Nâng cao hiệu quả giám sát của hội đồng nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong giai đoạn hiện nay - Pdf 33

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
-----------

NGUYỄN THỊ KIM TUYẾN

NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁM SÁT
CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

ĐỒNG THÁP - 2015


2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

--------

NGUYỄN THỊ KIM TUYẾN

NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁM SÁT
CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số: 60 31 02 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

2. Mục đích của luận văn.......................................................................................8
3. Nhiệm vụ của luận văn......................................................................................8
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.....................................................................8
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu........................................................8
6. Ý nghĩa của luận văn.........................................................................................9
7. Kết cấu của luận văn..........................................................................................9
B. NỘI DUNG....................................................................................................10
Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động giám sát và hiệu quả giám sát của Hội
đồng nhân dân cấp tỉnh...................................................................................... 10
1.1. Vị trí, vai trò, chức năng của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh...........................10
1.2. Chủ thể, đối tượng, nội dung, hình thức thực hiện chức năng giám sát ......24
1.3. Các yếu tố bảo đảm hiệu quả giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh............33
1.4. Tiêu chí đánh giá hiệu quả giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh..........40
Chương 2: Thực trạng hoạt động giám sát và hiệu quả giám sát của Hội
đồng nhân dân tỉnh Đồng Tháp.......................................................................47
2.1. Đặc điểm tỉnh Đồng Tháp tác động đến thực trạng hoạt động giám sát ...................47
2.2. Cơ cấu, chất lượng đại biểu và tổ chức bộ máy Hội đồng nhân dân tỉnh.....49
2.3. Hiệu quả giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh Đồng Tháp thời gian qua...51
2.4. Đánh giá hiệu quả giám sát của Hội đồng nhân dân Tỉnh thời gian qua......74
2.5. Nguyên nhân của những hạn chế .................................................................80
Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả giám sát của Hội
đồng nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong giai đoạn hiện nay ............................90
3.1. Quan điểm nâng cao hiệu quả giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh ...........90
3.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh ....93
C. KẾT LUẬN.................................................................................................133
D. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................134


5



kết luận sau khi giám sát thường chung chung, thiếu kiểm tra, đôn đốc việc thực
hiện kết luận đó nên vẫn còn hiện tượng sau giám sát đâu lại vào đấy; kỹ năng
giám sát của các đại biểu HĐND còn nhiều bất cập... Chính vì vậy, hiệu quả
hoạt động giám sát của HĐND hiện nay còn thấp. Để khắc phục tình trạng trên,
yêu cầu cấp thiết đặt ra hiện nay là phải nâng cao hiệu quả giám sát của HĐND
tỉnh.
Trong các cấp HĐND thì HĐND cấp tỉnh có vị trí, vai trò quan trọng nổi
bật. Ở cấp này, hoạt động của HĐND được thể hiện một cách bao quát và đầy
đủ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội ở địa phương. Do đó, nghiên cứu
hoạt động giám sát của HĐND cấp tỉnh sẽ tạo điều kiện thuận lợi để tìm hiểu
hoạt động giám sát của HĐND cấp khác. Trong khuôn khổ một luận văn thạc sĩ,
tác giả lựa chọn nghiên cứu hoạt động giám sát của HĐND ở một địa phương cụ
thể. Việc nghiên cứu đó vừa góp phần nâng cao chất lượng hoạt động giám sát
của HĐND ở đây, vừa có thể rút ra những vấn đề có ý nghĩa cho việc tăng
cường hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND nói chung. Xuất phát từ những
yêu cầu bức xúc về lý luận và thực tiễn nêu trên, tác giả chọn đề tài "Nâng cao
hiệu quả giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong giai đoạn hiện
nay" làm luận văn Thạc sĩ Khoa học chính trị, chuyên ngành Chính trị học.
Vấn đề giám sát và nâng cao hiệu lực giám sát của cơ quan dân cử nói
chung được đề cập nhiều trên sách báo, tạp chí, diễn đàn, hội thảo khoa học.
Riêng về công tác giám sát của HĐND, trong thời gian qua cũng đã có một số
công trình khoa học đề cập tới ở những góc độ khác nhau. Tiêu biểu cho những
công trình đó có thể kể đến:
- Vũ Mạnh Thông (1998), Nâng cao hiệu lực giám sát của Hội đồng nhân
dân cấp tỉnh trong điều kiện đổi mới ở Việt Nam hiện nay, Luận văn Thạc sĩ
Luật học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 1998.


