BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
_____________
______________
ĐOÀN TRỌNG HOÀNG
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ ĐỔI MỚI
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC Ở CÁC TRƯỜNG THPT
HUYỆN CẨM XUYÊN, TỈNH HÀ TĨNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
NGHỆ AN - 2015
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
_____________
______________
ĐOÀN TRỌNG HOÀNG
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ ĐỔI MỚI
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC Ở CÁC TRƯỜNG THPT
HUYỆN CẨM XUYÊN, TỈNH HÀ TĨNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Đoàn Trọng Hoàng
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
BẢNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
1.
2.
CBCC:
CBGV:
Cán bộ công chức.
Cán bộ giáo viên.
3.
CM:
Chuyên môn.
4.
CNH, HĐH:
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
5.
GD-ĐT:
Giáo dục và đào tạo.
11.
GV:
Giáo viên.
12.
HS:
Học sinh.
13.
KT- XH:
Kinh tế - xã hội.
14.
NXB:
Nhà xuất bản.
15.
QLDH:
Quản lý dạy - học
21.
QLGD:
Quản lý giáo dục.
22.
SGK:
Sách giáo khoa.
23.
THCS:
Trung học cơ sở.
24.
THPT:
Trung học phổ thông.
dục phổ thông.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu.
Quá trình quản lý đổi mới PPDH ở các trường THPT
3.2. Đối tượng nghiên cứu.
Các giải pháp quản lý đổi mới PPDH ở các trường THPT huyện Cẩm
Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất và thực hiện được các giải pháp quản lý đổi mới PPDH có
cơ sở khoa học và có tính khả thi, thì sẽ nâng cao chất lượng dạy và học ở
trường THPT đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Tìm hiểu cơ sở lý luận về quản lý đổi mới PPDH ở trường THPT.
5.2. Đánh giá thực trạng quản lý đổi mới PPDH ở các trường THPT
huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.
8
5.3. Đề xuất và thực hiện một số giải pháp quản lý đổi mới PPDH ở các
trường THPT huyện Cẩm Xuyên,
6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ, tác giả chỉ chọn 4 trường THPT
công lập trên địa bàn huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh để nghiên cứu vấn đề đổi
mới PPDH, công tác quản lý hoạt động đổi mới PPDH. Từ đó đề xuất các giải
pháp quản lý hoạt động đổi mới PPDH cho các cơ sở giáo dục này.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận. Phân tích, tổng hợp, nghiên
cứu các tài liệu có nội dung liên quan đến đề tài.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
7.2.1. Phương pháp quan sát: Quan sát quá trình dạy học của GV và HS.
Ngoài phần mở đầu; Kết luận và kiến nghị; Tài liệu tham khảo; Phụ lục
điều tra, nghiên cứu. Luận văn có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài.
Chương 2: Thực trạng quản lý đổi mới PPDH ở các trường THPT huyện
Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.
Chương 3: Những giải pháp quản lý đổi mới PPDH ở các trường THPT
huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh trước yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ
ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC Ở CÁC TRƯỜNG THPT
1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Phương pháp dạy học là một trong những yếu tố quan trọng nhất của quá
trình dạy học. Cùng một nội dung như nhau, nhưng bài học có để lại những
dấu ấn sâu đậm trong tâm hồn các em hay không, có làm cho các em yêu
10
thích những vấn đề đã học và biết vận dụng chúng một cách năng động, sáng
tạo để giải quyết các vấn đề bức xúc của cuộc sống hay không là tuỳ thuộc ở
phương pháp của người thầy.
Thấy rõ tầm quan trọng của PPDH trong việc đào tạo con người năng
động, sáng tạo, những phẩm chất nhân cách mà xã hội hiện đại xem là điều
kiện tồn tại của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc. Thời gian qua chúng ta đã có
nhiều công trình nghiên cứu lý luận, thực tiễn vấn đề đổi mới phương pháp
dạy học.
Nhưng thực tiễn các nhà trường hiện nay vẫn chưa thật sự chuyển biến.
Phần lớn các thầy cô giáo vẫn dạy theo phương pháp cũ: Thầy đọc trò ghi,
học sinh bị nhồi nhét kiến thức trong sự quá tải về chương trình, nội dung dạy
học. Còn các phương pháp tích cực, sáng tạo mà ta mong muốn trở thành
người phát triển toàn diện, năng động, sáng tạo.
Vì vậy, để đổi mới phương pháp dạy học cần quan tâm tới vấn đề quản lý
phương pháp dạy học của CBQL giáo dục.
