I. PHẦN MỞ ĐẦU
I.1. Lý do chọn đề tài
Năm 2008 - 2009 ngành giáo dục phát động phong trào thi đua “ Xây dựng
trường học thân thiện, học sinh tích cực”, đây là bước tiến vượt bậc của ngành,
tạo cho giáo viên làm việc trong bầu không khí tích cực. Phong trào này giúp cho
việc giáo dục học sinh chủ động thân thiện hơn, tích cực hoạt động trong học tập,
bước đầu rèn luyện kĩ năng sống cho các em như: Học để biết. Học để làm. Học để
tự khẳng định mình. Học để cùng chung sống. Phong trào đã được bộ, sở, trường
học, tổ chuyên môn triển khai sâu rộng. Toàn ngành đã ra sức thực hiện phong trào
thi đua, đến nay đã thu được những thành tích đáng kể, đóng góp một phần không
nhỏ vào việc nâng cao chất lượng giáo dục học sinh, thi đua dạy tốt, học tốt, đào
tạo nguồn nhân lực có đủ phẩm chất, năng lực phục vụ để xây dựng đất nước.
Trường học hiện nay không những cung cấp cho học sinh những tri thức khoa học
một cách có hệ thống, mà còn rèn cho các em những kĩ xảo, kĩ năng sống cần thiết
để hình thành và phát triển những phẩm chất tốt đẹp.
Năm học 2014-2015 ngành vẫn tiếp tục chỉ đạo các trường đẩy mạnh thực
hiện phong trào này với những yêu cầu cao hơn, thiết thực hơn, phù hợp với tình
hình thực tế của nhà trường. Để phong trào thi đua “Xây dựng được trường học
thân thiện, học sinh tích cực” thực sự có bề rộng và chiều sâu, đem lại hiệu quả
cao, thiết thực trong hoạt động dạy và học, giúp các em hứng thú, chủ động, sáng
tạo, có các mối quan hệ thật sự thân thiện, tôi luôn băn khoăn, trăn trở với bao câu
hỏi tự đặt ra cho bản thân: “ Làm thế nào để HS đi chuyên cần?”; “Làm thế nào
để các em hứng thú học tập hơn?”; “ Làm sao các em có cảm giác, mỗi ngày đến
trường là một niềm vui?” “ Làm sao giáo viên nói ít mà học sinh hiểu nhiều
hơn ?” Là một giáo viên chủ nhiệm tôi thấy rằng muốn xây dựng được trường học
thân thiện, học sinh tích cực thì phải bắt đầu từ việc xây dựng lớp học thân thiện,
học sinh tích cực. Vì mỗi lớp học thân thiện, học sinh tích cực là một viên gạch
nền móng vững chắc cho một ngôi trường thân thiện, học sinh tích cực hoàn thiện
và nhanh nhất. Chính những lí do trên đã thúc đẩy tôi nghiên cứu, trải nghiệm đồng
thời tích lũy những kinh nghiệm để thực hiện tốt phong trào “Xây dựng lớp học
thân thiện, học sinh tích cực”. Góp phần vào việc đào tạo thế hệ trẻ phát triển một
cuốn hút học sinh tích cực, chủ động tham gia vào học tập, rèn luyện. Tạo được cơ
hội cho học sinh tự khám phá, tìm tòi. Để làm tốt được việc đó thì giáo viên phải tự
học, tự rèn để có một số kỹ năng cơ bản, cần thiết và vận dụng linh hoạt vào quá
trình dạy học. Người dạy cần thực hiện đúng vai trò của mình chỉ là người cố vấn,
tổ chức hoạt động, giúp đỡ và hỗ trợ các em học tập. Học sinh phải phát huy được
tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong hoạt động học tập. Tuyên truyền, động viên,
khuyến khích được cha mẹ học sinh, các lực lượng khác cùng chung tay góp sức để
giúp đỡ các em trong quá trình học tập và rèn luyện.
I.3. Đối tượng nghiên cứu
Học sinh và giáo viên giảng dạy ở tiểu học. Cụ thể là giáo viên và học sinh
khối lớp 5 và khối 2 trường TH Phan Bội Châu.
I.4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Học sinh và giáo viên giảng dạy ở tiểu học. Cụ thể là giáo viên và học sinh
khối lớp 5 và khối 2 năm học 2013-2014 và 2014-2015 của trường TH Phan Bội
Châu.