7

- TS.Trần Đình Đàn (2012), “Nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của
Hội đồng nhân dân tỉnh đối với lĩnh vực đất đai”, Đề tài khoa học cấp bộ.
- TS. Phạm Ngọc Kỳ (2014), Quyền giám sát của Hội đồng nhân dân và kỹ
năng giám sát cơ bản”, Nhà xuất bản Tư pháp.
Các công trình khoa học của các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính
sách tập trung nhấn mạnh trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay, Đảng và
Nhà nước rất quan tâm đến vấn đề đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan
nhà nước, trong đó đặc biệt quan tâm tới tổ chức và hoạt động của HĐND, với
mục đích làm cho HĐND thực hiện được đúng và đầy đủ những chức năng,
nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.
Giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật là một trong những chức
năng, nhiệm vụ và quyền hạn quan trọng của HĐND được ghi nhận trong Hiến
pháp năm 1992, Hiến pháp 2013 và được Luật Tổ chức HĐND và Ủy ban nhân
dân (UBND) năm 2003 quy định tại Chương III “Hoạt động giám sát của Hội
đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân
dân và đại biểu Hội đồng nhân dân”.
Trong những năm gần đây, đặc biệt từ khi Luật Tổ chức HĐND và UBND
năm 2003 đã có hiệu lực pháp luật, thì hoạt động giám sát của HĐND ngày càng
được quan tâm hơn và có hiệu quả hơn.
Những công trình khoa học trên đã cung cấp cơ sở phương pháp luận hết
sức quan trọng trong việc tiếp cận vấn đề nâng cao hiệu quả giám sát của
HĐND. Tuy nhiên, mỗi tác giả trên chủ yếu khai thác đề tài từ góc độ khoa học
pháp lý cho nên chưa bao quát, toàn diện các khía cạnh, nội dung liên quan đến
công tác giám sát của HĐND cấp tỉnh. Hơn nữa, thời điểm nghiên cứu cũng diễn
ra khá lâu, trong khi giai đoạn hiện nay có nhiều đòi hỏi mới cần tiếp tục nghiên
cứu để tổng kết thực tiễn. Cho đến nay cũng chưa có công trình nào đề cập một


9


và hoạt động của chính quyền địa phương.
Để thực hiện mục đích, nhiệm vụ của đề tài luận văn, trong quá trình thực
hiện luận văn, tác giả sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu: phương
pháp phân tích tổng hợp, hệ thống hoá, so sánh; phương pháp quan sát, phương
pháp chuyên gia, phương pháp tổng kết thực tiễn.
6. Ý nghĩa của luận văn
- Luận văn góp phần làm rõ hơn cơ sở lý luận và thực tiễn về chức năng
giám sát và hoạt động giám sát của HĐND cấp tỉnh. Đặc biệt làm rõ đặc điểm
của công tác giám sát ở HĐND tỉnh Đồng Tháp.
- Trên cơ sở đánh giá toàn diện thực trạng về chất lượng hoạt động giám sát
của HĐND tỉnh Đồng Tháp, luận văn đề xuất các phương hướng, giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả giám sát của HĐND tỉnh trong giai đoạn mới.
- Luận văn có thể sử dụng làm tư liệu nghiên cứu tham khảo cho công tác
nâng cao năng lực, kỹ năng hoạt động HĐND của đại biểu dân cử và cho cơ
quan thường trực của HĐND các cấp trong tỉnh.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động giám sát và hiệu quả giám sát của
HĐND cấp tỉnh.
Chương 2: Thực trạng hoạt động giám sát và hiệu quả giám sát của HĐND
tỉnh Đồng Tháp.
Chương 3: Yêu cầu khách quan, quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu
quả giám sát của HĐND tỉnh Đồng Tháp trong giai đoạn hiện nay.


