XÂY DỰNG LỚP HỌC THÂN THIỆN
HỌC SINH TÍCH CỰC Ở TIỂU HỌC
PHẦN MỘT : PHẦN MỞ ĐẦU
I. ĐẶT VẤN ĐỀ :
- Lời Bác dạy: “ Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây
Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”.
Vâng theo lời Bác, ngành giáo dục luôn phấn đấu đổi mới, nâng cao chất lượng,
giáo dục và đào tạo, thi đua dạy tốt, học tốt, đào tạo nguồn nhân tài có đủ phẩm
chất, năng lực phục vụ, xây dựng đất nước.
- Nước ta trong thời kì mở cửa, hội nhập và phát triển, công cuộc đổi mới kinh
tế xã hội đang diễn ra từng ngày, từng giờ trên khắp đất nước. đòi hỏi phải có
những lớp người lao động mới, có bản lĩnh, có năng lực, chủ động sáng tạo.
Dám nghĩ dám làm thích ứng được với thực tiễn xã hội luôn thay đổi và phát
triển. Nhu cầu này đòi hỏi ngành giáo dục phải có sự thay đổi cho phù hợp với
tình hình đất nước.
- Nhà trường không những cung cấp cho học sinh(HS) những tri thức khoa
học một cách có hệ thống, mà còn rèn cho HS những kĩ năng, kĩ xảo, kĩ năng
sống cần thiết để hình thành và phát triển những phẩm chất tốt đẹp cho mỗi học
sinh. Giáo dục Tiểu học là nền móng để đạt được mục tiêu trên.
- Hiện nay, trong khi các nhà trường đang tích cực nâng cao chất lượng giáo
dục và đào tạo, thì đa số giáo viên(GV) thường gặp những khó khăn vì tình
trạng HSlười học, ham chơi, HS không thuộc bài không chuẩn bị bài trước ở
1
nhà, nhút nhát, không tích cực tham gia thảo luận nhóm, cặp tình trạng này
ảnh hưởng không ít đến kết quả học tập của HS,
- Tôi cứ băn khoăn mãi: “Làm thế nào để các em hứng thú học tập hơn?” “
Làm sao không dùng hình phạt mà Hs có kết quả học tập tốt hơn?” “ Làm sao
các em có cảm giác, mỗi ngày đến trường là một niềm vui?” “ Làm sao HS tự
giác, tự tin, tự học, tự quản, tự trọng trong mô hình VNEN”
- Đề tài xin được phép trình bày các vấn đề sau: Đặt vấn đề - Phạm vi đề tài-
Thực trạng ban đầu - Giải pháp – Kết quả - Nguyên nhân thành công và những
tồn tại –Kết luận- Đề xuất.
PHẦN HAI : NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
I. Thực trạng :
- Trường Tiểu học Cam AN Nam nằm trên địa bàn nông thôn,nhận học sinh chủ
yếu tở 3 thôn Vĩnh Đông, Vĩnh Nam, Vĩnh Trung.
- Thống kê hai mặt giáo dục ở lớp 3B cuối năm học 2012 – 2013 như sau :
I.Nguyên nhân:
Khách quan:
3
- Trường học được xây dựng kiên cố ,nhưng chưa được trang bị đầy đủ như các
thiết bị đồ dùng dạy học cho tất các môn học, phòng ngoại ngữ, phòng nghe
nhìn, phòng âm nhạc còn thiếu nhiều phương tiện dạy học giúp học sinh tích
cực, tự giác học tập .
- Trường học ở xa nhà học sinh, học sinh còn nhỏ, đi lại còn khó khăn, nhất là
lúc trời mưa.
- Địa phương còn nhiều khó khăn lớp có nhiều gia đình HS thuộc diên hộ
nghèo, cận nghèo.
- Phần lớn cho mẹ các em đi làm xa nhà, trình độ học vấn thấp, có HS không
được sống cùng cha mẹ nên các em chưa quan tâm đúng mức đến việc học.
- Các em học sinh tiểu học còn nhỏ, còn ham chơi, chưa ý thức hết được tầm
quan trọng của việc học tập, chưa tự giác học tập.
Chủ quan :
- Để đảm bảo các chỉ tiêu của trường, của ngành đề ra, các áp lực công việc về
thời lượng tiết dạy, mục tiêu bài học, kết hợp giáo dục lồng ghép, phân hóa
đối tượng học sinh v.v.v. Không ít giáo viên đôi khi quá nóng vội trong việc
giáo dục học sinh để đảm bảo những chỉ tiêu và hoàn tất các công việc đó.
nắp, từ chỗ ngồi, cửa sổ, lớp học, hành lang cho đến sân trường HS luôn có
thói quen giứ vệ sinh môi trường luôn sạch đẹp, thân thiện với con người.