Đề tài này trình bày những vấn đề liên quan đến 5 nội dung của phong trào
“Xây dựng lớp học thân thiện, học sinh tích cực” nhằm góp phần vào việc thực
hiện tốt nhiệm vụ năm học, đào tạo con người mới phát triển toàn diện.
I.5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này tôi đã sử dụng những phương pháp sau :
- Phương pháp thu thập, nghiên cứu, phân tích các tài liệu như công văn chỉ
2
đạo thực hiện phong trào“ Xây dựng trường học thân thiện học sinh tích cực” của
các cấp, các văn bản chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ năm học, các tài liệu liên quan.
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế.
- Dự giờ, trao đổi với đồng nghiệp.
- Dạy thực nghiệm, trải nghiệm thực tế.
- Kiểm tra bằng nhiều hình thức khảo sát chất lượng bám sát vào 5 nội dung
Khi các lớp học đã học đã thực sự thân thiện, học sinh thực sự tích cực thì sẽ
góp phần tạo nên một trường học thân thiên – học sinh tích cực. Mối thân thiện
3
giữa thầy và trò, nhà trường với cha mẹ học sinh ngày một tăng thêm. Giúp các em
không những nắm được kiến thức một cách chủ động, nhẹ nhàng mà còn rèn cho
các em nhiều kĩ năng khác góp phần giáo dục con người mới, con người phát triển
toàn diện.
II. 2. Thực trạng
a) Thuận lợi, khó khăn
* Thuận lợi
- Được Ban giám hiệu quan tâm trang bị tương đối đầy đủ về cơ sở vật chất
như phòng học khang trang, có bảng chống loá, tủ đựng đồ dùng, thiết bị dạy học,
bàn ghế đầy đủ... Hàng năm nhà trường mua sắm bổ sung thiết bị dạy học, giáo
viên thường xuyên tự làm đồ dùng để dạy học. Đội là một tổ chức hỗ trợ tốt cho
việc thực hiện phong trào này.
- Được Phòng giáo dục, Ban giám hiệu tạo điều kiện cho tham gia lớp tập
huấn và cung cấp đầy đủ các văn bản có liên quan đến việc chỉ đạo thực hiện các
nhiệm vụ và phong trào thi đua.
- Một số cha mẹ học sinh đã quan tâm đến việc học của con, phối kết hợp
với giáo viên giúp các em học tập, rèn luyện tốt. Đóng góp đầy đủ để xây dựng
trường. Không những đóng góp kinh phí mà còn tự nguyện tham gia ngày, giờ
công để góp phần xây dựng trường, lớp xanh, sạch, đẹp.
- Một số học sinh đã có ý thức trong học tập, rèn luyện, tích cực hưởng ứng
phong trào thi đua.
- Đây chính là kim chỉ nam giúp tôi càng hăng say nghiên cứu đề tài này.
* Khó khăn
- Học sinh còn nhỏ nên khả năng giao tiếp còn hạn chế, bên cạnh đó só em
lại ở trọ hoặc sống với cô, dì, ông bà, sự dạy bảo, điều chỉnh các em thực hiện kĩ
* Thành công
- Lớp học trang trí đẹp, hài hòa, học sinh thích đến lớp, yêu quí lớp, khơi
dậy cho học sinh phải trăn trở mình phải đóng góp gì vào đây để lớp mình thêm
đẹp từ đó các em tìm tòi và thể hiện tài năng của mình có thể là vẽ, viết, xé dán...
- Học sinh thoải mái trao đổi, thắc mắc trong quá trình tiếp thu, lĩnh hội kiến
thức mới. Nắm, ghi nhớ được chắc kiến thức ngay tại lớp.
- Không khí lớp học tươi vui, tất cả học sinh đều phải làm việc, pháp huy
được tính chủ động, tích cực của học sinh, các hoạt động của lớp có sự thay đổi rõ
rệt. Các em biết quan tâm tới nhau hơn, tự giác giúp đỡ nhau trong học tập cũng
như vui chơi. Lớp học trở thành một khối đoàn kết thống nhất, tích cực thi đua học
tập và tham gia các phong trào mà các cấp phát động.
- Giáo viên điều chỉnh được những suy nghĩ chưa đúng đắn, còn lệch lạc,
mơ hồ ở học sinh. Tạo được mối quan hệ thân thiện trong giao tiếp với học sinh
giúp khoảng cách giữa giáo viên và học sinh gần gũi hơn. Giảng dạy, giáo dục học
sinh không chỉ là kiến thức của bài mà giáo dục toàn diện cho học sinh như các kỹ
năng giao tiếp, kĩ năng ứng xử ...