11

B. NỘI DUNG
Chương 1

quan đại biểu của nhân dân, là chỗ dựa vững chắc để nhân dân xây dựng, củng
cố chính quyền ngày càng lớn mạnh.
Nói đến vị trí là nói đến chỗ đứng của HĐND trong hệ thống chính trị và
bộ máy nhà nước. Điều 1 Luật Bầu cử HĐND nêu rõ HĐND là cơ quan do nhân
dân bầu ra, miễn nhiệm và bãi nhiệm theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực
tiếp và bỏ phiếu kín. Con đường hình thành này là một yếu tố quan trọng tạo nên
vị trí của HĐND.
Vị trí, vai trò quan trọng của HĐND trong bộ máy nhà nước ta được
khẳng định dựa trên những cơ sở lý luận và thực tiễn sau đây:
- Hội đồng nhân dân các cấp đã khẳng định được vị trí, vai trò và trách
nhiệm của mình trong suốt quá trình tồn tại và phát triển. HĐND có khả năng
đoàn kết, tập hợp, thống nhất ý chí và hành động của quần chúng, động viên
được mọi nguồn lực vật chất và tinh thần của mỗi địa phương góp phần vào
thắng lợi chung của sự nghiệp cách mạng.
- Sự hiện diện của HĐND trong hệ thống chính trị có vai trò to lớn trong
việc hình thành Nhà nước kiểu mới ở nước ta, thể hiện được tính giai cấp sâu
sắc, tính nhân dân thực sự của Nhà nước, tạo niềm tin vững chắc cho nhân dân
về một chính quyền của dân, do dân, vì dân.
- Hội đồng nhân dân các cấp đã trở thành nơi thực hiện quyền làm chủ của
nhân dân. Những người có đủ năng lực, phẩm chất sẽ tham gia vào HĐND và
thông qua họ, HĐND trở thành diễn đàn để người dân lao động thực hiện quyền
làm chủ nhà nước và xã hội của mình.
- Hội đồng nhân dân là cầu nối giữa chính quyền trung ương với chính
quyền địa phương, vừa bảo đảm sự tập trung thống nhất trong hoạt động của bộ


13

máy nhà nước trên phạm vi toàn quốc, vừa bảo đảm phát huy được nội lực từng
địa phương, cơ sở. Thông qua Quốc hội và HĐND các cấp, bằng quyền dân chủ

nhà nước khác ở địa phương như bầu, miễn nhiệm, bãi miễn các chức danh của
UBND là cơ quan chấp hành của mình; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Hội thẩm
nhân dân của Tòa án nhân dân cùng cấp; cũng như có quyền bỏ phiếu tín nhiệm
đối với các chức danh do HĐND bầu ra.
+ Có quyền căn cứ vào Hiến pháp và pháp luật ra Nghị quyết để triển khai
các mặt công tác ở địa phương trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, quốc phòng,
an ninh, văn hóa, giáo dục...
+ Có quyền giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật ở địa phương.
Do vị trí pháp lý như trên, quyền lực của HĐND được giới hạn trong
phạm vi đơn vị hành chính lãnh thổ, tuy là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa
phương, HĐND không có quyền lập pháp mà là cơ quan có chức năng quản lý
địa phương, thực hiện nhiều hoạt động mang tính chấp hành và điều hành. Tính
chất quyền lực của HĐND được thể hiện trên nhiều phương diện, nhưng xét về
mặt địa vị pháp lý không giống với Quốc hội. Quốc hội được Hiến pháp ghi
nhận là cơ quan quyền lực cao nhất của cả nước cả về phạm vi, cấp độ cũng như
thẩm quyền, đặc biệt là quyền ban hành Hiến pháp, pháp luật. Ở nước ta, Quốc
hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến, lập pháp. HĐND cũng là cơ quan
quyền lực nhà nước nhưng chỉ có quyền ban hành nghị quyết - là loại văn bản
pháp quy dưới luật, phải bảo đảm những quy định và quyết định của các cơ quan
nhà nước cấp trên ở trung ương và địa phương được thực hiện. HĐND phải chịu
trách nhiệm trước các cơ quan chính quyền cấp trên, chịu sự hướng dẫn hoạt
động của Chính phủ và chịu sự lãnh đạo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.