Với mong muốn góp phần khiêm tốn của mình vào việc đổi mới phương
pháp dạy học và quản lý đổi mới PPDH ở các trường THPT, tác giả đề tài
mạnh dạn nghiên cứu, tìm kiếm và đề xuất các giải pháp quản lý nhằm thực
hiện có hiệu quả đổi mới PPDH cho các trường các THPT ở huyện Cẩm
Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.
1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Dạy học và phương pháp dạy học
1.2.1.1. Dạy học
Dạy học là một quá trình gồm toàn bộ các thao tác có tổ chức, có định
hướng giúp người học từng bước có năng lực tư duy và năng lực hành động với
mục đích chiếm lĩnh các giá trị tinh thần, các hiểu biết, các kỹ năng, các giá trị
văn hóa mà nhân loại đã đạt được để trên cơ sở đó có khả năng giải quyết được
các bài toán thực tế đặt ra trong toàn bộ cuộc sống của mỗi người học
1.2.1.2. Phương pháp dạy học
Thuật ngữ “Phương pháp” bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp là methodos, theo
nghĩa thông thường dùng để chỉ những cách thức, thủ đoạn nhất định, được
chủ thể hành động sử dụng để thực hiện mục đích đó vạch ra. Cũng theo
nghĩa chặt chẽ và khoa học, phương pháp là hệ thống những nguyên tắc được
12
rút ra từ tri thức về các quy luật khách quan để điều chỉnh hoạt động nhận
thức và thực tiễn nhằm thực hiện mục đích nhất định.
"Phương pháp" nói chung là một khái niệm rất trừu tượng vì nó không
mô tả những trạng thái, những tồn tại tĩnh trong thế giới hiện thực, mà nó chủ
yếu mô tả phương hướng vận động trong quá trình nhận thức và hoạt động
thực tiễn của con người. Phương pháp dạy học là tổ hợp các cách thức hoạt
lập, sáng tạo của học sinh, phát huy năng lực vận dụng tri thức vào thực tiễn.
Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường, mở cửa, hội nhập, phát triển nền kinh
tế tri thức, việc cạnh tranh trên lĩnh vực "Trí tuệ" đang diễn ra rất gay gắt,
cách thức đào tạo con người có trí tuệ, giàu tính sáng tạo càng có ý nghĩa đặc
biệt quan trọng.
Các phương pháp dạy học phải phản ánh trong mình nó những thành tựu
của các phương pháp riêng của mỗi khoa học, các phương pháp triết học và
các phương pháp khoa học chung, bởi vì việc nắm vững các phương pháp này
có tác dụng đến việc phát triển tính độc lập, sáng tạo của mỗi học sinh.
1.2.3. Quản lý, quản lý nhà trường, quản lý đổi mới PPDH
1.2.3.1. Quản lý
Quản lý là một hoạt động lao động tất yếu trong quá trình phát triển của
xã hội loài người, nó được bắt nguồn và gắn chặt với sự phân công và hợp tác
lao động. Theo Giáo sư Nguyễn Ngọc Quang: “ Quản lý là tác động có mục
đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nhằm
thực hiện những mục tiêu dự kiến” [34,35].
Quản lý (QL) là thuộc tính bất biến, nội tại của mọi quá trình lao động
xây dựng, là yếu tố cấu thành sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Xã
hội càng phát triển, QL càng có vai trò quan trọng trong việc điều khiển các
hoạt động xã hội. Trong bộ "Tư bản", K.Marx đã nói đến sự cần thiết của QL:
"Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên
quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo. Một người
độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có
nhạc trưởng"[4,23-480]. Ngày nay, thuật ngữ QL đã trở nên phổ biến nhưng
chưa có một định nghĩa thống nhất. Các nhà khoa học đưa ra khái niệm QL
theo những cách tiếp cận với các góc độ khác nhau.
14
Theo Harold Koontz, Cyril Odonnel, Heinz Weihrich: "QL là thiết kế và
15
phù hợp với quy luật khách quan”. QL được cấu thành từ 6 yếu tố: 4 chức
năng, thông tin QL và quyết định QL.
1.2.3.2. Quản lý nhà trường
Nhà trường là một thể chế xã hội trong đó diễn ra qúa trình đào tạo, giáo
dục với sự hoạt động tương tác của hai nhân tố: Thầy - Trò. Trường học là tổ
chức giáo dục cơ sở, nơi trực tiếp làm công tác giáo dục và đào tạo học sinh.
Nó là tế bào cơ sở, chủ chốt của bất cứ hệ thống giáo dục ở cấp nào.