- Giữ gìn được bản sắc văn hóa của dân tộc thông qua các trò chơi dân gian,
hiểu để từ đó giữ gìn và phát huy được giá trị văn hóa của dân tộc, địa phương.
* Hạn chế
Một số giáo viên chưa hiểu rõ về tầm quan trọng, tính giáo dục của việc
trang trí, cứ thấy đẹp là dán lên nên việc trang trí chưa khoa học, lòe loẹt, phòng
học tối vì trang trí nhiều hoa lá trên cửa sổ. Bước đầu thay đổi cách dạy học mới,
phần đa giáo viên thấy ngại, để học sinh tự nêu câu hỏi, tự nêu kiến thức mà mình
biết được sẽ làm thì mất thời gian vì vậy chọn lối dạy học cũ là làm thay, nói giùm
5
học sinh để đảm bảo thời gian và tránh được người khác đánh giá nề nếp lớp học
không nghiêm túc. Giáo viên gặp phải tình huống sư phạm khó xử mà học sinh đưa
ra sẽ bị lúng túng, e ngại với học sinh. Một số giáo viên sợ mất thời gian nên thực
bảo vệ, giữ gìn, thái độ tham gia sẽ không được nâng cao.
d) Nguyên nhân
- Trường học được xây dựng kiên cố, nhưng chưa được trang bị đầy đủ
các thiết bị đồ dùng dạy học cho tất cả các tiết học, phòng ngoại ngữ, phòng âm
nhạc, khu vui chơi, bãi tập...
6
- Học sinh còn nhỏ, một số em ở xa đi lại còn khó khăn, nhất là lúc trời mưa.
- Địa phương còn nhiều khó khăn, có nhiều học sinh thuộc hộ gia đình hộ
nghèo và cận nghèo.
- Một số cha mẹ các em đi làm xa nhà, để con ở trọ hoặc gửi cho họ hàng
nên việc quan tâm đúng mức tới các em còn rất nhiều hạn chế.
- Các em học sinh tiểu học còn nhỏ, còn ham chơi, chưa ý thức hết được tầm
quan trọng của việc học tập, chưa tự giác học tập. Còn nhiều em đi học muộn, đi
học chưa chuyên cần vì ngủ quên..., có em không có đủ sách vở và đồ dùng để học
tập. Vì vậy trong giờ học các em không có đồ dùng để thực hành, để trải nghiệm
nên ảnh hưởng lớn đến việc nắm bắt kiến thức cũng như các kỹ năng cần thiết của
tiết học.
- Phần lớn ở lứa tuổi này các em đều có tính hiếu động, tò mò, muốn được
giải thích thắc mắc hay một điều gì mà trong quá trình khám phá các em chưa hiểu.
Thích bày tỏ để các bạn và cô giáo thấy được kết quả khám phá của mình dù đúng
hay sai. Nếu không nắm được đặc điểm của lứa tuổi thì việc giáo dục gặp rất nhiều
trở ngại.
- Để đảm bảo các chỉ tiêu của trường, lớp, ngành đề ra, các áp lực công việc
về thời lượng tiết dạy, mục tiêu bài học, kết hợp giáo dục lồng ghép, phân hóa đối
tượng học sinh, hồ sơ giáo viên….Không ít giáo viên đôi khi quá nóng vội trong
việc giáo dục học sinh để đảm bảo những chỉ tiêu và hoàn tất các công việc đó.
Chính vì lí do trên, giáo viên dễ rơi vào tình trạng áp đặt, nhồi nhét kiến thức, răn
đe, hình phạt, roi vọt, gò bó học sinh, chưa lắng nghe tâm tư nguyện vọng tình cảm
nắm kiến thức đó học sinh còn có thêm các kỹ năng gì để vận dụng vào cuộc sống,
góp phần giáo dục con người mới phát triển toàn diện phù hợp với tình hình đất
nước thời kỳ đổi mới.
- Đồ dùng dạy học và các thiết bị dạy học được nhà trường bảo quản tốt,
hàng năm được mua sắm thêm. Mỗi năm giáo viên lại làm thêm nhiều đồ dùng để
phục vụ dạy học. Phần lớn vẫn là đồ dùng mong hỏng, rẻ tiền.