15

Thứ hai, HĐND là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm
chủ của nhân dân địa phương.
Ở địa phương, HĐND là cơ quan duy nhất được thành lập bằng một cuộc
bầu cử do cử tri địa phương trực tiếp bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình

dân tín nhiệm sẽ bị bãi nhiệm.
Tuy nhiên, về lý luận cũng như thực tiễn chúng ta chưa quan tâm đúng
mức đến việc xây dựng mô hình từng cấp và tổng kết kinh nghiệm trong hoạt
động của HĐND. Vì thế, trên thực tế cả về mặt tổ chức cũng như hoạt động của
HĐND các cấp vẫn còn là một trong những khâu yếu kém của bộ máy nhà nước.
Do vậy có ý kiến cho rằng: cần bỏ HĐND, hay nói cách khác sự tồn tại của
HĐND không cần thiết vì hoạt động của nó rất hình thức, làm cho bộ máy nhà
nước thêm cồng kềnh, tốn kém. Đó là quan điểm trái với bản chất của Nhà nước
ta – Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, theo đó, phải có cơ quan
đại diện của nhân dân ở trung ương cũng như ở khắp các địa phương, cơ sở để
nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình.
Hiến pháp quy định mở để tổ chức chính quyền địa phương phù hợp với
đặc điểm đơn vị hành chính, không phải mở để tước đoạt quyền làm chủ của
nhân dân. Hiến pháp năm 2013 đã quy định mỗi cấp chính quyền gồm HĐND
và UBND được tổ chức phù hợp với đặc điểm của khu vực nông thôn, thành thị,
hải đảo và khu vực hành chính – kinh tế đặc biệt theo quy định của pháp luật.
Diễn giải quy định này của Hiến pháp, cơ quan soạn thảo dự Luật Tổ chức chính
quyền địa phương cho rằng, như vậy sẽ có những nơi không tổ chức HĐND.
Dự án Luật Chính quyền địa phương về cơ bản vẫn là Luật Tổ chức
HĐND và UBND, có bổ sung một số nội dung quan trọng nhằm cụ thể hóa Hiến
pháp năm 2013. Cơ quan soạn thảo dự án Luật trình Quốc hội hai phương án về
mô hình tổ chức chính quyền địa phương. Theo đó có một phương án sẽ tổ chức
HĐND đầy đủ ở các cấp chính quyền; một phương án sẽ bỏ HĐND quận,
phường. Việc đưa ra cả hai phương án như vậy chứng tỏ cơ quan soạn thảo cũng


17

lúng túng trong vấn đề này. Phải có quan điểm chắc chắn trên cơ sở lý luận và
thực tiễn vững vàng chứ không thể tư duy về tổ chức bộ máy chính quyền địa

