LUẬN VĂN:
Nâng cao hiệu quả giám sát của
Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An
trong giai đoạn hiện nay
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Kiện toàn tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà
nước (BMNN) là một trong những yêu cầu quan trọng để xây dựng Nhà nước pháp
quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Mục đích đặt ra là làm cho
các cơ quan nhà nước ở Trung ương cũng như ở địa phương thực hiện đúng và đầy
đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định Hiến pháp và pháp luật.
Trong bộ máy nhà nước, Hội đồng nhân dân (HĐND) vừa là cơ quan quyền
sau giám sát đâu lại vào đấy; kỹ năng giám sát của các đại biểu HĐND còn nhiều
bất cập Chính vì vậy, hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND hiện nay còn thấp.
Để khắc phục tình trạng trên, yêu cầu cấp thiết đặt ra hiện nay là phải nâng cao hiệu
quả giám sát của HĐND. Như văn kiện Đại hội X của Đảng đã khẳng định: "Cần
xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm tra giám sát nâng cao chất lượng hoạt động của
Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân đảm bảo quyền tự chủ và tự chịu trách
nhiệm của chính quyền địa phương trong phạm vi được phân cấp. Phát huy vai trò
giám sát của Hội đồng nhân dân " [7, tr.126-127].
Trong các HĐND thì HĐND cấp tỉnh có vị trí, vai trò quan trọng nổi bật. ở
cấp này, hoạt động của HĐND được thể hiện một cách bao quát và đầy đủ trên tất
cả các lĩnh vực của đời sống xã hội ở địa phương. Do đó, nghiên cứu hoạt động
giám sát của HĐND cấp tỉnh sẽ tạo điều kiện thuận lợi để tìm hiểu hoạt động giám
sát của HĐND cấp khác. Vì không đủ điều kiện thời gian tìm hiểu hoạt động giám
sát của HĐND cấp tỉnh trên phạm vi cả nước, nên trong khuôn khổ một luận văn
thạc sĩ, tác giả lựa chọn nghiên cứu hoạt động giám sát của HĐND ở một địa phương
cụ thể. Việc nghiên cứu đó vừa góp phần nâng cao chất lượng hoạt động giám sát của
HĐND ở đây, vừa có thể rút ra những vấn đề có ý nghĩa cho việc tăng cường hiệu quả
hoạt động giám sát của HĐND nói chung.
Xuất phát từ những yêu cầu bức xúc về lý luận và thực tiễn nêu trên, tác giả
chọn đề tài "Nâng cao hiệu quả giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An
trong giai đoạn hiện nay" làm luận văn Thạc sĩ Luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Giám sát và vấn đề nâng cao chất lượng, hiệu quả giám sát của cơ quan dân cử ở
nước ta được đề cập nhiều trên các sách báo, tạp chí, các diễn đàn khoa học nhưng chủ
yếu mới quan tâm đến chức năng giám sát của Quốc hội, còn về HĐND các công trình
nghiên cứu đang dừng lại ở mức độ rất hạn chế như:
- Nguyễn Quốc Tuấn, Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của
Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân các cấp, Tạp chí Tổ chức nhà nước, số
6/2002.
HĐND cấp tỉnh.
+ Phân tích thực trạng hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Nghệ An trong
thực tiễn, qua đó đánh giá hiệu quả giám sát của HĐND tỉnh Nghệ An.
+ Xác định những quan điểm, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Nghệ An hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu lý luận chung về hiệu quả giám sát của
HĐND cấp tỉnh, đánh giá thực trạng hoạt động giám sát và hiệu quả giám sát của
HĐND tỉnh Nghệ An trong nhiệm kỳ 1999 - 2004 và từ 2004 đến nay, đồng thời đề
xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giám sát của HĐND tỉnh Nghệ An trong
giai đoạn hiện nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về Nhà nước kiểu mới,
HĐND, chức năng giám sát của HĐND.
- Ngoài phương pháp luận của triết học Mác-Lênin, luận văn sử dụng các
phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so
sánh, phương pháp chuyên gia.
6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Khái quát những nét cơ bản về nội dung giám sát cũng như đặc điểm giám
sát của HĐND cấp tỉnh.
- Làm rõ về mặt lý luận khái niệm hiệu quả giám sát của HĐND, cũng như
các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả giám sát, các tiêu chí đánh giá hiệu quả giám sát
của HĐND cấp tỉnh.