- Phương pháp dạy học cũ đã ăn sâu vào một số giáo viên lớn tuổi, ngại đổi
mới. Để thay đổi được quả là một vấn đề khó khăn. Qua tập huấn, chuyên đề, dự
giờ, góp ý họ cũng một phần nào nắm được phương pháp mới song sự vận dụng
còn gò bó, chưa linh hoạt, chưa thường xuyên nên kết quả giảng dạy chưa cao.
- Cha mẹ học sinh của một số em thường xuyên quan tâm, kết hợp với giáo
viên để giúp con học tập thì các em đó tiếp thu tốt bài. Bên cạnh đó có một số cha
mẹ học sinh do điều kiện kinh tế khó khăn lo lao vào làm kinh tế nên chưa có thời
gian quan tâm đến sát sao đến con cái. Không cần qua tâm đến thái độ, hành vi,
cách ứng xử của các em. Đồ dùng học tập, sách vở của các em còn thiếu, đi học
còn quên đồ dùng. Vì vậy trong giờ học các em không có đồ dùng để thực hành, để
trải nghiệm nên ảnh hưởng lớn đến việc nắm bắt kiến thức cũng như các kỹ năng
cần thiết của tiết học. Trong cuộc sống các em chưa mạnh dạn, tự tin, ứng xử chưa
thân thiện trong giao tiếp, chưa có kĩ năng ứng xử, đối phó kịp thời khi gặp tình
huống trong đời sống hằng ngày.
- Học sinh phần lớn rất thích học theo phương pháp dạy học mới vì các em
được thoải mái hơn, thích thú hơn, hiểu bài hơn nên càng có hứng thú học tập. Bên
cạnh đó một số em tính nhút nhát thì không thích giao lưu, tiếp xúc với bạn, với
giáo viên. Một số em không có đồ dùng thì lo sợ khi nghe yêu cầu mang đồ dùng
ra học. Trước những vấn đề đó giáo viên cần có biện pháp kết hợp với cha mẹ các
em tốt hơn, tham mưu với hội cha mẹ học sinh của trường, lớp và các đoàn thể để
giúp đỡ các em. Tạo cho các em không những nắm tốt nội dung kiến thức mà còn
có được những kỹ năng cơ bản của tiết học, mạnh dạn hơn trước tập thể.
III. 3. Giải pháp, biện pháp
a) Mục tiêu của giải pháp, biện pháp.
- Kết hợp tốt với các đoàn thể trong nhà trường để giáo dục các em.
- Kết hợp chặt chẽ với cha mẹ học sinh để có biện pháp điều chỉnh, giúp đỡ
các em kịp thời.
* Tìm hiểu lí lịch của học sinh
Khi nhận lớp tôi bắt đầu ngay vào việc tìm hiểu lí lịch của học sinh cũng
như lực học và sự rèn luyện của các em. Nhận xét mối quan hệ của các em trong
lớp từ đó phân chia các đối tượng vào các tổ, các nhóm có đủ các thành phần giỏi,
yếu, có hoàn cảnh khó khăn, hoàn cảnh tốt. Cũng từ đây mà các em có mối quan hệ
ràng buộc lẫn nhau vì vậy các em sẽ quan tâm và giúp đỡ lẫn nhau để thực hiện tốt
nhiệm vụ giáo viên giao.
* Tổ chức họp cha mẹ học sinh đầu năm
9
Nhằm báo cáo tình hình lớp, vận động sự hỗ trợ của cha mẹ học sinh vào
việc dọn vệ sinh trường lớp đầu năm, việc hỗ trợ lớp thời gian để lau mạng nhện,
lau nhà đối với học sinh lớp 2. Tuyên truyền, vận động cha mẹ các em tham gia
xây dựng “ Thư viện thân thiện” của lớp để giúp đỡ các bạn có hoàn cảnh khó khăn
có sách, vở, đồ dùng để học tập. GV đưa ra mục tiêu, lấy ý tưởng của cha mẹ học
sinh, thảo luận, thống nhất việc đóng góp và trang trí lớp cùng với việc giáo dục
các em phát triển toàn diện.
