Phát triển kinh tế hộ nông dân trên địa bàn xã Yang Reh, huyện Krông Bông, tỉnh ĐăkLăk - Pdf 33

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành báo cáo thực tập tổng hợp này trước hết em xin chân thành cảm ơn
các thầy, cô giáo trường Đại học Tây Nguyên, Khoa Kinh tế đã tạo điều kiện thuận lợi
cho em được học hành và hoàn thành chuyên đề thực tập.
Em xin chân thành cảm ơn T.s Tuyết Hoa Niê K’ Đăm, cô Vũ Trinh Vương đã nhiệt
tình hướng dẫn em hoàn thành đợt thực tập này và viết báo cáo.
Xin chân thành cảm ơn chính quyền xã Yang Reh và người dân trong xã đã nhiệt
tình giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi cho việc tìm hiểu thông tin, thu thập số liệu liên quan
đến đề tài nghiên cứu.
Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn các thành viên trong nhóm thực tập và các bạn
trong lớp đã tham gia góp ý kiến và để em hoàn thành tốt đợt thực tập báo cáo này.
Sinh viên
Vòong Nguyễn Thiên Vương

1


PHẦN 1 : ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Lý do chọn đề tài.
Trong thời kỳ chiến tranh, hộ gia đình Việt Nam có vai trò vừa cung cấp nguồn nhân
lực, vừa là nguồn của cải vật chất cho cuộc chiến, đồng thời lại là nơi sản xuất vật chất để
bảo đảm cuộc sống không những cho gia đình (chỉ với 5% quỹ đất canh tác được chia cho
các hộ gia đình làm kinh tế vườn theo lối tự túc, tự cấp), mà còn đóng vai trò là hậu
phương lớn miền Bắc cho tiền tuyến lớn miền Nam.
Vai trò của kinh tế hộ có nhiều thay đổi cả về phương thức quản lý lẫn lao động sản
xuất, nhất là kể từ khi phong trào hợp tác xã mất dần động lực phát triển. Là mô hình kinh
tế có vị trí quan trọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế vĩ mô, nhằm huy
động mọi nguồn lực tiến hành sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nhất là
hiện nay khi viêc xuất hiện nhiều hộ nông dân bứt phá khỏi tình trạng tự cung, tự cấp
vươn lên sản xuất hàng hóa, trong đó phương thức trang trại gia đình phát triển mạnh và
ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản. Và trong

những năm gần đây.
 Những thuận lợi và khó khăn trong việc phát triển kinh tế nông hộ tại xã
Yang Reh.
 Đề xuất ý kiến để phát triển kinh tế nông hộ tại xã Yang Reh.

1.3 Đối tượng nghiên cứu
Ðề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng phát triển kinh tế hộ nông dân tại xã Yang
Reh, huyện Krông Bông, tỉnh Đăk Lăk.

1.4 Phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Phạm vi không gian
Đề tài triển khai nghiên cứu tại xã Yang Reh, huyện Krông Bông, tỉnh Đăk Lăk.
1.4.2 Phạm vi thời gian
 Những thông tin thứ cấp phục vụ trong nghiên cứu là 3 năm (2008-2010).
 Thời gian thực hiện nghiên cứu là 4 tuần từ 10/10/2011 đến 12/11/2011.

3


PHẦN 2: CÁC KHÁI NIỆM, LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU.
2.1 Các khái niệm cơ bản.
Kinh tế hộ đề cập tới những hoạt động kinh tế của hộ gia đình trong việc quản lý
các nguồn lực nhằm đạt được mục đích của mình. Ðiều này cũng bao gồm cả việc sản
xuất, tiêu thụ lương thực và an ninh lương thực. Mặt khác hộ là cái gốc đảm bảo nhu cầu
lương thực cho toàn xã hội và xuất khẩu. Dân số tăng, đời sống xã hội phát triển, buộc hộ
phải sản xuất nhiều hơn, muốn vậy phải áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất. Nhất là
khi nước ta gia nhập WTO như hiện này nhu cầu về sản phẩm sạch, chất lượng cao là tất yếu.
Ðây quả là một thách thức đối với kinh tế hộ ở nông thôn, nhưng liệu họ có thể đứng vững để
tiến kịp thời đại, hay là thụt lùi đấy còn là một quá trình dài mà chúng ta phải nghiên cứu

hai loại:
- Loại kinh tế nông hộ kết hợp với kinh tế hợp tác xã (hoặc nông trường) để tiến hành
sản xuất kinh doanh nông hộ và hợp tác xã (hoặc nông trường) là hai chủ thể kinh tế nông
hộ trực tiếp thực hiện các khâu sản xuất , còn hợp tác xã (hoặc nông trường) thực hiện các
khâu đầu vào, đầu ra.
- Loại kinh tế nông hộ độc lập (cán bộ công nhân viên chức nhà nước, người
về hưu) hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu bằng lao động trực tiếp gia đình mình,
không kết hợp với hợp tác xã (hoặc nông trường) như loại trên. Ở đây mỗi nông hộ là một
chủ thể kinh tế.
2.1.2. Các điều kiện để phát triển kinh tế hộ.
2.1.2.1. Nguồn lực bên trong.
 Đất đai
Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, luôn gắn liền với sản xuất nông nghiệp, vì vậy
chính sách ruộng đất là một trong những điều kiện quan trọng hàng đầu đối với việc phát
triển kinh tế hộ nông dân.
Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị về "Đổi mới quản lý trong nông nghiệp", đã khẳng
định vai trò chủ thể của hộ nông dân và vấn đề ruộng đất phù hợp với điều kiện cơ chế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng Xã hội chủ nghĩa. Vấn đề ruộng đất
được giải quyết từng bước thông qua: Luật đất đai 1988, Luật đất đai 1993, Luật đất đai
sửa đổi và bổ sung tháng 12/1998, tháng 12/2000. Trọng tâm của vấn đề là: quyền sử
dụng lâu dài và 5 quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp và thừa kế.

5


 Lao động : đó chính là kinh nghiệm lao động, trình độ lao động và khả năng
tiếp cận với khoa học kĩ thuật mới của người nông dân.
 Nguồn vốn: đó là từ những nguồn vốn tích lũy, nguồn vốn vay từ người
thân, bạn bè hoặc từ các tổ chức kinh tế xã hội để có thể tiến hành sản xuất.
2.1.2.2. Nguồn lực bên ngoài.

Khó khăn và thách thức lớn đối với nông dân nước ta nói chung và kinh tế hộ nói
riêng trong tiến trình hội nhập ngày một sâu vào kinh tế thế giới là chênh lệch lớn về năng
suất lao động giữa công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp. Đây là một trong số các nguyên
nhân chính đang làm tăng thêm khoảng cách cả thu nhập lẫn mức chi tiêu giữa nông thôn
và thành thị... Tại nông thôn với hầu hết dân số hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp nên
tính bền vững trong các trường hợp thoát đói nghèo trong nông nghiệp, nông thôn không
chắc chắn, do thiên tai, dịch bệnh, ốm đau... so với thành thị, nơi mà hầu hết dân số hoạt
động trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ.
 Hộ nông dân thường rất dễ bị tổn thương trước sự chi phối khắc nghiệt của
quy luật thị trường.
Cơ hội kiếm tiền đến với người có vốn, có điều kiện về thông tin, và kể cả điểm xuất
phát cao, sẽ nhiều hơn rất đáng kể so với các đối tượng khác, nhất là người nghèo. Về
nguyên lý, thị trường dường như mang lại cơ hội cho tất cả mọi người, nhưng không phải
mọi người đều có đủ khả năng như nhau để tận dụng cơ hội đó. Người nắm thông tin,
người nhiều vốn, người lanh lợi và phải có chút "mánh khóe" mới tận dụng cơ hội tốt hơn
và do đó giàu lên nhanh hơn. Không ít người lợi dụng quá trình cổ phần hóa các doanh
nghiệp Nhà nước những năm gần đây nắm giữ nhiều cổ phiếu, hay những người biết
trước thông tin về quy hoạch nên đầu cơ được những khu đất đắc địa..., từ đó càng có điều
kiện thu vét những nguồn lợi từ các cơ hội tốt, lại càng có điều kiện tích lũy làm giàu giàu sẽ dễ giàu thêm hơn, nghèo thì thua thiệt và dễ nghèo đi.
Người nông dân bị thu hồi đất cho công nghiệp hóa, hay đô thị hóa cũng rơi vào tình
trạng tư liệu sản xuất bị mất hoặc giảm đi, trong lúc chưa chuẩn bị kịp các điều kiện để
chuyển đổi nghề nghiệp. Phần đông nông dân có tiền (tiền đền bù do bị thu hồi đất) cũng
khó tìm phương án nào cho hiệu quả để sử dụng cho sản xuất, kinh doanh làm cho nó sinh
sôi nảy nở.

7


Vì vậy người nông dân thường tỏ ra thua thiệt khi tìm những công việc khác ngoài
nông nghiệp và ngay trong sản xuất nông nghiệp do trình độ, thua thiệt khi nắm bắt thông


thương mại. Tỷ lệ vốn cố định ở các HTX rất cao, từ trên 70% đến 95%. Tình trạng này
làm cho HTX thường không đủ vốn lưu động để hoạt động, do đó cũng không phát huy
được vốn cố định, trong khi vay ngân hàng thì gặp nhiều khó khăn về tài sản thế chấp.
Ngược lại, trong lĩnh vực tín dụng thì tỷ trọng vốn cố định rất thấp (chưa đạt 5%), dẫn
đến tình trạng chung ở các quỹ tín dụng là cơ sở làm việc rất nghèo nàn, không bảo đảm
an toàn cho việc mở rộng hoạt động huy động và cho vay. Tỷ lệ HTX có quan hệ tín dụng
với ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác chỉ bằng 11,3% số HTX được thống kê (số
liệu thống kê năm 2007), điều đó cho thấy các HTX chưa phát triển các quan hệ tín dụng
với ngân hàng để có thêm vốn phát triển các dịch vụ phục vụ nhu cầu sản xuất, kinh
doanh của xã viên
 Tư liệu chủ yếu là đất dai ngày càng bị thu hẹp, bình quân diện tích thấp.
Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt đối với quá trình sản xuất nông nghiệp. Nhưng khó
khăn lớn hiện nay là diện tích đất nông nghiệp đang mất vào các khu công nghiệp, khu đô
thị và giao thông với tốc độ quá nhanh. Theo số liệu thống kê, trong 5 năm qua cả nước
đã có khoảng 13% số hộ nông dân bị mất đất, mà lý do chính là bị thu hồi do quá trình đô
thị hóa và công nghiệp hóa. Trong khi đó, nhiều hộ khác tuy đã năng động chuyển đổi
ngành nghề, nhưng vẫn không đủ "can đảm" (tính chắc chắn của nghề mới chưa bảo đảm
cho các hộ chuyển nghề yên tâm) để nhượng ruộng cho người khác canh tác hay thuê
người làm. Phần lớn là giữ đất hay có chăng cũng là cho con cháu làm để vừa đủ mức nộp
thuế sử dụng đất. Bởi vậy, tốc độ tích tụ, hoặc dồn điền đổi thửa diễn ra quá chậm so với
nhu cầu phát triển sản xuất hàng hóa. Bên cạnh đó, tình trạng lãng phí sử dụng đất diễn ra
khá phổ biến.
 Lề lối làm ăn sản xuất nhỏ cản trở kinh tế hộ phát triển: Lề lối làm ăn còn nặng về
sản xuất nhỏ, manh mún, chưa thích ứng với kinh tế thị trường.

2.2. Phương pháp nghiên cứu.
2.2.1Phương pháp thu thập thông tin
 Thông tin, số liệu thứ cấp
Thu thập những tài liệu có sẵn có liên quan đến việc nghiên cứu, bao gồm:


Thôn, buôn
Số hộ

Bảng 2.1: Bảng số hộ điều tra theo thôn, buôn
Thôn 2
Thôn 3
Buôn Yang Reh
Buôn Cuăh B Tổng
32
48
20
20
120
Nguồn: Phiếu điều tra

2.3.3 Phương pháp phân tích, xử lý số liệu
10


 Phương pháp phân tích Swot: Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức
ảnh hưởng đến tình hình phát.triển kinh tế nông hộ.
Sơ đồ phân tích SWOT
S: Điểm mạnh

W: Điểm yếu

O: Cơ hội

T: Thách thức

2.3.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu
2.3.3.1. Nhóm chỉ tiêu phản ánh nguồn lực sản xuất của các nông hộ
• Số nhân khẩu bình quân/hộ.
• Số lao động bình quân/hộ.
• Số nhân khẩu/lao động.
• Diện tích bình quân/hộ, diện tích bình quân/khẩu, diện tích bình quân/lao động.
11


• Mức vay bình quân/hộ.
• Mức trang bị công cụ sản xuất bình quân/hộ.
2.3.3.2. Nhóm chỉ tiêu phản ánh kết quả, hiệu quả sản xuất của hộ nông dân
• Sản lượng bình quân/hộ, năng suất bình quân/hộ.
• Tổng thu và cơ cấu các thu nguồn thu của nông hộ: để đơn giản, ta chỉ tính:
Tổng thu của các nông hộ = P*Q
P: Đơn giá bình quân của sản phẩm
Q: Số lượng sản phẩm các nhóm nông hộ sản xuất ra
• Tổng chi và cơ cấu các nguồn chi của nông hộ.
Trong đó chi phí cho trồng trọt gồm chi phí về giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật,
nhiên liệu, thuê lao động, tưới nước.
Chi cho chăn nuôi gồm chi mua giống, mua thức ăn, thuốc thú y.
• Thu nhập từ sản xuất nông nghiệp = Thu từ SXNN – Chi cho SXNN
• Tổng thu nhập = Thu nhập từ SXNN + Thu nhập khác
• Hiệu quả sử dụng vốn = Thu nhập từ SXNN/ Chi cho SXNN

PHẦN 3: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Ðặc điểm địa bàn nghiên cứu
12



Phía bắc giáp sông Krông Ana.

3.1.1.2 Địa hình và đất đai
Địa hình: xã Yang Reh có địa hình tương đối bằng phẳng, có nhiều kênh rạch sông
suối và đầm lầy. Nhìn chung độ cao ở đây từ 16-25 0 gồm có núi cao, núi thấp và thung
lũng.
Đất đai: chủ yếu là đất pha cát, đất đá sỏi và đất thịt.

Bảng 3.1: Cơ cấu sử dụng đất xã Yang Reh dược sử dụng năm 2010
STT

Loại đất

2010
13


Diện tích (ha)
Cơ cấu (%)
1.
Đất nông nghiệp
1.560,33
52,48
1.1
Đất sản xuất nông nghiệp
1.320,1
44,4
1.1.1
Đất trồng cây hàng năm
1.173,3

Nguồn: Báo cáo ủy ban nhân dân xã Yang Reh 2010
Qua bảng số liệu 3.1 ta thấy xã Yang Reh với diện tích đất nông nghiệp chiếm 52,48%
trên tổng diện tích đất tự nhiên. Qua đó ta thấy được người dân ở đây chủ yếu làm nông
nghiệp. Cây hàng năm là cây thế mạnh của vùng, với diện tích gieo trồng là 1.320,1 ha
chiếm 44,4%.
Diện tích đất chưa sử dụng còn nhiều là 1.113,63 ha chiếm 37,46%, địa phương cần có
những giải pháp để tận dụng những diện tích đất chưa sử dụng nhằm nâng cao khả năng
tận dụng đất đai bằng cách bố trí cây trồng phù hợp với tính chất của từng loại đất.
3.1.1.3 Khí hâu và thời tiết
Xã Yang Reh nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa nhưng do ảnh hưởng bởi yếu tố địa
hình núi cao nên khí hậu của xã được phân chia làm 2 mùa rõ rệt:
-

Mùa mưa: bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10, lượng mưa trung bình từ 400-

400mm/tháng, 1.800-2.200mm/năm. Do địa hình cao hơn so với các xã khác của huyện
Krông Bông nên đây là xã ít bị ngập lụt.
- Mùa nắng: bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau với lượng mưa chỉ chiếm 4-10
% tổng lượng mưa của cả năm nên gây tình trạng khô hạn kéo dài ảnh hưởng lớn đến việc
sản xuất nông nghiệp của xã.
Nhiệt độ không khí trung bình từ 23-26oC.
Độ ẩm không khí khoảng 80%/năm.
Với điều kiện khí hậu và thời tiết như vậy xã Yang Reh có những mặt thuận lợi và khó
khăn đối với sản xuất :
14


- Thuận lợi: nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, mùa mưa có đủ nhiệt độ và ánh sáng
cho cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt. Mùa khô thuận lợi cho việc thu hoạch, chế
biến, phơi nông sản.

Êđê

Tổng

696
3.281

380
1.935

1.076
5.216

4,71

5,09

4,85

1.911
2,75

1.322
3,48

3.233
3


số hộ

vói nhau. Đồng thời tạo sự thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế văn hoá với các xã khác và
các huyện lân cận. Tuy nhiên, hệ thống đường giao thông của xã đã được xây dựng cách
đây khá lâu nên có một số đoạn đường đã bị xuống cấp nghiêm trọng, mặt đường bị sụp
16


lún, có nhiều ổ gà gây cản trở và ảnh hưởng đến sự an toàn giao thông của người dân khi
đi lại.
- Thuỷ lợi: toàn xã có một hồ chứa nước là hồ Yang Reh, là công trình thuỷ lợi rất
quan trọng đối với sự phát triển của ngành nông nghiệp tại xã. Hồ cung cấp nguồn lợi
thuỷ sản đáng kể cho toàn xã.
Nạo vét, phát dọn vệ sinh tuyến kênh kiên cố hóa N1 và N2. Kênh mương nội đồng:
đào đắp 3.145 m3.
- Điện năng: từ năm 2004 đã lắp điện thêm cho 3 buôn đồng bào thiểu số tại xã là
buôn Yang Reh, Cuăh A, Cuăh B. Năm 2007 là buôn Trôk Ăt. Đến nay toàn xã có 100%
số hộ sử dụng điện lưới quốc gia.
3.1.2.3 Văn hoá – giáo dục – y tế.
- Văn hoá: xã Yang Reh có hai thành phần dân tộc sinh sống đó chính là người Kinh
và người Êđê, cho nên đời sống văn hoá có sự khác nhau giữa hai thành phần dân tộc này,
vẫn còn hiện tượng bất đồng ngôn ngữ gây khó khăn cho việc giao tiếp. Tuy nhiên vẫn
có sự giao thoa văn hoá giữa các thôn, buôn trong xã với nhau.
- Giáo dục: toàn xã có 3 trường học, trong đó có một trường THCS Hùng Vương, 1
trường tiểu học Yang Reh, 1 trường mẫu giáo tổng số lớp các cấp 47 lớp, tổng số hoc sinh
1.213 học sinh đạt 101,33% so với cung kỳ. Tổng số học sinh DTTS 482 học sinh các cấp
học chiếm 39,73%.
- Y tế : mạng lưới y tế cơ sở từng bước được cải thiện, toàn xã chỉ có một trạm y tế,
việc khám chữa bệnh còn thấp chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế của nhân đân. Trạm y
tế xã còn tạm bợ do chưa được nâng cấp, thuốc men dụng cụ khám chưa đầy đủ, đội ngũ
y bác sĩ vần còn thiếu… Tuy bước đầu còn khó khăn về cơ sở vật chất và dụng cụ thuốc
men, nhưng đội ngũ cán bộ y bác sĩ trạm y tế xã đã hoàn thành tốt công tác khám chữa

xảy ra trên diện rộng. Ban thú y xã được củng cố, chủ động tích cực trong công tác phòng
chống dịch, được sự quan tâm của trạm thú y huyện Krông Bông. Công tác thú y đã đạt
được những kết quả :tiêm phòng dại chó 79 liều/79 con, tiêm phòng vacxin tụ huyết trùng
cho trâu, bò : 1.375 liều /1.375 con. Tiêm phòng vacxin Tam liên cho heo 50 liều/50
con.Tiêm phòng vắc xin LMLM cho đàn trâu, bò 925 liều/ con. Tiêm phòng LMLM cho
heo 100 liều/ 100 con. Phun thuốc tiêu độc khử trùng trên 8 đơn vị thôn buôn: 36 lít thuốc
Ben- cô- xit.
 Dịch vụ, sản xuất kinh doanh

18


Ủy ban nhân dân xã thực hiện quản lý chặt chẽ các hộ kinh doanh dịch vụ, khuyến
khích phát triển các ngành nghề, tạo việc làm tăng thu nhập trong nhân dân, tăng nguồn
thu cho ngân sách Nhà nuớc. Hộ kinh doanh: 16 hộ, dịch vụ: 23 hộ, thu hút 67 lao động.
3.1.2.5 Các chính sách kinh tế xã hội đang được thực hiện tại địa bàn xã.
a. Công tác giảm nghèo từ năm 2006 – 2010.
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã lần thứ I, nhiệm kỳ 2005 – 2010 và Nghị
quyết Hội đồng nhân dân xã tại kỳ họp thứ VI, khóa II, nhiệm kỳ 2004 -2009 đề ra mục tiêu phấn
đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn xã hang năm bình quân 5% để đến cuối năm 2010 tỷ lệ hộ
nghèo còn 26,67%. Kết quả thực hiện công tác giảm nghèo hàng năm như sau:
 Năm 2006: kết quả cho thấy tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ 43,99% xuống còn 34,68%, giảm
5,6% tương đương 159 khẩu/54 hộ. Tổng số hộ nghèo năm 2006 là 388 hộ/1944 khẩu.
 Năm 2007: kết quả đã tăng là 38,21%, so với năm 2006 tăng 3,53%, tương đương với
158 khẩu/34 hộ vì thiên tai hạn hán và lũ lụt. Tổng số hộ nghèo là 368 hộ, chiếm tỉ lệ 38,21%.
 Năm 2008: kết quả rà soát cuối năm cho thấy số hộ nghèo còn lại 334 hộ, chiếm tỷ lệ
33,7% giảm 3,43% tương đương với 182 khẩu.
 Năm 2009 – 2010: bảng tổng hợp kết quả rà soát hộ nghèo:

STT

354
19

45
11
13
22
68

Tỷ lệ hộ
nghèo
(%)
17,24
12,94
9,20
11,05
49,27


6
Buôn Cuăh B
7
Buôn Yang Reh
8
Buôn Trôk Ăt
Tổng cộng

23
121
23

Buôn Cuăh A
6
Buôn Cuăh B
7
Buôn Yang Reh
8
Buôn Trôk Ăt
Tổng cộng

b.

Số hộ
59
15
38
60
66
17
87
29
371

Hộ nghèo năm 2010
Tỷ lệ hộ
Chia ra (hộ)
Số khẩu
Kinh Dân tộc thiểu số nghèo (%)
220
56
22,77

 Dự án cơ sở hạ tầng.
Đã đầu tư xây dựng đường giao thông với số lượng là 1.142km. Gồm 2 công trình:
Đường giao thông nông thôn thôn 1 dài 642m.
Đường giao thông nông thôn buôn Yang Reh dài 500m.
Đã đầu tư xây dựng hoàn thành 8 phòng học mẫu giáo phục vụ cho 4 thôn và 4 buôn.
Xây dựng hoàn thành công trình tường rào, sân nhà bảo vệ, khung mái che bồn nước
và cổng tường rào sân khu bể nước sinh hoạt cho thôn 2 và buôn Yang Reh.
Xây dựng 4 nha sinh hoạt cộng đồng tại 4 thôn trên đại bàn xã.
Tổng số hạng mục công trình đơn vị đầu tư từ nguồn vốn chương trình 135 là 16 hạng
mục công trình với tổng số vốn được cấp có thẩm quyền phê duyệt là 3.357.249.000đ.
Hiện nay các công trình đã hoàn thành đưa vào sử dụng nhưng chưa đủ hồ sơ nên chưa có
hạng mục công trình nào được phê duyệt quyết toán.


Về công tác duy tu bảo dưỡng.
20


Kết quả vốn giao năm 2010 là 100 triệu đồng. Ủy ban nhân dân xã làm chủ đầu tư đã
triển khai đầu tư duy tu bảo dưỡng 1 công trình giao thông tại buôn Yang Reh với chiều
dài 380m. Hiện nay công trình đã hoàn thành và đưa vào sử dụng.
 Chính sách hỗ trợ cải thiện dịch vụ, nâng cao đời sống nhân dân và trợ giúp pháp
lý.
Về chính sách hỗ trợ cải thiện các dịch vụ nâng cao đời sống nhân dân năm 2008 –
2009 phòng nông nghiệp phát triển nông thôn làm chủ đầu tư đã mở 24 lớp tập huấn cho
người dân trên địa bàn xã. Năm 2010 kế hoạch vốn giao là 4 triệu đồng. Ủy ban nhân dân
xã chuẩn bị mở hai lớp trợ giúp pháp lý cho người dân về luật hôn nhân và gia đình, luật
dân sự và công tác vệ sinh môi trường cho 8 thôn, buôn.
Tổng số hộ được hỗ trợ kinh phí vệ sinh môi trường là 142 hộ đạt 50% kế hoạch. Nội
dung chủ yếu các hộ thực hiện cải thiện nhà vệ sinh với kết quả giải ngân là 142 triệu.



Kinh tế phát triển nhưng thiếu bền vững, hiệu quả còn thấp. Cơ cấu kinh tế

chuyển dịch theo hướng tích cực nhưng còn chậm.


Sản xuất nông nghiệp luôn còn chịu ảnh hưởng của thiên tai, giá cả nông

sản còn bấp bênh, sản xuất công nghiệp còn nhỏ lẻ, thương mại, dịch vụ phát triển
nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu của sản xuất và đời sống. Giá cả vật liệu như xăng
dầu, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, nhu yếu phẩm thường xuyên biến động, có xu
hướng tăng nhanh đã ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của nhân dân.


Nhận thức của một số bộ phận nhân dân còn hạn chế, không đồng đều, một

số còn mang tính ỷ lại Nhà nước, hộ nghèo theo tiêu chí mới còn cao.


Là địa bàn phức tạp về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội còn nhiều

tiềm ẩn khó lường.

3.2 Kết quả nghiên cứu
3.2.1 Thực trạng phát triển kinh tế nông hộ tại xã
3.2.1.1 Tình hình chung
 Về sản xuất nông – lâm nghiệp
Tổng diện tích gieo trồng năm 2011 đạt 1.169,5 ha đạt 104% so với cùng kỳ. Trong đó: Vụ
Đông Xuân với tổng diện tích gieo trồng 207,5ha đạt 103% so với cùng kỳ, vụ Hè Thu với tổng



3.2.1.2.1 Cơ cấu các hộ nông dân điều tra tại xã Yang Reh.
Bảng 3.5: Cơ cấu các hộ điều tra tại xã Yang Reh
Thôn 2
Thôn 3
Buôn Yang Reh Buôn Cuăh B
Tổng
SL(hộ) %
SL(hộ) %
SL(hộ) %
SL(hộ) %
SL(hộ) %
Chỉ tiêu
Phân theo thu nhập
Khá
9
28,125
10 20,83
1
5
2
10
22 18,33
Trung
4
12
37,5
25 52,08
1

151 98,69
39 95,12
190 44,08
Khác
5,4
5
2
1,38
1
0,65
0
0
8
1,86
3

Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra
Số phiếu điều tra, phỏng vấn nông hộ là 120 phiếu, chia cho 4 thôn buôn. Căn cứ vào
các tiêu chuẩn đã nêu để phân loại hộ theo mức thu nhập và sau khi điều tra, tổng hợp, ta
có cơ cấu các nhóm hộ trong vùng nghiên cứu thể hiện qua bảng 3.5 như sau: số lượng hộ
trung bình và nghèo cao và chiếm một tỷ lệ cao ở các thôn, buôn. Mà đặc biệt ở 2 buôn
Yang Reh (chiếm 90%) và buôn Cuăh B (chiếm 43,34 %).
Mặt khác, các buôn là nơi sinh sống chủ yếu của các hộ người đồng bào dân tộc
mà ở đây là người Ê đê nên cho ta thấy được đời sống của các hộ đồng bào ở đây. Còn ở
các thôn, nơi mà các hộ người Kinh tập trung sinh sống tuy có hộ nghèo nhưng không
phải chiếm đa số, mà phần đông các hộ ở đây thuộc hộ trung bình và khá – giàu.
3.2.1.2.2 Tình hình về nguồn lực sản xuất của hộ.
 Đặc điểm về nhân khẩu, lao động, nghề nghiệp của các nông hộ.
Bảng 3.6 thể hiện cơ cấu dân số, lao động của các nông hộ được điều tra. Qua các số
liệu của bảng, ta có thể nhận xét:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status