- Đánh giá một cách hệ thống, toàn diện thực trạng hoạt động giám sát và
hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Nghệ An trong nhiệm kỳ 1999 - 2004
và từ 2004 đến nay.
- Đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả giám sát của
HĐND tỉnh Nghệ An trong giai đoạn hiện nay.
hoạt động của nó rất hình thức, làm cho BMNN thêm cồng kềnh, tốn kém. Đó là
quan điểm không thể chấp nhận được vì nó trái với bản chất của Nhà nước ta - Nhà
nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, theo đó, phải có cơ quan đại diện của
nhân dân ở Trung ương cũng như ở khắp các địa phương, cơ sở để nhân dân thực hiện
quyền làm chủ của mình. Như vậy, vấn đề đặt ra hiện nay là phải tăng cường củng cố,
kiện toàn HĐND, để HĐND hoạt động thực chất hơn và ngày càng có hiệu lực, hiệu
quả tương xứng với vị trí, vai trò của HĐND như Hiến pháp năm 1992 đã khẳng
định.
Vị trí, vai trò quan trọng của HĐND trong BMNN ta được khẳng định dựa
trên những cơ sở lý luận và thực tiễn sau đây:
- Trong suốt quá trình tồn tại và phát triển HĐND các cấp đã khẳng định
được vị trí, vai trò và trách nhiệm của mình. Với tư cách là cơ quan quyền lực nhà
nước ở địa phương, đại diện cho nhân dân địa phương, HĐND có khả năng đoàn
kết, tập hợp; thống nhất ý chí và hành động của quần chúng, động viên được mọi
nguồn lực vật chất và tinh thần của mỗi địa phương góp phần vào thắng lợi chung
của sự nghiệp cách mạng.
- Sự hiện diện của HĐND các cấp dưới sự lãnh đạo của Đảng có vai trò to
lớn trong việc hình thành nhà nước kiểu mới ở nước ta, thể hiện được tính giai cấp
sâu sắc, tính nhân dân thực sự của nhà nước, tạo niềm tin vững chắc cho nhân dân
về một chính quyền của dân, do dân, vì dân.
- HĐND các cấp đã trở thành trường học về quyền làm chủ nhân dân. Những
người có đủ năng lực, phẩm chất sẽ tham gia vào HĐND và thông qua họ, HĐND
trở thành diễn đàn để người dân lao động thực hiện quyền làm chủ Nhà nước và xã
hội của mình. Thực tiễn hoạt động của HĐND từ khi ra đời đến nay thực sự là tài
sản và kinh nghiệm quý báu cho quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân.
- HĐND là cầu nối giữa chính quyền Trung ương với chính quyền địa
phương; vừa bảo đảm sự tập trung thống nhất trong hoạt động của BMNN trên
phạm vi toàn quốc, vừa đảm bảo phát huy được nội lực từng địa phương, cơ sở.
khác đóng tại địa phương. Điều này có nghĩa, HĐND không đại diện cho một đảng
phái, tổ chức nào mà đại diện cho toàn thể nhân dân; thành phần trong HĐND thể
hiện khối đại đoàn kết của toàn dân sống trên địa phương. Tính chất đại diện của
HĐND khác với tính chất đại diện của Quốc hội. Hiến pháp năm 1992 xác định:
Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân (Điều 83); đại biểu Quốc hội là
đại diện cho nhân dân cả nước (Điều 97). Còn HĐND là cơ quan chỉ đại diện cho
nhân dân địa phương bầu ra mình, đồng thời chịu trách nhiệm trước nhân dân địa
phương đó và cơ quan nhà nước cấp trên.
Tuy nhiên, về mặt lý luận cũng như thực tiễn, cách thành lập HĐND, cơ cấu
đại biểu, hình thức hoạt động mới chỉ là dấu hiệu về mặt hình thức, còn hiệu quả
hoạt động trong thực tế là cơ sở phản ánh đầy đủ nhất tính chất đại diện của HĐND.
Song yêu cầu đó hiện nay HĐND vẫn chưa đáp ứng được lòng mong mỏi của nhân
dân, nên chăng mới chỉ phản ánh được phần nào bản chất dân chủ của chế độ nhà
nước ta.
Thứ hai, HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương thể, hiện ở các
mặt sau đây:
+ Được thành lập bởi các đại biểu do nhân dân địa phương bầu ra, đại diện
cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ nhân dân.