* Tăng cường công tác trang trí lớp học
- Không khí lớp học xanh, sạch, đẹp, an toàn thân thiện là yếu tố rất quan
trọng góp phần thu hút trẻ đến trường, đến lớp, góp thêm cho lớp học một luồng
không khí thân thiện, thoải mái, sinh động, hăng say trong giờ học, rèn luyện kĩ
năng sống cho học sinh. Các khẩu hiệu trong lớp mang ý nghĩa quan trọng, mang
tính giáo dục cao “ Dạy tốt, học tốt”, “Mỗi ngày đến lớp là một niềm vui”, nội qui
học sinh, bảng ghi năm điều Bác Hồ dạy. Vì thế giáo viên cần phải giải thích để
các em hiểu được nội dung, ý nghĩa của mỗi bảng, mỗi khẩu hiệu. Di ảnh Bác Hồ
được treo nơi trang trọng nhất, dễ thấy. Giáo dục lòng kính yêu nhớ ơn Bác Hồ,
tốt trong tuần, tháng), tạo động lực cho học sinh làm nhiều điều tốt hơn, lớp ngày
càng thân thiện hơn.
- Ai tài thế ? Đây là nơi trưng bày những sản phẩm đẹp của các em trong
môn thủ công( Kĩ thuật), Mĩ thuật. Nội dung trưng bày này nhằm kích thích khả
năng sáng tạo của các em.
- Mục văn hay chữ đẹp( lưu lại các bài văn hay, chữ viết đẹp của học sinh).
Tạo động lực cho các em có gắng viết chữ đẹp hơn, làm văn hay hơn.
- Góc ôn luyện nè! ( Bảng cộng, trừ, nhân, chia các qui tắc môn toán...). Rèn
các em có ý thức chủ động trong học tập, ôn tập kiến thức vào thời gian đầu giờ và
giờ ra chơi.
- Ca dao, tục ngữ là mục dành cho học sinh sưu tầm, GV trình bày lại theo
các chủ điểm của tháng) nhằm mở rộng vốn từ, vốn hiểu biết.
- Bức ảnh do HS sưu tầm về cảnh đẹp, di tích lịch sử, làng nghề của các dân
tộc nơi mình sinh sống được bố trí vào mục “Đăk Lăk mến yêu!” Mục này có tác
dụng giúp các em hiểu thêm về quê hương con người quê mình, đồng thời các em
cũng giúp các em tự tin vào bản thân, yêu lao động, yêu quê mình hơn.
- Tưởng là bình thường nhưng lại góp phần quan trọng là mục“Điều em
muốn nói !” Mục này dán một cái hộp giấy để HS viết ý kiến, tâm tư của mình để
vào đó. Tạo điều kiện cho các em mạnh dạn nói lên những suy nghĩ của mình về
thầy cô, bạn bè, các mối quan hệ hằng ngày, góp phần thực hiện tốt quyền trẻ em,
GV hiểu HS của mình hơn, giúp giải quyết những khó khăn trong suy nghĩ của các
em. Cải thiện tốt mối quan hệ thầy - trò, trò - thầy.
- Tùy theo từng khối lớp, GV có thể biến đổi bản tin này phù hợp lứa tuổi
HS lớp mình.
* Đầu tư vào công tác giảng dạy
- Tập trung đầu tư cao cho công tác giảng dạy tích cực hóa hoạt động dạy
học, GV chủ động, sáng tạo, lấy học sinh làm trung tâm của quá trình dạy học.
Chuyển từ chủ yếu cung cấp những kiến thức sang trang bị những năng lực cần
thiết cho các em. Tạo điều kiện cho HS phát huy mọi năng lực, phát hiện khả năng
của mình giúp các em tích cực, chủ động, tự giác, tự tin, có niềm vui trong học tập.
học tập, quần áo, cặp để các em giảm bớt khó khăn, có niềm vui. Từ đó thắt chặt
tình nghĩa thầy trò, bè bạn. Vận động gia đình tiếp tục động viên khuyến khích con
em mình cố gắng học tập. Đối với những HS bị lôi kéo, có suy nghĩ lệch lạc, trốn
học đi chơi, chọc phá bạn, có những biểu hiện lệch lạc về đạo đức. Tôi đã tìm hiểu
HS đó qua người thân, bạn bè. Kết hợp với gia đình, Đội, động viên, hướng dẫn,
phân tích những điều lợi hại nhằm dẫn dắt các em có suy nghĩ, việc làm đúng đắn
hơn, hòa nhập lại với môi trường giáo dục.
- Chuẩn bị tốt hệ thống câu hỏi cho bài học và cho từng đối tượng học sinh.
Chú ý phát triển bồi dưỡng HS khá giỏi bộ môn. Dự kiến những sai lầm của
HS(nếu có)và cách khắc phục, có kế hoạch bồi dưỡng HS yếu trong từng tiết dạy.