Theo tác giả Phạm Minh Hạc thì: “Quản lý nhà trường là thực hiện
đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi và trách nhiệm của mình, tức là
đưa nhà trường vận hành theo quản lý giáo dục, mục tiêu đào tạo với ngành
giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh” [12, 71].
Tác giả Trần Kiểm cho rằng : “Quản lý trường học được hiểu là một hệ
thống những tác động sư phạm hợp lý và có hướng đích của chủ thể quản lý
đến tập thể giáo viên, học sinh và phối hợp sức lực và trí tuệ của họ vào mọi
mặt hoạt động của nhà trường hướng vào hoàn thành có chất lượng và hiệu
quả mục tiêu dự kiến” [19, 27].
Như vậy quản lý nhà trường về bản chất là quản lý con người tập thể
(tập thể cán bộ, giáo viên và học sinh). Do đó, có thể khẳng định: Quản lý nhà
trường là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật
của chủ thể quản lý nhà trường đến khách thể quản lý nhà trường (giáo viên,
nhân viên, học sinh) nhằm làm cho các hoạt động giáo dục và dạy học của
nhà trường đạt tới mục đích giáo dục, ngày càng phát triển bền vững.
1.2.3.3. Quản lý đổi mới phương pháp dạy học
Qua nghiên cứu lý luận và thực tiễn có thể hiểu: Quản lý phương pháp
dạy học của CBQL là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức, của CBQL
đến cách thức làm việc của thầy và trò nhằm đạt được mục đích dạy học.Vì
phương pháp dạy học luôn luôn hoạt động trong mối quan hệ chặt chẽ với các
thành tố khác của quá trình dạy học như: Mục tiêu - Nội dung - Phương pháp
phương pháp dạy học vào kế hoạch, trong đó chỉ rõ các bước đi, các biện
pháp thực hiện và đảm bảo các nguồn lực để đạt được các mục tiêu đã đề ra.
Kế hoạch về đổi mới phương pháp dạy học có thể tách riêng hoặc nằm trong
17
kế hoạch tổng thể của nhà trường, được xây dựng theo từng năm học, mang
tính pháp quy, tức là được hội đồng sư phạm nhà trường thông qua và quản lý
cấp trên trực tiếp phê duyệt. Cần dựa trên những định hướng lớn về đổi mới
phương pháp dạy học của Đảng, các văn bản hướng dẫn thực hiện của các cấp
quản lý giáo dục và căn cứ vào điều kiện thực tế của nhà trường về tổ chức bộ
máy, về nguồn lực và các điều kiện khác, để xây dựng kế hoạch đổi mới
phương pháp dạy học. Kế hoạch phải mang tính cụ thể, tức là xác là định
được mục tiêu cần đạt, dự kiến được nguồn lực để thực hiện (nhân lực, tài lực,
vật lực), phân bố thời gian hợp lý và quyết định những biện pháp có tính khả
thi để thực hiện.
Tổ chức đổi mới phương pháp dạy học là quá trình phân phối và sắp xếp
nguồn lực theo những cách thức nhất định để đảm bảo thực hiện tốt các mục
tiêu về đổi mới phương pháp dạy học đã đề ra. Chức năng tổ chức có vai trò
hiện thực hóa mục tiêu kế hoạch và tạo nên sức mạnh của tập thể, nếu việc
phân phối và sắp xếp các nguồn lực được tổ chức một cách khoa học và hợp
lý. Để thực hiện được vai trò quan trọng này, cần phải hình thành một cấu
trúc tổ chức tối ưu của hệ thống quản lý. Đó là: Việc xây dựng và phát triển
đội ngũ nhân sự; Là những quy định về cơ chế hoạt động phối hợp giữa
chuyên môn với các đoàn thể trong nhà trường, cùng bảo đảm thực hiện mục
tiêu đã đề ra; Là sự phân bổ nguồn lực và quy định thời gian cho các bộ phận
nhằm thực hiện đúng kế hoạch đã định. Trong quá trình hoạt động của nhà
trường, cần phải xác lập được một mạng lưới các mối quan hệ tổ chức và giải
quyết tốt các mối quan hệ giữa các bộ phận bên trong nhà trường, cũng như
mối quan hệ giữa nhà trường với cộng đồng xã hội. Chỉ đạo đổi mới phương
mình, đồng thời có sự động viên về tinh thần và bồi dưỡng bằng vật chất thích
đáng, tương xứng với khả năng và sự cống hiến của mỗi người. Với học sinh,
để xây dựng động cơ học tập đúng đắn, trước hết cần xây dựng nhu cầu, hứng
thú học tập và xa hơn là ước mơ, hoài bão. Hứng thú học tập có thể được hình
thành từ nội dung, phương pháp phương tiện và hình thức tổ chức dạy học, từ
truyền thống hiếu học của gia đình dòng họ, từ phong trào học tập của địa
phương. Tuy nhiên, phương pháp dạy học và mối quan hệ thầy trò có ảnh
hưởng trực tiếp đến hứng thú và quan trọng hơn là nó nằm trong tầm tay điều
19
khiển của người thầy. Vì vậy việc xây dựng động cơ học tập có mối quan hệ
biện chứng với đổi mới phương pháp dạy học.