+ Có quyền căn cứ vào pháp luật, bầu, miễn nhiệm, bãi miễn các chức danh
của UBND là cơ quan chấp hành của mình; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Hội thẩm
nhân dân của TAND cùng cấp; cũng như có quyền bỏ phiếu tín nhiệm đối với các
chức danh do HĐND bầu ra.
+ Có quyền căn cứ vào Hiến pháp và pháp luật ra Nghị quyết để triển khai
các mặt công tác ở địa phương.
+ Có quyền giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật ở địa phương, đồng
thời chịu sự giám sát, hướng dẫn của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và hướng dẫn,
kiểm tra của Chính phủ.
Như vậy, tính chất quyền lực của HĐND được thể hiện trên nhiều phương
diện, nhưng xét về mặt địa vị pháp lý không giống với Quốc hội. Quốc hội được
+ Quyết định về phát triển khoa học - công nghệ, tài nguyên và môi trường
(Điều 13).
+ Quyết định về quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội (Điều 14).
+ Quyết định về thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo (Điều
15).
+ Quyết định về việc thi hành pháp luật (Điều 16).
+ Quyết định về việc xây dựng chính quyền địa phương (Điều 17).
Như vậy, nội dung, chức năng quyết định của HĐND cấp tỉnh rất rộng, bao
gồm tất cả các mặt của đời sống kinh tế - xã hội, văn hoá, khoa học, quốc phòng, an
ninh. Điều này một lần nữa khẳng định rõ hơn vị trí, vai trò và tầm quan trọng của
HĐND trong chính quyền địa phương. Mặt khác, đây cũng là những căn cứ pháp lý
để tạo ra môi trường thuận lợi cho chính quyền địa phương khai thác hết mọi tiềm
năng, nội lực sẵn có của mình, nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân
dân địa phương, làm tròn nghĩa vụ với cử tri và cấp trên giao cho.
ở đây chúng ta cần lưu ý, theo quy định của pháp luật trong chức năng quyết
định, HĐND có thẩm quyền rất lớn đối với sự phát triển toàn diện của địa phương.
Vì vậy, khi đưa ra các quyết định đó phải đảm bảo tính dân chủ và tính khả thi trên
thực tế, tránh tình trạng mọi vấn đề được quyết định trước, đến kỳ họp HĐND, đại
biểu chỉ giơ tay biểu quyết, không có sự bàn bạc, thảo luận. Thực hiện thảo luận và
biểu quyết dân chủ là điều kiện đảm bảo chất lượng đối với các quyết định của Hội
đồng.
- Chức năng giám sát.
Đoạn 3, Điều 1 Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 quy định: "HĐND
thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của thường trực HĐND, UBND,
TAND, VKSND cùng cấp; giám sát việc thực hiện nghị quyết của HĐND; giám sát
việc tuân theo pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn
vị vũ trang nhân dân và của công dân ở địa phương".
Qua quá trình phát triển, vai trò, chức năng giám sát của HĐND ngày càng
được hoàn thiện. Sắc lệnh Số 63/SL ngày 23/11/1945 về tổ chức chính quyền địa
hạnh phúc cho người dân [29, tr.141-143].
Để đáp ứng được yêu cầu trên cần phải đổi mới tổ chức, nâng cao chất lượng
và hiệu quả hoạt động của HĐND, trong đó đặc biệt phải chú ý đến chức năng giám
sát.
Do yêu cầu của luận văn đặt ra, vấn đề giám sát của HĐND cần được nghiên
cứu sâu cả về mặt lý luận và thực tiễn. Trên cơ sở đó chúng ta có những căn cứ để
đề xuất một số phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của
HĐND cấp tỉnh nói chung và HĐND tỉnh Nghệ An nói riêng trong điều kiện đổi
mới ở Việt Nam hiện nay.
1.2. Khái niệm, đặc điểm, nội dung hoạt động giám sát của Hội đồng
nhân dân cấp tỉnh
1.2.1. Khái niệm hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
Để nhận thức đúng bản chất, nội dung cũng như hình thức động giám sát của
HĐND cấp tỉnh, trước hết cần làm rõ khái niệm giám sát.
Trong các công trình nghiên cứu một số tài liệu, thuật ngữ "giám sát" được
hiểu theo nhiều cách, từ nhiều góc độ khác nhau:
- Có quan niệm cho rằng, giám sát là: sự theo dõi, xem xét, làm đúng hoặc
sai những điều đã quy định [41, tr.305].