- Ví dụ: Môn tập đọc: HS Khá giỏi đọc phân vai, thi đua đọc diễn cảm đoạn,
toàn bài, trả lời các câu hỏi khó trong và ngoài bài. Còn HS yếu đọc câu, đoạn
ngắn và trả lời các câu hỏi dễ hơn trong bài. Có thể chẻ nhỏ các câu hỏi cho phù
hợp với khả năng của các em. Chỉ cần các em này đọc được một lần được GV và
các bạn tuyên dương lần sau các em này sẽ có tiến bộ rõ rệt.
+ Đồ dùng dạy học không chỉ truyền thụ thông tin mà còn là quá trình của
truyền thụ tri thức, giáo dục tư cách, rèn luyện kĩ năng thực hành cho HS. Nó điều
khiển mọi hoạt động nhận thức của HS từ trực quan sinh động đến tư duy trừu
tượng. Góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy, khắc phục tình trạng dạy học một
chiều, gây hứng thú, khuyến khích tư duy cho HS, hiểu bài, khắc sâu kiến thức. Vì
vậy đồ dùng dạy học phải phát huy hết tính sư phạm, rõ ràng, bắt mắt, đủ lớn, phù
13
hợp nội dung bài học, bao gồm(Tranh ảnh, vật thật, bản đồ, biểu đồ, dụng cụ sắm
vai..). Đồ dùng không chỉ được sử dụng trong hình thành kiến thức mới mà còn
được sử dụng ở các tiết ôn tập, trò chơi củng cố.
Ví dụ: Kể chuyện: “Chuyện bốn mùa”(Lớp 2) với nhân vật là bốn nàng tiên,
bà Đất, nếu không có dụng cụ sắm vai, các em sẽ khó phân biệt được bạn nào đóng
vai nào? Hoạt động sắm vai khuyến khích HS mở rộng vốn từ, phát huy khả năng
điểm và hạn chế của HS để có hướng giúp đỡ các em phát huy ưu điểm, khắc phục
kịp thời tồn tại.
+ Đối với học sinh:
14
- Giúp HS nhận ra được: “Mỗi ngày đến trường là một niềm vui, nhưng vui
để học”, có trách nhiệm với mọi người.
- Đến lớp có đủ sách vở, dụng cụ học tập.
- Chuẩn bị bài trước khi đến lớp.
- Tích cực tham gia vào các hoạt động của nhà trường, địa phương như: Múa
hát sân trường, sinh hoạt Sao Nhi đồng. Thi vẽ tranh về nhà giáo, về môi trường,
về an toàn giao thông… Thi làm báo ảnh chào mừng ngày 20/11.Thi kể chuyện về
tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Thi viết chữ đẹp cấp trường, cấp huyện. Nhặt
rác, trồng cây xanh trong lớp học, sân, vườn trường. Tham gia đi thăm viếng nghĩa
trang liệt sĩ và tặng quà cho bộ đội phục viên và các gia đình có công với cách
mạng, gia đình có hoàn cảnh khó khăn.
* Tổ chức các hoạt động tập thể
Lứa tuổi Tiểu học các em rất ham chơi, đây cũng là nguyên nhân dẫn đến
tình trạng trốn học của HS. Vì thế, tạo một sân chơi lành mạnh, bổ ích thân thiện
cho HS là điều cần thiết nhằm hướng tới mục tiêu: “Thầy trò cùng học, cùng vui”.
Mỗi tuần 2 lần vào tiết sinh hoạt tập thể, dưới sự hướng dẫn của GV, phụ trách
Sao, HS lại được vui chơi thoải thích, biết thêm các trò chơi dân gian như: kéo co,
rồng rắn lên mây, tập tầm vông. Thi đố vui để học, thi tìm cao dao tục ngữ, hò, vè
dân gian. Tìm hiểu về An toàn giao thông, về các ngày chủ điểm trong tháng. Kể
chuyện tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, các hoạt động văn nghệ, thể dục, thể
thao. Ngoài ra còn kết hợp với Đội tổ chức cho các em thi văn nghệ, dự triển lãm
tranh tuyên truyền về chủ quyền biển đảo của Việt Nam. Thi làm báo tường đối với
học sinh lớp 5.