- GV luôn thân thiện, gâng gũi với HS, những lời nhắc nhở nhẹ nhàng của
GV sẽ đạt được kết quả cao. Viết câu nhắ nhở hòm hỉnh như: “Cho tôi xin
rác !” được dán trước mặt thùng rác nơi HS dễ thấy. Hay câu:. “Tắt đèn, tắt
quạt khi không cần thiết bạn nhé ! ” Chúng ta có giáo dục HS có ý thức tự
giác giữ vệ sinh trường lớp, tiết kiệm điện.
5
- Lớp có đủ ánh sáng, quạt, lọ hoa, cây xanh, tạo không khí thật sự thoải mái ,
thân thiện gần gũi với thiên nhiên hơn.
- Bàn giáo viên có khăn trải bàn, lọ hoa, tủ đồ dùng phải gọn gàng, sắp xếp
khoa học, sạch đẹp, dễ đưa vào sử dụng.
- “ Tủ sách thân thiện” là kết quả đóng góp của phụ huynh, HS, GV, có sự
giúp đỡ của nhà trường và địa phương tạo điều kiện cho các em ham đọc sách,
mở rộng hiểu biết, phát triển khả năng đọc cho các em. Rèn kĩ năng sống có
trách nhiệm, có ý thức bảo quản tài sản chung, có thói quen sống gọn gàng,
ngăn nắp.
- Cây hoa học tập, bảng đo tiến độ, phản ánh rõ ràng, chính xác, công khai kết
quả học tập của mỗi nhóm. cá nhân HS sau mỗi hoạt động, Việc tuyên dương
cá nhân, nhóm trong mỗi giờ chào cờ đầu tuần kích thích HS tích cực, tự giác
học tập để đạt được kết quả cao hơn.
- Cuối lớp có Bảng tin lớp em được trang trí đẹp, nội dung phong phú, phù
hợp lứa tuổi HS.
Chúng
mình cần
nhớ !
Ai tài
cảnh đẹp, di tích lịch sử, làng nghề )Giúp hs hiểu thêm về quê hương con
7
người quê mình, đồng thời các em cũng giúp các em tự tin vào bản thân, yêu
lao động, yêu quê mình hơn.
+ Chuyên mục: “cùng suy ngẫm” Những việc các em làm thiếu ý thức ảnh
hưởng đến phong trào thi đua của lớp như: đi học trễ, không đội mũ bảo hiểm,
vệ sính chậm ta viết lên bảng để HS tự suy nghĩ và tự sửa không mắc phải
nữa
Tùy theo từng khối lớp, GV có thể biến đổi bản tin này phù hợp lứa tuổi Hs
lớp mình.
- Phát huy hộp thư điều em muốn nói: Tạo điều kiện cho các em mạnh dạn
nói lên những suy nghĩ của mình về thầy cô, bạn bè, các mối quan hệ hằng
ngày, góp phần thực hiện tốt quyền trẻ em , đẻ từ đó GV hiểu HS của mình
hơn, giúp giải quyết những khó khăn trong suy nghĩ của các em. Cải thiện
tốt mối quan hệ thầy - trò, trò - thầy. - GV dành 10-15 phút ở tiết sinh hoạt
lớp để giải đáp những thắc mắc, suy nghĩ các các em HS, trả lời câu hỏi trực
tiếp và câu hỏi trong chuyên mục điều em muốn nói .
- Khuấy đọng phong trào giao lưu qua hộp thư vui HS tập thói quen biết quan
tâm đến người khác, tập thói quen viết thư cho nhau thông qua đó rèn kĩ năng
viết cho các em.
2 . Đầu tư vào xây dựng hội đồng tự quản, phát huy trách nhiệm của mỗi
thành viên trong hội đồng tự quản của lớp :
- Tập trung đầu tư cao cho công tác giảng dạy vừa nhằm tích cực hóa hoạt
động học của HS , khuyến khích HS chủ động, sáng tạo, dạy cho hS cách học.
8
Tạo điều kiện cho HS phát huy mọi năng lực, phát hiện khả năng của mình
+ Thi viết chữ đẹp cấp trường, cấp huyện
+ Thi giải toám trên internet
+ Nhặt rác, trồng cây sân trường.
+ Thăm và bảo vệ, chăm sóc đài tưởng niện các anh hùng liệt sĩ của địa
phương.
3. Công tác chủ nhiệm:
Người GV làm công tác chủ nhiệm,dù ở đâu,lúc nào cũng gặp nhiều vất vả,
nhất là gặp những học sinh các biệt, những em chậm tiến thì quả là thử thách
lớn. Vì vậy người giáo viên phải có “cái tâm với nghề”tính kiên trì, hiểu
được tâm lí lứa tuổi ở trẻ, khéo léo trong ứng xử, đặt biệt là yêu trẻ.
- Với những HS chậm tiến bộ :
+ Tổ chức mô hình đôi bạn học tập ở lớp cũng như ở nhà, để các em đoàn
kết, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ.