- Quan niệm khác coi giám sát là việc theo dõi và kiểm tra xem có thực hiện
đúng những điều quy định không; là chức quan thời xưa trông nom, coi sóc một loại
công việc nhất định [48, tr.389].
- Có ý kiến chỉ coi giám sát là một nhóm hoặc một tổ chức để theo dõi một
việc nào đấy [40, tr.230].
Với cách tiếp cận mang tính hệ thống, ý kiến khác lại quan niệm:
giám sát là sự theo dõi, quan sát hoạt động mang tính chủ động, thường
xuyên, liên tục và sẵn sàng tác động bằng các biện pháp tích cực để buộc
và hướng hoạt động của đối tượng chịu sự giám sát đi đúng quỹ đạo quy
chế nhằm đạt được những mục đích, hiệu quả xác định từ trước, bảo đảm
cho pháp luật được tuân thủ nghiêm chỉnh [43, tr.174].
không thể có tình trạng tự chủ thể hoạt động quan sát chính hành vi của mình mà
phải là hoạt động theo dõi, thẩm tra và xem xét của một chủ thể khác, từ đó đưa ra
kết luận và xử lý. Khác với kiểm tra, thanh tra, nội dung hoạt động giám sát bao giờ
cũng được báo trước cho đối tượng bị giám sát một thời gian nhất định. Cũng có ý
kiến cho rằng, trong cơ chế giám sát có cả việc tự giám sát tức là sự tự theo dõi,
xem xét và kiểm tra chính mình có thực hiện đúng những điều đã quy định không
[13, tr.87]. Với quan niệm như vậy e rằng không đúng, không phù hợp với bản chất
của từ giám sát, bởi bên cạnh khái niệm giám sát còn có khái niệm kiểm tra.
- Giám sát phải thể hiện được quan hệ giữa các chủ thể tham gia vào hoạt
động giám sát. Nội dung của quan hệ này biểu hiện ở những quyền và nghĩa vụ của
chủ thể giám sát và đối tượng chịu giám sát.
- Giám sát phải được tiến hành trên những căn cứ do pháp luật quy định.
Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng bởi vì: nếu như thiếu những quy định này
thì chủ thể giám sát không có cơ sở để thực hiện quyền giám sát và tiêu chí để đưa
ra những nhận định về hoạt động của đối tượng chịu giám sát.
- Giám sát là hoạt động có tính mục đích. Trước hết, mục đích của giám sát
là đưa ra được những nhận định chính xác của chủ thể giám sát đối với hoạt động
của đối tượng chịu giám sát, từ đó có các biện pháp xử lý đối với những việc làm
sai trái nhằm bảo đảm cho những quy định của pháp luật được thực hiện đúng và có
hiệu quả. Như vậy, mục đích chung của giám sát nhà nước cũng như giám sát xã hội
là bảo đảm cho sự hoạt động đúng đắn, minh bạch, liên tục của các cơ quan tổ chức,
cá nhân có chức vụ quyền hạn trong BMNN, trên cơ sở tuân thủ thường xuyên,
nghiêm chỉnh pháp luật về nghĩa vụ, chức năng và thẩm quyền của họ.
Tóm lại, thuật ngữ "giám sát" nếu hiểu theo nghĩa chung thì phạm vi áp dụng
của nó rất rộng, muốn có một khái niệm cụ thể thì hoạt động giám sát bao giờ cũng
gắn với một chủ thể xác định chẳng hạn như giám sát của Quốc hội, giám sát của
HĐND, giám sát của nhân dân.
Căn cứ vào các yếu tố cấu trúc của khái niệm giám sát, căn cứ vào những
quy định của Hiến pháp, Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 và các văn bản
- Thường trực HĐND.
- Các ban của HĐND.
- Đại biểu HĐND.
Theo Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 1994 (sửa đổi), thường trực
HĐND chưa phải là chủ thể của hoạt động giám sát, mới chỉ là người đôn đốc, kiểm
tra các hoạt động của UBND cùng cấp cũng như vấn đề giải quyết khiếu nại, tố cáo
của công dân ở địa phương. Như vậy, theo quy định của pháp luật hiện hành, chủ
thể giám sát của HĐND ngày càng được mở rộng và quy định chặt chẽ hơn.
1.2.2.2. Đặc điểm về đối tượng giám sát
Theo Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003, đối tượng giám sát của
HĐND bao gồm:
+ Thường trực HĐND, UBND, TAND, VKSND cùng cấp [Khoản 1, Điều
58].
