năng sống phù hợp với lứa tuổi, đặt nền tảng cho việc học ở
thành nhân cách và phát triển năng lực của trẻ, bởi tuy trẻ bẩm sinh đã có khả
năng tiếp thu học tập, não bộ đã được lập trình để tiếp nhận các thông tin cảm
quan và sử dụng để hình thành hiểu biết và giao tiếp với thế giới, nhưng
hướng học tập của trẻ có thể bị hạn chế bởi nhiều yếu tố như thể chất, nhận
25
thức và tình cảm xã hội. Việc được hưởng sự chăm sóc và phát triển tốt từ lứa
tuổi trẻ thơ sẽ góp phần tạo nền móng vững chắc cho sự phát triển trong
tương lai của trẻ. Giáo dục mầm non sẽ chuẩn bị cho trẻ những kỹ năng như
tự lập, sự kiềm chế, khả năng diễn đạt rõ ràng, đồng thời hình thành hứng thú
đối với việc đến trường tiểu học, tăng khả năng sẵn sàng để bước vào giai
đoạn giáo dục phổ thông.
1.3.3. Công tác xã hội hoá giáo dục ở các trường Mầm non
1.3.3.1. Xã hội hoá giáo dục mầm non tạo điều kiện cho mọi trẻ em
được tham gia học tập, góp phần nâng cao dân trí
Xã hội hoá giáo dục mầm non tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người có
hoàn cảnh khác nhau đều có khả năng tham gia học tập.
Xã hội hoá giáo dục mầm non còn là hình thức thực hiện công bằng xã
hội, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người đi học, xã hội hóa giáo dục là điều
kiện tốt nhất để cả cộng đồng có điều kiện giúp đỡ những người có hoàn cảnh
khó khăn được tham gia học tập và khuyến khích nhân tài.
1.3.3.2. Xã hội hoá giáo dục mầm non góp phần nâng cao chất lượng
giáo dục mầm non, tạo tiền đề vững chắc cho sự phát triển nhân cách và
chuẩn bị tốt các điều kiện cho trẻ vào Tiểu học
Xã hội hoá giáo dục mầm non làm cho cộng đồng tham gia vào cụ thể
hoá vào mục tiêu giáo dục phù hợp với yêu cầu của địa phương, yêu cầu của
cộng đồng và các lực lượng có thể tham gia vào cải tiến nội dung, phương
pháp, xây dựng môi trường thuận lợi cho giáo dục, vì vậy làm ảnh hưởng trực