“Qua quá trình thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân quận, huyện,
phường thì thấy đúng là có bớt đi được biên chế, bớt đi được bộ máy. Nhưng
thực tế là, những người giữ chức vụ thường trực Hội đồng nhân dân, chuyên
viên Văn phòng vẫn còn nguyên trong biên chế, chỉ chuyển sang hoạt động
trong lĩnh vực khác. Tức là không hề giảm số lượng người trong bộ máy quản lý
nhà nước. Quá trình thí điểm này chỉ cho thấy, bớt đi được đầu tên cơ quan là
Thường trực Hội đồng nhân dân, chứ ngay cả khi sáp nhập các cơ quan quản lý
nhà nước hay địa phương thì số lượng cán bộ, công chức, viên chức trong bộ
máy cũng không giảm đi” [42].
Trong thực tế, hoạt động quyết định, giám sát của HĐND đều có hạn chế.
Về mặt lý luận cũng như thực tiễn, cách thành lập HĐND, cơ cấu đại biểu, hình
thức hoạt động... mới chỉ là dấu hiệu về mặt hình thức, còn hiệu quả hoạt động
trong thực tế mới là cơ sở phản ánh đầy đủ nhất tính chất đại diện của HĐND.
Vị trí, vai trò HĐND là hoàn toàn có cơ sở, được ghi nhận trong Hiến
pháp và các văn bản pháp luật khác. HĐND có thể đứng đúng vị trí, thể hiện
đúng vai trò của nó khi vị trí, vai trò được ghi nhận đó được triển khai có hiệu
quả trên thực tế. Vấn đề đặt ra là, bằng cách nào để HĐND thực hiện được
quyền lực của mình trên thực tiễn là mục đích hướng tới của công cuộc đổi mới
và hoàn thiện bộ máy nhà nước nói chung và HĐND các cấp nói riêng.
1.1.2. Chức năng của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
Chức năng của HĐND là những phương diện hoạt động chủ yếu của
HĐND nhằm thực hiện vai trò, nhiệm vụ của HĐND. Điều 1, Luật Tổ chức
HĐND và UBND năm 2003, HĐND các cấp đều có hai chức năng cơ bản: chức
năng quyết định và chức năng giám sát.


19

- Chức năng quyết định.
Điều 1, Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 ghi nhận: "Hội đồng

Phó Chủ tịch HĐND, Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các thành viên của UBND,
Trưởng Ban và các thành viên Ban của HĐND) hoặc sẽ là căn cứ để HĐND bãi
bỏ những quyết định sai trái của UBND cùng cấp, những nghị quyết sai trái của
HĐND cấp dưới trực tiếp.
Theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, vị trí, vai trò và chức năng của
HĐND rất quan trọng. Trong đó chức năng giám sát có vai trò đặc biệt lớn. Do
yêu cầu của luận văn đặt ra, vấn đề giám sát của HĐND cần được nghiên cứu
sâu cả về mặt lý luận và thực tiễn. Trên cơ sở đó chúng ta có những căn cứ để đề
xuất một số phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của
HĐND cấp tỉnh nói chung và HĐND tỉnh Đồng Tháp nói riêng trong điều kiện
đổi mới ở nước ta hiện nay.
1.1.3. Khái niệm hoạt động giám sát và hiệu quả hoạt động giám sát
của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
- Khái niệm giám sát:
Theo từ điển Tiếng Việt, giám sát là theo dõi và kiểm tra xem có thực
hiện đúng những điều quy định hay không.
Theo Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội ban hành năm 2003, tại
khoản 1 Điều 2 giải thích: “Giám sát là việc Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc
hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn Đại biểu Quốc hội và đại
biểu Quốc hội theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá
nhân chịu sự giám sát trong việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc
hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội” [35, tr. 8].
Trong Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003, tuy không định nghĩa
cụm từ giám sát nhưng các nội dung trong chương III của luật này quy định cụ