+ Tìm hiểu những năng lực, sở trường của các em, giao việc cho phù hợp, tạo
cơ hội để các em này phát huy hoàn thành nhiệm vụ, tin tưởng vào bản thân.
Hướng các em đến niềm tin: “Mình cũng có thể học giỏi như các bạn khác”.
Tạo động lực để các em cố gắng.
- GV kịp thời động viên, phát hiện và nêu những tấm gương người tốt, việc
tốt, vượt khó học giỏi, những HS có tiến bộ trong học tập, ngoan ngoãn, để
động viên, khuyến khích, khen thưởng các em. Tạo động lực để các em
cùng cố gắng phát huy.
Phối hợp với cha mẹ học sinh để giáo dục các em:
10
- Gia đình luôn là chỗ dựa vững chắc cho các em, giúp các em khỏi thấy cô
đơn, hụt hẫng là động lực để các em vượt qua khó khăn. Vì thế chúng ta cần
quyết tâm “nối nhịp cầu giáo dục” với cha mẹ các em, đi đến thống nhất
cách giáo dục an toàn, hiệu quả nhất.
Trung…
III/. Bài học kinh nghiệm:
Nhận thức rõ tầm quan trọng của việc giáo dục HS phát triển toàn diện đầu
tư cao cho công tác giảng dạy, công tác chủ nhiệm.
- Cải thiện tốt mối quan hệ thầy trò, thực hiện qui tắc ứng xử thân thiện.
- Cần chịu khó học hỏi, tìm tòi,đổi mới,phối hợp hài hòa các phương pháp,
vận dụng đổi mới các hình thức dạy học phù hợp, tăng tính sư phạm, giảm
nhàn chán. Làm đồ dùng dạy học, sưu tầm tài liệu chuyên môn, học tập trao
đổi chuyên môn trong trong tổ và các tài liệu có liên quan.
- Lập kế hoạch bồi dưỡng HS giỏi, HS năng khiếu. Lên Kế hoạch phụ đạo HS
yếu thường xuyên trong mỗi tiết dạy, đầu hoặc cuối tiết học.
- Làm tấm gương tốt cho HS noi theo như: đi dạy đúng giờ, nếp sống, sinh
hoạt đúng đắn, nói là làm, không nói một dằng làm một nẻo. Làm việc gì,
chắc việc đó. Tránh những việc làm hình thức, ít tác dụng vì nó có thể vô tình
gây tâm lí mệt mỏi cho HS.
- Nghiên cứu tâm lí lứa tuổi, tạo môi trường thật sự thân thiện, từ việc trang
trí lớp đến việc giảng dạy và các hoạt động ngoài giờ, để phát huy hiệu quả
nhất tính tích cực, tự giác của mỗi HS.
12
- Nhẹ nhàng uốn nắn, sửa sai cho HS kịp thời, thường xuyên. Kịp thời tuyên
dương khi thấy các em tiến bộ dù là rất nhỏ, để các em tự tin hơn, vượt qua
những mặc cảm tự ti.
- GV cần bao dung và công tâm trong giảng dạy và giáo dục HS.
-GV đông thời là người thầy, người mẹ,người bạn cho HS khi cần được dạy
dỗ, khi muốn được che chỡ, khi cần được chia sẻ.
- Tạo điều kiện cho các em hòa nhập với bạn bè trong lớp, ở trường và cộng
đồng.(Tham gia các cuộc thi, buổi giao lưu của trường, địa phương tổ chức)
- Phối hợp PHHS thống nhất quan điểm giáo dục.
- Xây dựng mô hình lớp học thân thiện, học sinh tích cực ở mỗi lớp học.
- Cần tạo cho các em sân chơi để các em giáo lưu, học hỏi và tiến bộ hơn, thi
giọng hát hay, thi giải Lê Quí Đôn giành cho các HS giỏi ở các khối lớp, thi
tìm hiểu các ngày lễ lớn.
- Nhà trường phối hợp, Đoàn Thanh niên, Đội Thiếu niên, Sao Nhi đồng tổ
chức thêm nhiều hoạt động ngoại khóa như trồng cây nhớ Bác, trò chơi dân
gian, tìm hiếu an toàn giao thông, …để các em có sân chơi thật sự ;
vui, khỏe, an toàn.
- Mỗi Gv phải tự học tập và bồi dưỡng kiến thức thường xuyên.
Trên đây là một số kinh nghiệm của tôi trong quá trình giảng dạy và học
tập đã rút ra được. Dù hết sức cố gắng, nhưng chắc chắn không thể tránh khỏi
những hạn chế và thiếu sót, rất mong được sự nhận xét,góp ý, xây dựng tận
14
tình của hội đồng giám khảo, để mô hình này mang lại hiệu quả cao hơn và
được áp dụng rộng rãi ở các lớp tiểu học.
Cam An Nam, ngày1 3 tháng 10 năm 2013
Người trình bày 15