b. Phương tiện quản lý đổi mới PPDH của người CBQL
Phương tiện quản lý là những gì mà chủ thể quản lý sử dụng như một
công cụ trong quá trình hoạt động của mình. CBQL là người được xã hội giao
cho những trọng trách và quyền hành nhất định; là người nắm vững các chủ
trương, đường lối của Đảng và Nhà nước; là người trực tiếp quản lý và điều
hành một đội ngũ nhân lực, được cung cấp về tài lực, vật lực và nắm trong tay
các phương tiện thông tin. Đó là những yếu tố mà người CBQL có quyền sử
dụng để điều khiển hoạt động quản lý của mình có hiệu quả.
Các phương tiện quản lý phương pháp dạy học chủ yếu của CBQL bao
gồm: Chế định giáo dục đào tạo, bộ máy tổ chức và nhân lực dạy học, nguồn
tài lực, vật lực dạy học, hệ thống thông tin và môi trường dạy học.
Chế định GD - ĐT bao gồm Luật Giáo dục, các chính sách - chế độ giáo
dục, các nghị quyết, quyết định, điều lệ, quy chế. Tất cả hệ thống văn bản trên
là cơ sở pháp lý để xác định mục tiêu, nội dung chương trình, kế hoạch xây
dựng cơ chế quản lý, điều hành nhân sự dạy học và được cụ thể hoá thành
những quy định nội bộ.
Bộ máy tổ chức và nhân lực dạy học là cơ cấu về bộ máy quản lý, các bộ
và tác đụng của nguồn tài lực, vật lực, chất lượng của hệ thống thông tin và
môi trường dạy học.
c. Yêu cầu đối với người CBQL trong giai đoạn hiện nay
Nhiệm vụ và quyền hạn của CBQL được quy định cụ thể trong Luật
Giáo dục (2005). Luật Giáo dục quy định về việc ban hành điều lệ nhà trường.
Với những nhiệm vụ và quyền hạn đó, người CBQL phải thường xuyên rèn
luyện, phấn đấu để thể hiện tốt các vai trò sau đây:
CBQL là nhà quản lý, là người đại diện Nhà nước về mặt hành chính,
thực thi các hoạt động quản lý trường học dựa trên cơ sở của pháp luật.
CBQL là người tổ chức thực hiện, luôn tìm tòi đổi mới hoạt động quản
lý, đổi mới các hoạt động sư phạm của nhà trường.
CBQL là nhà sư phạm, nhà giáo dục mẫu mực có tâm hồn cao thượng,
thường xuyên chăm lo việc nâng cao năng lực sư phạm và bồi dưỡng phẩm
21
chất đạo đức cho đội ngũ giáo viên, là người nhạy cảm, có sự đối xử khéo léo
và có khả năng cảm hoá con người.
CBQL là nhà hoạt động chính trị - xã hội và là nhà văn hoá, là người
duy trì, phát triển và sáng tạo các giá trị của nhà trường.
CBQL còn là nhà ngoại giao. Để thực hiện các nhiệm vụ đổi mới giáo
dục trong thời kỳ Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá, người CBQL cần tận dụng
kinh phí từ nhiều nguồn khác nhau. Trong điều kiện nguồn kinh phí nhà
trường chủ yếu do Nhà nước cung cấp thì có hạn, CBQL cần biết tận dụng
các cơ hội để khai thác nguồn kinh phí to lớn ngoài xã hội. Trong thực tiễn
quản lý hiện nay, nhiều CBQL đã dành một tỷ lệ thời gian, sức lực thích đáng
cho công tác đối ngoại để tìm kiếm các nguồn nhân lực và tổ chức các hoạt
động chuyên môn, làm cho các hoạt động của nhà trường thêm phong phú và
hiệu quả.
Như vậy, để làm tốt các chức năng của mình, người CBQL cần phải thực
Việt Nam đã trở thành thành viên của WTO, ngày càng tham gia tích cực
vào quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế. Điều này cũng có nghĩa là vấn đề
toàn cầu hóa và những yêu cầu của nền kinh tế tri thức, xã hội tri thức đang trực
tiếp tác động đến kinh tế, xã hội và thị trường lao động của nước ta. Đối với
Giáo dục, toàn cầu hóa cũng đã đặt ra nhiều cơ hội và thách thức lớn:
- Tạo khả năng mở rộng các dịch vụ và đầu tư quốc tế trong giáo dục.
- Tạo khả năng tăng cường trao đổi kinh nghiệm và khoa học giáo dục,
tăng cường hợp tác quốc tế.
- Tạo ra sự cạnh tranh về chất lượng.
- Dịch vụ giáo dục trở thành hàng hóa trong trao đổi quốc tế đã đặt ra
những thách thức đối với giáo dục, đặc biệt là về quản lý giáo dục như: quyền
tự chủ trong giáo dục, quản lý mục tiêu và chất lượng giáo dục...
- Toàn cầu hóa cũng đặt ra những yêu cầu mới đối với người lao động,
điều này đòi hỏi phải có sự thay đổi trong giáo dục và đào tạo để đáp ứng yêu
cầu ngày càng cao về nguồn nhân lực của nền kinh tế tri thức.
b) Những yêu cầu về nhân lực của nền kinh tế tri thức
Khoa học - công nghệ phát triển đòi hỏi một nguồn nhân lực chất lượng
cao, có khả năng thích nghi với sự thay đổi đang diễn ra từng ngày, với khối
lượng thông tin vô tận tăng lên từng giờ từng phút thì những phương pháp dạy
23
học truyền thống không thể hoàn thành sứ mệnh của mình, điều này đòi hỏi
giáo dục cũng phải thay đổi. Các phương pháp dạy học ngày nay phải chú
trọng đến việc dạy cho người học các học, cách chiếm lĩnh kho tri thức của
nhân loại để phục vụ cho yêu cầu công việc của mình.
c) Những thành tựu của Tâm lý học, Giáo dục học
Những thành tựu về Tâm lý học trong thế kỷ trước làm cơ sở cho Giáo
dục học phát triển đã thúc đẩy các nhà Giáo dục học đề xuất ra các mô hình,
các phương pháp dạy học mới nhằm tăng cường tính tích cực trong học tập
- Chuyển dần trọng tâm của PPDH từ tính chất thông báo, tái hiện đại trà
chung cho cả lớp sang tính chất phân hóa-cá thể hóa cao độ, tiến lên theo nhịp độ
cá nhân.
- Liên kết nhiều PPDH riêng lẻ thành tổ hợp PPDH phức hợp.
- Liên kết PPDH với các phương tiện kỹ thuật dạy học hiện đại tạo ra các
tổ hợp PPDH sử dụng kỹ thuật.
- Chuyển hóa các phương pháp khoa học thành PPDH đặc thù của môn
học.
- Đa dạng hóa các PPDH phù hợp với các cấp học, bậc học, các loại hình
trường và các môn học.
1.3.3.4. Vấn đề đổi mới PPDH ở trường THPT
Đổi mới phương pháp dạy học đang là trung tâm chú ý của các cấp quản
lý cũng như của CBQL nhà trường. Trong thời đại ngày nay, khi khoa học,
công nghệ đang phát triển mạnh mẽ, khi hội nhập đang trở thành xu thế toàn
cầu, thì việc đào tạo nguồn nhân lực năng động, sáng tạo là điều kiện tồn tại
của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc. Vì vậy "Đổi mới phương pháp dạy và học,
phát huy tư duy sáng tạo và năng lực tự đào tạo của người học"[13, 203] là tư
tưởng chiến lược đào tạo con người của giáo dục Việt Nam.
Cuộc vận động đổi mới phương pháp dạy học ở nước ta đã được phát
động và triển khai trong nhiều năm, toàn ngành đã có những nỗ lực nhất định,
nhưng sự vận động của nhà trường đang diễn ra chậm chạp, chưa đáp ứng
được các yêu cầu của xã hội.
Muốn quản lý được việc đổi mới phương pháp dạy học, CBQL phải nắm
được những kiến thức và nghiệp vụ sư phạm, nghĩa là nắm được nội dung đổi
25
mới. Chúng ta sẽ tìm hiểu vấn đề này bắt đầu từ quan niệm về đổi mới
phương pháp dạy học.
Đổi mới không phải là thay đổi toàn bộ phương pháp dạy học đã có, mà