* Rèn kĩ năng sống cho học sinh
* Tổ chức cho HS tham gia tìm hiểu, chăm sóc và phát huy giá trị các di
tích lịch sử, văn hóa, cách mạng ở địa phương:
Điều kiện trường còn nhiều khó khăn, HS còn nhỏ nhưng tôi đã tham mưu
với nhà trường, Đội tổ chức cho các em đi viếng nghĩa trang liệt sĩ. Giao lưu, tặng
quà cựu chiến binh và gia đình có công với cách mạng tại địa phương. Tham gia
đóng góp xây dựng công trình măng non tại nghĩa trang liệt sĩ của huyện. Qua đó
giáo dục các em truyền thống, uống nước nhớ nguồn, lòng tự hào dân tộc, biết ơn
các thương binh, liệt sĩ, người có công với cách mạng. Tổ chức sinh hoạt chủ điểm
ngày 10/3 hướng dẫn học sinh tìm hiểu về truyền thống yêu nước nồng nàn, tinh
thần chiến đấu bất khuất của ông cha ta từ đó phát huy huy truyền thống vẻ vang
của ông cha, bản sắc của dân tộc. Tổ chức cho các em thi kể chuyện tấm gương
đạo đức Hồ Chí Minh để thấy được tính giản dị, cần cù, chịu khó, lòng yêu nước
thương dân, sự hi sinh của Bác …từ đó học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ
Chí Minh. Tổ chức cho các em tìm hiểu văn hóa của dân tộc qua lễ hội cồng
chiêng, hội đua voi, hội đua thuyền….
c) Điều kiện để thực hiện giải pháp, biện pháp
Giáo viên phải thật sự có tâm huyết với nghề, có năng lực sư phạm (Năng
lực sư phạm gồm: Năng lực khoa học; hiểu học sinh; ngôn ngữ; tổ chức; phân phối
chú ý; trình bày bài giảng; óc tưởng tượng sư phạm). Ngoài ra, muốn phát huy tính
tích cực, tự giác, độc lập của học sinh cần phải biết lựa chọn phương pháp và hình
thức tổ chức linh hoạt, thích hợp, trong đó có các phương pháp thuyết minh; đàm
thoại; quan sát; thảo luận; thí nghiệm; hỏi đáp; nêu vấn đề…Ngoài ra còn phải óc
thẩm mĩ, tính sáng tạo trong việc trang trí lớp cũng như trong giảng dạy. Giáo viên
phải thực sự cởi mở, thân thiện, thái độ ân cần đối với học sinh, luôn gần gũi,
động viên, nhắc nhỏ các em làm cho các em có cảm giác thầy cô như người cha,
người mẹ thứ hai của mình để không có cảm giác sợ sệt. Mỗi lời nói, cử chỉ, việc
làm của giáo viên phải hết sức thận trọng vì nó đều có ảnh hưởng lớn tới các em.
d) Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp
16
học, tình trạng nghỉ học không lí do, giờ.
đi học trễ vẫn còn.
- Thiếu trách nhiệm trong việc xây - Có ý thức giữ gìn vệ sinh, bảo vệ tài sản
dựng trường, lớp xanh, sạch, đẹp, an của trường lớp, cố gắng tìm tòi, sáng tạo có
được sản phẩm mang tên mình để trang trí
toàn.
lớp. Linh hoạt, sáng tạo trong trang trí.
Tích cực chăm sóc, trồng cây xanh trong
lớp. Không bẻ cành, hái lá cây trong
- HS ngồi học không tập trung, hay trường, lớp.
nghịch ngợm, làm việc riêng, ngủ - Học sinh hăng say thực hành, thảo luận,
gật trong giờ học, không nắm được tranh luận để tìm ra kiến thức, nhớ kiến
nội dung bài hoặc nắm bài nhưng thức tốt hơn, hiểu nội dung bài học sâu
ngày mai lại quên. Tiếp thu thụ hơn, chủ động nắm bắt kiến thức.
động.
- Khi được gọi tới thì hay giật mình.
- Tích cực phát biểu xây dựng bài, có ý
thức trong việc học và chuẩn bị bài cũng
như đồ dùng trước khi đến lớp.
17
- Giáo viên phải giảng giải, thuyết - Giáo viên truyền thụ kiến thức nhẹ nhàng
hơn.
trình nhiều.
- Các kỹ năng nghe, nhìn, ...khả - Bên cạnh nắm kiến thức các em còn lĩnh
hội được rất nhiều kỹ năng cần thiết cho
năng phản xạ chậm.
cuộc sống như quan sát, phân tích, tổng
trào” Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”.
- Sử dụng triệt để đồ dùng dạy học trong nhà trường, có sự sáng tạo trong
làm đồ dùng. Do phải tự học, tự rèn nhiều nên trình độ nhận thức cũng như chuyên
môn cũng được nâng lên.