+ Chủ tịch HĐND, Chủ tịch UBND các thành viên khác của UBND, Thủ
trưởng cơ quan chuyên môn thuộc UBND, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân,
Chánh án TAND cùng cấp [Khoản 2, Điều 58].
+ Các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang
nhân dân và công dân ở địa phương (Điều 1, Điều 41, Điều 42, Điều 55].
Như vậy, theo pháp luật hiện hành, đối tượng giám sát của HĐND cấp
tỉnh rất phong phú và đa dạng, bao gồm tất cả các cơ quan nhà nước, đơn vị kinh
tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân ở địa phương.
Tuy nhiên cần lưu ý, trong luật hiện hành không phân cấp giám sát giữa
HĐND các cấp, điều đó không có nghĩa HĐND mỗi cấp thực hiện thẩm quyền giám
sát như nhau đối với mọi hoạt động của đối tượng chịu giám sát. Đối tượng, phạm
vi, mức độ giám sát của HĐND phụ thuộc vào vị trí, vai trò và sự phân cấp, tính
chất của mối quan hệ giữa HĐND với đối tượng chịu sự giám sát. Chẳng hạn với
UBND do mối quan hệ chấp hành (trực thuộc) của cơ quan này với HĐND mà
phạm vi mức độ giám sát của HĐND rất lớn, bao trùm mọi hoạt động của UBND
và khả năng xử lý lớn đối với quyết định, hành vi và cả nhân sự của UBND.
luận. Việc xem xét, thảo luận các báo cáo hàng năm hoặc 6 tháng tại các kỳ họp
cuối năm hay giữa năm được tiến hành theo một trình tự chặt chẽ do luật định.
Trong đó có thẩm tra, phản biện, thảo luận, tranh luận của đại biểu HĐND đối
với các đối tượng thuộc quyền giám sát của HĐND tỉnh. Theo quyết định của
Chủ tịch HĐND hoặc của người điều khiển phiên họp, báo cáo của các đối tượng
giám sát được chuyển cho các ban của HĐND thẩm tra, nghiên cứu trước. Trên
cơ sở ý kiến tham gia, thảo luận báo cáo của các thành viên, các ban phải chuẩn bị
báo cáo thuyết trình thẩm tra trước HĐND.
Việc HĐND xem xét, thảo luận các báo cáo được diễn ra theo một trình tự
nhất định: người đứng đầu các cơ quan bị giám sát trình bày báo cáo; Trưởng ban
HĐND trình bày báo cáo thẩm tra; HĐND thảo luận; người đứng đầu cơ quan bị
giám sát trình bày báo cáo và có thể trình bày thêm những vấn đề có liên quan mà
HĐND quan tâm; HĐND ra nghị quyết về công tác của cơ quan đã báo cáo khi xét
thấy cần thiết [49, tr.79].
Việc xem xét báo cáo buộc chủ thể bị giám sát phải báo cáo về công tác của
mình là một hình thức giám sát quan trọng. Trên cơ sở đó, HĐND có thể kiểm soát
tình hình thực thi Hiến pháp, pháp luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp
trên cũng như nghị quyết của hội đồng trong thực tiễn đời sống xã hội; tăng cường
trách nhiệm cá nhân của những người đứng đầu UBND và các ban ngành về công
tác của họ trước HĐND.
Thứ hai, chất vấn, nghe trả lời chất vấn.
Tại Điều 122 Hiến pháp năm 1992: "Đại biểu HĐND có quyền chất vấn Chủ
tịch HĐND, chủ tịch và các thành viên khác của UBND, Chánh án TAND, VKSND
và Thủ trưởng các cơ quan thuộc UBND. Người bị chất vấn phải trả lời trước
HĐND trong thời hạn do luật định".
Để cụ thể hoá Hiến pháp, Điều 61 và khoản 2 Điều 58 Luật Tổ chức HĐND
và UBND năm 2003, Điều 53 quy chế hoạt động của HĐND năm 2005 đã quy định
một cách chi tiết về trình tự, thủ tục chất vấn tại kỳ họp và giữa hai kỳ họp của đại
biểu HĐND. Cụ thể:
định như sau:
Đại diện của Thường trực HĐND trình VBQPPL có dấu hiệu trái với Hiến
pháp, luật và VBQPPL của cơ quan nhà nước cấp trên; HĐND thảo luận. Trong quá
trình thảo luận, người đứng đầu cơ quan đã ban hành VBQPPL có thể trình bày bổ
sung những vấn đề liên quan. Hệ quả của hoạt động này có thể dẫn đến hai khả
năng: HĐND ra nghị quyết khi VBQPPL trên không trái với Hiến pháp, luật và
VBQPPL của cơ quan nhà nước cấp trên, hoặc quyết định bãi bỏ một phần hoặc
toàn bộ văn bản đó.
Nhìn chung, pháp luật hiện hành chưa quy định một cách cụ thể quy trình
HĐND xem xét tính hợp hiến, hợp pháp của VBQPPL. Từ Hiến pháp đến các đạo
luật như Luật Tổ chức HĐND và UBND, Luật Ban hành văn bản của HĐND và
UBND, Quy chế hoạt động của HĐND mới dừng lại ở những quy định khái quát,
chung chung nên rất khó thực thi. Vì vậy, trên thực tế HĐND tỉnh Nghệ An chưa
một lần thực hiện quyền huỷ bỏ VBQPPL bất hợp hiến.
Thứ tư, thành lập đoàn giám sát.
Trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, khi xét thấy cần
thiết phải xác minh, làm rõ, hoặc muốn biết một số thông tin cụ thể trong quá trình
hoạt động của các đối tượng chịu giám sát thì HĐND thành lập Đoàn giám sát.
Hàng năm, căn cứ vào chương trình giám sát đề ra hoặc theo đề nghị của Thường
trực HĐND, các Ban HĐND hoặc của đại biểu HĐND, HĐND quyết định thành lập
Đoàn giám sát. Khác với hoạt động thanh tra, kiểm tra, những nội dung hoạt động
của Đoàn giám sát bao giờ cũng được thông báo trước cho đối tượng bị giám sát
trong thời gian chậm nhất là 7 ngày trước khi Đoàn giám sát bắt đầu các hoạt động
giám sát. Trong quá trình làm việc với đối tượng bị giám sát, Đoàn giám sát có
quyền xem xét, xác minh tất cả những vấn đề mà Đoàn xét thấy cần thiết; có quyền
yêu cầu các cơ quan tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát báo cáo bằng văn bản, cung
cấp thông tin tài liệu có liên quan đến nội dung giám sát; đồng thời giải trình tất cả
những vấn đề mà đoàn giám sát quan tâm. Khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp
luật, gây thiệt hại đến lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá
sát của HĐND cấp tỉnh bao gồm các lĩnh vực sau:
- Giám sát về lĩnh vực kinh tế (Điều 11).
- Giám sát các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, xã hội, văn hoá, thông
tin, thể dục, thể thao (Điều 12).
- Giám sát các hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực khoa học, công
nghệ, tài nguyên và môi trường (Điều 13).
- Giám sát việc thực hiện nghĩa vụ quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội
(Điều 14).
- Giám sát việc thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo (Điều
15).
- Giám sát việc thi hành pháp luật (Điều 16).
- Giám sát việc xây dựng chính quyền địa phương và quản lý địa giới hành
chính (Điều 17).
Như vậy, nội dung giám sát của HĐND cấp tỉnh rất rộng, toàn diện, bao quát
toàn bộ hoạt động quản lý nhà nước trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã
hội, an ninh, quốc phòng, xây dựng, củng cố chính quyền, thực hiện pháp luật, bảo
đảm phát huy quyền làm chủ nhân dân ở địa phương.
1.3. Cơ sở Lý luận về hiệu quả giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
1.3.1. Khái niệm hiệu quả giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
Trong điều kiện hiện nay, xác định hiệu quả giám sát của một chủ thể cụ thể
là việc làm không đơn giản cả về mặt lý luận và thực tiễn. Đề cập đến vấn đề này
PGS,TS Võ Khánh Vinh nhận định:
Xác định hiệu quả giám sát là một nhiệm vụ phức tạp và đầy khó
khăn, các cơ quan thực tiễn thường xuyên thực hiện nghĩa vụ đó và đưa
ra nhiều tài liệu phong phú cho tư duy lý luận về vấn đề hiệu quả giám
sát. Đến nay khái niệm chung về hiệu quả giám sát cũng như các tiêu
chuẩn, các chỉ số và phương pháp xác định nó hầu như chưa được nghiên
cứu trong sách báo pháp lý và chính trị ở nước ta, tuy rằng đó là những
vấn đề có ý nghĩa quan trọng [46, tr.95].