22

thể nội dung mà HĐND tiến hành giám sát bao gồm: giám sát tổ chức hoạt động
của các cơ quan do HĐND bầu ra và giám sát việc thi hành pháp luật và nghị

bản pháp luật khác, hoạt động giám sát của HĐND cấp tỉnh được hiểu như sau:
Giám sát của HĐND cấp tỉnh là tổng thể các hoạt động của HĐND, Thường
trực HĐND, các Ban của HĐND và các đại biểu HĐND nhằm theo dõi, xem
xét, đánh giá hoạt động của các cơ quan tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát
trong việc thi hành Hiến pháp, luật, pháp lệnh và các văn bản của cơ quan nhà
nước cấp trên cũng như nghị quyết của HĐND cấp tỉnh; từ đó đưa ra các kết
luận và phương án xử lý phù hợp để khắc phục những tồn tại, hạn chế, phát huy
mọi tiềm năng, xây dựng và phát triển kinh tế, văn hoá- xã hội, bảo đảm quốc
phòng – an ninh; không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân
dân địa phương, làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với cả nước.
Điểm đặc biệt HĐND vừa là chủ thể thực hiện hoạt động giám sát nhưng
đồng thời cũng là đối tượng chịu sự giám sát của Quốc hội.
- Khái niệm hiệu quả giám sát:
Xác định hiệu quả giám sát là một nhiệm vụ phức tạp và đầy khó khăn cả
về mặt lý luận và thực tiễn. Theo các nhà ngôn ngữ học, khái niệm hiệu quả
được hiểu là kết quả đạt được trong việc thực hiện một nhiệm vụ nhất định.
Trong khi đó các nhà quản lý hành chính lại cho rằng: hiệu quả là sự so sánh
giữa các chi phí đầu tư với các giá trị của đầu ra, sự tăng tối đa lợi nhuận và tối
thiểu chi phí, là mối tương quan giữa sử dụng nguồn lực và tỷ lệ đầu ra, đầu vào.
Trong phạm vi đề tài nghiên cứu về hiệu quả giám sát của HĐND, cần
phải đặt hiệu quả trong mối quan hệ với hiệu lực giám sát của HĐND. Hiệu quả
cao hay thấp phụ thuộc vào việc HĐND thực hiện chức năng giám sát của mình
theo quy định của pháp luật đến đâu cũng như những kết luận kiến nghị từ hoạt
động giám sát có được các cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện nghiêm chỉnh
hay không. Để bảo đảm hiệu lực, hoạt động giám sát có chất lượng, nghĩa là


24

phải đưa ra những kết luận đề xuất đúng đắn. Trong mối quan hệ giữa chất

Như vậy, nói một cách khái quát, hiệu quả giám sát của HĐND tỉnh phải
bao hàm cả những yếu tố định tính "chính là những ảnh hưởng (hiệu ứng tích
cực) mà hoạt động giám sát mang lại, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động
của bộ máy Nhà nước và toàn xã hội" [4, tr.98-99]. Đồng thời thông qua hoạt
động giám sát sẽ tăng cường mối quan hệ giữa HĐND với các cơ quan nhà nước
khác, góp phần xây dựng chính quyền địa phương ngày càng vững mạnh.
Từ những phân tích trên, hiệu quả giám sát của HĐND được hiểu là hiệu
lực thi hành các kiến nghị của hoạt động giám sát, đem lại kết quả phù hợp với
mục đích giám sát, với những chi phí hợp lý về thời gian, trí lực, vật lực….cho
hoạt động giám sát.
1.2. Chủ thể, đối tượng, nội dung, hình thức thực hiện chức năng
giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
1.2.1. Chủ thể, đối tượng giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
1.2.1.1. Chủ thể giám sát
Theo Điều 57 Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003, giám sát của
HĐND bao gồm: giám sát của HĐND tại kỳ họp, giám sát của Thường trực
HĐND, giám sát của các Ban của HĐND và giám sát của đại biểu HĐND.
Như vậy, chủ thể thực hiện quyền giám sát của HĐND bao gồm:
- HĐND: Tập thể các đại biểu HĐND tại phiên họp hội đồng.
- Thường trực HĐND.
- Các Ban của HĐND.
- Đại biểu HĐND.
Theo Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 1994 (sửa đổi), thường trực
HĐND chưa phải là chủ thể của hoạt động giám sát, mới chỉ là người đôn đốc,
kiểm tra các hoạt động của UBND cùng cấp cũng như vấn đề giải quyết khiếu



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status