18
- Được các em và phụ huynh yêu quý, gần gũi, thân thiện, tin tưởng hơn.
- Phụ huynh có trách nhiệm hơn đối với việc học của con cái.
- Học sinh mạnh dạn, tự tin, nắm vững kiến thức đã học, nhanh nhẹn, hoạt
bát hơn, có các kỹ năng cơ bản để vận dụng vào cuộc sống.
- Với các giải pháp, biện pháp đã nêu trên đã tạo cho HS học tập một cách
tích cực, tự giác, độc lập và sáng tạo. Mặt khác còn kích thích được phong trào thi
đua học tập trong lớp, trong trường. Do đó, kết quả mang lại rất khả quan; nhiều
em rụt rè nay đã hăng hái phát biểu xây dựng bài, lớp học sôi nổi, học sinh hứng
thú, tiếp thu kiến thức nhanh chóng. Giáo viên không phải nói thay, làm thay, nói
nhiều mà học sinh vẫn hiểu bài. Học sinh tự giác, hứng thú đi học mà không cần
phải cha mẹ dùng roi vọt đưa đi. Các em cảm thấy thật sự mỗi ngày đến trường là
một ngày vui, thấy được nhiều điều lí thú trong học tập, tránh được sự nhàm chán,
căng thẳng.
III . PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
III.1. Kết luận
- Đây là một việc làm mà trước đây chúng ta cũng đã từng làm, tuy nhiên nó
chưa đầy đủ, cụ thể, chưa mang lại hiệu quả cao mà thôi.
- Bác Hồ đã dạy: “Dù khó khăn đến đâu cũng tiếp tục thi đua dạy tốt, học
tốt”. Mặc dù còn nhiều khó khăn trong việc giảng dạy và giáo dục học sinh nhưng
tôi tin rằng: “Mỗi giáo viên đều có thể vượt qua được những khó khăn đó và hoàn
thành tốt nhiệm vụ được giao bằng chính sự tận tâm của mình. Bản thân tôi thấy
mình cần phải cố gắng nhiều hơn nữa trong việc rèn luyện phẩm chất đạo đức, học
tập nghiên cứu tìm hiểu, nâng cao kiến thức. Từ đó đúc kết kinh nghiệm cho bản
học tập ở các lớp để giáo viên và học sinh buộc phải tìm tòi, có những sáng tạo
trong việc trang trí lớp đây là việc làm góp phần không nhỏ vào quá trình dạy học.
- Đẩy mạnh việc xây dựng mô hình lớp học thân thiện, học sinh tích cực ở
mỗi lớp học. Tổ chức thêm nhiều hoạt động ngoại khóa như: Trồng cây nhớ Bác,
trò chơi dân gian, tìm hiếu an toàn giao thông,..…để các em có sân chơi thật sự,
vui, khỏe, an toàn.
- Khuyến khích giáo viên tự học tập và bồi dưỡng kiến thức thường xuyên,
dạy theo hướng phân hoá đối tượng và thường xuyên cải tiến nội dung và các hình
thức tổ chức dạy học trong mỗi tiết học.
- Dạy học cho học sinh tiểu học, đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay quả là
không phải dễ dàng. Đòi hỏi giáo viên không những phải biết lựa chọn phương
pháp phù hợp mà còn phải có lòng nhiệt tình, có kiến thức, có vốn kinh nghiệm
ứng xử phong phú. Đặc biệt giáo viên phải là tấm gương mẫu mực trong tự học và
sáng tạo để học sinh noi theo.
- Ngoài ra cần bám vào đối tượng học sinh, hoàn cảnh của nhà trường để lựa
chọn và sử dụng linh hoạt, sáng tạo các hình thức và phương pháp dạy học cho phù
hợp.
- Trên đây là một số biện pháp tôi đã thực hiện trong thời gian qua và đã
thấy có hiệu quả trong việc “ Xây dựng lớp học thân thiện, học sinh tích cực”. Tôi
rất mong nhận được sự ủng hộ đóng góp ý kiến để đề tài này ngày càng hoàn thiện.
Điều tôi mong muốn nhất là những biện pháp này phù hợp với thực tế giảng dạy ở
các nhà trường và sẽ trở thành công việc quen thuộc của mỗi giáo viên.
Buôn Trấp, ngày 18 tháng 2 năm 2015
Người viết
Nguyễn Thị Hoài
20
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN