Các giải pháp thu hút FDI ở tỉnh Hải Dương. - Pdf 33

MỤC LỤC
Lời cảm ơn.
Tóm tắt
Mục lục
Danh mục bảng.
Danh mục biểu đồ.
Chú thích các thuật ngữ
Phần mở đầu
1. Mục tiêu của đề tài
Trong nhiều năm qua, với những chính sách, biện pháp sáng tạo, linh hoạt,
tỉnh Hải Dương đã đạt được những thành tựu quan trọng trong thu hút FDI. Hải
Dương luôn là một trong những tỉnh thu hút được nhiều đầu tư trực tiếp nước
ngoài về số lượng dự án, vốn đầu tư đăng ký và vốn đầu tư thực hiện. Các doanh
nghiệp FDI ở Tỉnh Hải Dương đã có những đóng góp đáng kể vào tăng trưởng
phát triển kinh tế của Tỉnh, tạo việc làm cho người lao động và có tác động đáng
kể tới phát triển khu vực kinh tế địa phương.
Tuy vậy, thu hút và duy trì sự tăng trưởng của các doanh nghiệp FDI của
Tỉnh Hải Dương còn thiếu bền vững. Cơ cấu các doanh nghiệp FDI còn chưa hợp
lý: thiếu các dự án đầu tư lớn, công nghệ cao; tỷ trọng các dự án đầu tư từ các
nước phát triển như Hoa Kỳ, Nhật Bản và Châu Âu còn thấp, tác động của khu
vực đầu tư nước ngoài đối với khu vực kinh tế địa phương còn hạn chế. Các hoạt
động xúc tiến đầu tư, chăm sóc hoạt động của các doanh nghiệp FDI… cũng bộc
lộ những tồn tại, vướng mắc cần xem xét giải quyết.
Để tiếp tục phát huy vai trò của FDI trong việc thực hiện mục tiêu phát
triển kinh tế xã hội theo chủ trương của tỉnh, việc nghiên cứu đánh giá nhằm đưa
ra những biện pháp cụ thể trong thu hút FDI giai đoạn 2007-2010 là hết sức cần
thiết.
Luận văn này tập trung vào phân tích đánh giá thực trạng thu hút FDI ở
tỉnh Hải Dương xây dựng quan điểm và đề xuất các giải pháp nhằm tiếp tục thu
hút FDI ở tỉnh Đồng Nai trong giai đoạn 2007-2010 và tầm nhìn đến năm 2020.
Các mục tiêu cụ thể của luận văn này là:

phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp nghiên cứu so sánh..vv.
4. Nguồn dữ liệu.
Luận văn sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp và sơ cấp.
- Nguồn dữ liệu thứ cấp gồm:
3
+ Các báo cáo của Uỷ ban nhân dân tỉnh, các ngành của tỉnh Hải Dương
về tình hình thu hút FDI tại địa phương.
+ Số liệu điều tra, đánh giá của Dự án Nâng cao năng lực cạnh tranh Việt
Nam (VNCI) của Phòng Thương Mại và Công nghiệp Việt nam, chủ yếu phần
đánh giá năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI).
+ Ngoài ra luận văn còn sử dụng các số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
- Nguồn thông tin sơ cấp bao gồm các thông tin liên quan đến FDI thu
được qua phỏng vấn và quan sát của tác giả trong thời gian từ tháng 6/2006 đến
tháng 7/2007.
5. Kết cấu của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, kết cấu luận
văn gồm 3 chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của thu hút FDI.
Chương 2: Thực trạng nghiên cứu, đánh giá thu hút FDI vào tỉnh Hải
Dương giai đoạn 2001-2006.
Chương 3: Những giải pháp nhằm tăng cường thu hút FDI vào Hải Dương
giai đoạn 2007 -2010.
4
Chương I. Cơ sở lý luận và thực tiễn của thu hút FDI vào địa phương
I.1 FDI và thu hút FDI.
I.1.1 FDI và vai trò của FDI.
Tổ chức thương mại quốc tế (WTO) đưa ra định nghĩa FDI như sau: FDI
xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được tài sản ở một
nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện
quản lý là một khía cạnh để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Phần

gia (Multinational Corporations - MNCs)
- Với các đặc điểm trên FDI có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh
tế của quốc gia cũng như của địa phương. Điều đó thể hiện việc đem lại nhiều lợi
ích như:
+ Cơ hội tiếp xúc với công nghệ mới đối với các nước đang phát triển, góp
phần tăng năng xuất lao độn cũng như khai thác được những thế mạnh của quốc
gia cũng như của địa phương.
+ Là nhân tố kích thích cho sự tăng trưởng kinh tế của quốc gia và địa
phương.
+ Tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân.
+ Nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hoá, mở rộng thị trường và mở
rộng quan hệ trong việc hội nhập kinh tế quốc tế.
Do vậy đối với các nước đang phát triển thì FDI thực sự là cần thiết cho sự
phát triển kinh tế, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và hội nhập kinh tế quốc
tế.
I.1.2 Khái quát về thu hút FDI.
Lý thuyết về kinh tế học và quản trị đưa ra nhiều cách tiếp cận khác nhau
về vấn đề thu hút FDI. Thu hút FDI là vấn đề thường được trực tiếp cận từ góc độ
marketing công cộng, và vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường. Phần
này sẽ đề cập đến một số khía cạnh cơ bản của hai vấn đề "thu hút" tăng trưởng
FDI theo cách tiếp cận tổng hợp từ hệ thống lý thuyết kể trên.
6
Trên khía cạnh "thu hút" FDI, các nhà đầu tư nước ngoài có thể được coi là
"khách hàng" của chính quyền các cấp (trung ương hoặc địa phương). Theo cách
tiếp cận marketing công cộng, chiến lược marketing hỗn hợp mà các tổ chức
chính quyền xây dựng để thu hút "khách hàng" phải hướng đến chiến lược "sản
phẩm" và "xúc tiến". "Sản phẩm" ở đây được hiểu là những gì mà chính quyền có
thể cung cấp được cho các nhà đầu tư gồm tài nguyên, vị trí địa lý, nguồn nhân
lực, hệ thống các quy định chính sách liên quan đến đầu tư, cơ sở hạ tầng, các
dịch vụ hỗ trợ đầu tư. Có thể thấy rằng trong các yếu tố cấu thành nên "sản

kinh tế, tạo công ăn việc làm, chuyển giao công nghệ và kỹ năng.
Vì vậy, thu hút FDI có thể được coi là một chức năng cần thiết của các cấp
chính quyền tại các nước đang phát triển, nơi mà FDI có thể là một "lời giải" cho
yêu cầu về vốn và công nghệ cao cho quá trình công nghiệp hóa, hội nhập và bắt
kịp với thế giới bên ngoài. Điều này về hình thức có thể là khá đơn giản và dễ
được chấp nhận nhưng cần nhấn mạnh rằng đây không phải là một chức năng
được nhấn mạnh trong các lý thuyết về vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị
trường, hay trong kinh tế học quản lý. Thay vào đó, vai trò của chính quyền địa
phương trong thu hút FDI được nhấn mạnh với ý nghĩa là một yêu cầu của thực
tiễn quản lý và lập chính sách. Tầm quan trọng của vấn đề thu hút FDI trong hoạt
động của chính quyền địa phương vì vậy gắn với chiến lược phát triển kinh tế,
gắn với thực tiễn về cơ cấu kinh tế và nguồn lực của địa phương trong thu hút
FDI. Trong trường hợp chiến lược phát triển kinh tế địa phương nhấn mạnh vào
trọng tâm thu hút FDI như là đòn bảy của tăng trưởng thì thu hút FDI phải được
xem là trọng tâm trong chính sách kinh tế của các tổ chức chính quyền. Trong
những điều kiện khác, cân đối vai trò thu hút FDI với các vai trò quản lý kinh tế
khác của chính quyền địa phương cần được cân nhắc trên cơ sở xem xét vị trí của
FDI trong cơ cấu kinh tế địa phương.
I.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút FDI.
8
Nếu như mối quan hệ bên trong quyết định nhiều đến năng lực và sản
phẩm của doanh nghiệp thì mối quan hệ bên ngoài lại liên quan nhiều đến hình
ảnh của doanh nghiệp và tạo động lực cho sự phát triển của doanh nghiệp. Trên
thực tế, dòng vốn FDI vào các nước đang phát triển thường là từ các TNC của
các nền kinh tế tiên tiến, vì vậy các hoạt động "bên trong" thường được tổ chức
khá hoàn chỉnh. Với đặc điểm này, các yếu tố bên ngoài là những yếu tố có khả
năng ảnh hưởng quyết định đến thành công của các doanh nghiệp FDI. Các yếu
tố bên ngoài có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động của doanh nghiệp FDI
thường được phân loại theo nhóm như sau:
1. Môi trường kinh doanh và môi trường pháp lý:

địa phương trong cung cấp các dịch vụ hỗ trợ là yếu tố quan trọng quyết định tính
hấp dẫn của môi trường đầu tư tại địa phương so với các địa bàn khác.
4. Hệ thống thông tin:
Trong hoàn cảnh lãnh thổ là sự kết nối của các hệ thống và mạng lưới,
thông tin giữ vai trò quan trọng. Một mạng lưới thông tin giữa các cơ quan quản
lý và hệ thống doanh nghiệp có thường được tổ chức theo nguyên tắc trung gian.
Trung gian ở đây được hiểu là một nhóm các chuyên gia đảm trách việc thu thập
và quản lý thông tin để cung cấp cho các doanh nghiệp tiếp cận. Các chuyên gia
này phải hiểu rõ các vấn đề doanh nghiệp gặp phải và thường xuyên tiếp xúc với
doanh nghiệp. Nếu thiết lập được một bầu không khí tin tưởng giữa chủ doanh
nghiệp và các chuyên gia thu thập thông tin sẽ giúp các doanh nghiệp trong việc
xây dựng chiến lược phát triển và đóng vai trò chính cho việc ra quyết định cho
các hoạt động của doanh nghiệp.
5. Mạng lưới - Đối tác - Văn hóa:
10
Đối với các doanh nghiệp FDI thành công và tăng trưởng trong kinh doanh
luôn được ghi nhận trong mối liên kết tốt về mạng lưới - đối tác - văn hóa. Đặc
điểm đầu tiên của các doanh nghiệp FDI là phải mở cửa với bên ngoài để có tầm
nhìn rộng hơn ra môi trường xung quanh, duy trì thường xuyên việc theo dõi các
động thái bên ngoài. Đó cũng là biết cách biến đổi các nguyên tắc và biện pháp
cạnh tranh trong lĩnh vực kinh tế vào tình hình cụ thể, tạo ra sự đoàn kết, trao đổi,
hợp tác nhằm thực thi các hoạt động. Bên cạnh đó việc phối kết hợp tốt các yêu
tố này cũng làm cho hoạt động trong nội bộ doanh nghiệp trở nên hiệu quả hơn,
mối quan hệ giữa doanh nghiệp và người lao động trở nên hòa đồng hơn, tạo
động lực thúc đẩy tăng trưởng của doanh nghiệp.
I.2 Vai trò chính quyền địa phương trong việc thu hút FDI.
Ở Việt nam, chính quyền địa phương được hiểu là chính quyền cấp tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương. Việt nam hiện nay có 64 tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung uơng. Nếu như chính quyền trung ương đóng vai trò quyết định
trong việc tạo ra môi trường đầu tư thông thoáng trên toàn quốc, tăng tính cạnh

Thực hiện vai trò của chính quyền địa phương, phát triển hình ảnh của địa
phương trên quy mô quốc gia và quốc tế là một thử thách lớn đối với chính
quyền địa phương. Do đó, chính quyền địa phương phải được trang bị những
phương tiện và năng lực cần thiết. Thu hút nhân tài, tuyển chọn và phát triển cán
bộ là hết sức cần thiết nhằm tạo ra một hệ thống cơ quan chính quyền địa phương
hiệu quả, đáp ứng tốt yêu cầu của tăng trưởng kinh tế nói chung và xúc tiến, nuôi
dưỡng đầu tư nói riêng.
Tóm lại, vai trò của chính quyền địa phương trong việc thu hút đầu tư nước
ngoài không chỉ thuần túy dừng lại ở việc tạo ra và thúc đẩy một vài yếu tố, nó
bao hàm một phương pháp tiến hành hoàn toàn không đơn giản, từ quyết tâm
phát triển lãnh thổ cần tạo ra những yếu tố cần thiết khác cho hoạt động của các
doanh nghiệp như một mạng lưới nghiên cứu và đào tạo hoàn chỉnh, các dịch vụ
12
có chất lượng, hệ thống liên kết mạnh, mạng lưới thông tin phù hợp và hiệu quả,
cơ cấu lồng ghép ngành nghề và lĩnh vực hợp lý, trên cơ sở lồng ghép một cách
có hiệu quả các hoạt động nhằm tạo ra các điều kiện thuận lợi cho quan hệ đối tác
doanh nghiệp.
Việc thu hút thành công các nhà đầu tư nước ngoài sẽ đem lại những lợi
ích quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế địa phương. Bên cạnh việc làm trực
tiếp cho người lao động địa phương và các khoản thu từ thuế cho địa phương còn
có các lợi ích gián tiếp khác cho động đồng địa phương đó là nâng cao trình độ
tay nghề cho lao động, góp phần tăng mặt bằng lương của lao động địa phương,
tạo cơ họi cho các doanh nghiệp hiện có của địa phương có cơ hội phát triển.
Tổng kết thực tiễn cho thấy chiến lược thu hút đầu tư nước ngoài sẽ thành công
khi hội đủ các yếu tố cơ bản sau:
- Thu hút đầu tư phải được xem là một phần quan trọng trong chiến lược
phát triển kinh tế địa phương;
- Địa phương phải có sẵn hệ thống cơ sở hạ tầng và dịch vụ phụ trợ phù
hợp hoặc có khả năng hỗ trợ cho phát triển hệ thống như vậy để thu hút các nhà
đầu tư;

phương về các mặt như: việc quản lý của chính quyền địa phương, việc thực hiện
các quy định pháp luật, các chính sách địa phương thực hiện đối với các vấn đề
liên quan tới FDI; các chính sách về lao động, đào tạo lao động; thủ tục hành
chính khi cấp giấy phép..
Cơ hội là những yếu tố từ bên ngoài môi trường đem lại, nó có tác động
tích cực đến mục tiêu thu hút FDI của địa phương như đem lại những điều kiện
thuận lợi như xu thế, cơ chế chính sách, điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý.
14
Thách thức là những yếu tố bên ngoài do môi trường đem lại, nó có tác
động tiêu cực đến mục tiêu thu hút FDI của địa phưong, đem lại những điều kiện
khó khăn, tác động làm giảm sự hấp dẫn trong việc thu hút FDI của địa phương.
Tìm ra những cơ hội, thách thức dựa trên phân tích môi trường bên ngoài
mà chủ yếu là phân tích môi trường vĩ mô như môi trường luật pháp về đầu tư tại
Việt nam, xu thế đầu tư quốc tế vào Việt nam. Bên cạnh đó phân tích những khó
khăn thuận lợi do vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
I.3.2 Hệ thống chỉ số đánh giá hấp dẫn của thị trường.
Hệ thống chỉ tiêu đánh giá sự hấp dẫn của thị trường bao gồm các chỉ tiêu
chủ yếu nhằm để phản ánh môi trường kinh doanh tại địa phương, những khía
cạnh này chịu tác động trực tiếp từ thái độ và hành động của cơ quan chính quyền
địa phương. Nó xuyên suốt thời gian từ khi xin giấy phép đầu tư đến khi đi vào
hoạt động và có ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí và lợi nhuận của các nhà đầu tư.
Việc đánh giá này dựa vào các thông tin thu được từ các doanh nghiệp thông qua
phỏng vấn. Những khía cạnh này bao gồm:
- Chi phí gia nhập thị trường (chi phí thành lập doanh nghiệp). Chỉ tiêu này
thể hiện các khó khăn, thuận lợi khi đầu tư, thành lập doanh nghiệp tại địa
phương. Chỉ tiêu này là tập hợp một số chỉ tiêu như: % DN gặp khó khăn để có
đủ các loại giấy phép cần thiết khi tiến hành xin các giấy phép đầu tư; thời gian
từ khi nộp đơn xin cấp đến khi được cấp GCNQSD đất (ngày); thời gian đàm
phán chuyển nhượng (mua) quyền SD đất (ngày); thời gian tìm được mảnh đất
phù hợp trong trường hợp là đất do sự giới thiệu của UBND (ngày); thời gian chờ

chính quyền trong việc tạo thuận lợi cho hoạt động của doanh nghiệp.
Các chỉ tiêu này mới chỉ đánh giá một phần về môi trường kinh doanh cấp
tỉnh, những yếu tố nội tại của địa phương có ảnh hưởng trực tiếp nhưng còn hạn
chế chưa phản ánh được nhiều những yếu tố ảnh hưởng, trực tiếp hay gián tiếp
khác như các dịch vụ phục vụ cho việc thực hiện các dự án, thể hiện như hệ
thống nhà ở cho công nhân thuê, mức độ hài lòng của các doanh nghiệp đối với
16
cơ sở hạ tầng của KCN, hay các chính sách mở rộng các khu công nghiệp phụ
trợ.
I.3.3 Marketing Mix.
Trên thực tế để thu hút FDI chính quyền các địa phương phải chỉ ra
được sự hấp dẫn của môi trường đầu tư để thu hút sự chú ý từ các nhà đầu tư.
Đây là việc cung cấp thông tin đầu vào cho việc ra quyết định đầu tư. Việc dẫn
đến ra quyết định đầu tư hay không phụ thuộc rất nhiều vào kỹ năng quảng bá
giới thiệu về môi trường đầu tư của địa phương. Tuy nhiên cách giới thiệu,
quảng bá có thể lúc này hiệu quả, lúc khác không hoặc đối với quốc gia này
hiệu quả, đối với quốc gia khác thì ngược lại. Vì vậy ở đây cũng cần áp dụng
các chính sách Marketting phù hợp sao cho cách giới thiệu hiệu quả, thu hút
được các nhà đầu tư theo đúng mục tiêu đã đề ra. Do vậy luận văn áp dụng mô
hình Marketting mix với việc trả lời các câu hỏi để có các biện pháp thu hút
FDI của Hải Dương được hiệu quả nhất: Thu hút FDI thông qua những kênh
nào thì hiệu quả cao? Đầu tư cho việc xây dựng bộ máy chuyên nghiệp để
quảng bá hay thuê ngoài? Cách thức thực hiện khuyếch trương như thế nào?
Mục tiêu giới thiệu nhằm lôi kéo những nhà đầu tư ở nước nào, lĩnh vực nào?
Chỉ rõ những điều kiện thật sự thuận lợi của môi trường đầu tư tại địa
phương?.
I.4 Kinh nghiệm trong nước và quốc tế trong thu hút FDI
I.4.1 Kinh nghiệm quốc tế.
Trong gần hai thập kỷ trở lại đây FDI là nguồn vốn bổ sung quan trọng
nhất cho các nước đang phát triển để phần nào giải quyết bài toán vốn, công

cơ sở hạ tầng), và môi trường thể chế hơn là những ưu đãi cụ thể về thuế. Tuy
nhiên, trong điều kiện các quốc gia đều cố gắng cải thiện môi trường đầu tư,
giảm chi phí kinh doanh thì những ưu đãi tài chính nhất định có thể là một yếu tố
18
nh hng n quyt nh u t. Vỡ vy, a s cỏc nh lp chớnh sỏch u cho
rng u ói ti chớnh l cn thit thu hỳt u t nc ngoi.
Malaysia, Singapore, Thailand, v mt s quc gia ụng Nam ỏ khỏc l
nhng vớ d thnh cụng cho vic s dng u ói ti chớnh cú nh hng c th.
Nhng quc gia ny u a ra nhng u ói cho FDI vo nhng "ngnh cụng
nghip mi nhn"
4
. Singapore ban hnh Lut Khuyn khớch M rng Kinh t
5
,
cho phộp gim 90% thu ca cỏc khon li nhun t hot ng xut khu, ng
thi hon thu co cỏc chi phớ liờn quan n sn xut hng xut khu. Cng trong
nm ny, Philipines cng xỏc nh mt danh sỏch hn ch cỏc "ngnh cụng
nghip u tiờn" v ban hnh Lut Khuyn khớch u t vi mt loi cỏc bin
phỏp min thu nhp khu, gim thu thu nhp doanh nghip, v ba nm sau ú
ban hnh Lut Khuyn khớch Xut khu m rng nhng u ói dnh riờng cho
FDI sn xut hng xut khu
6
. cnh tranh vi cỏc nc lỏng ging, Malaysia
ban hnh Lut Khuyn khớch u t nm 1968 vi cỏc bin phỏp u ói dnh
cho u t vo khu vc s dng nhiu lao ng v sn xut hng xut khu.
Thailand cng "nhp cuc" sau ú bng Lut Khuyn khớch u t Cụng nghip
(theo bỏo cỏo ca Charlton, 2003).
Cho n thp k 80 v 90 thỡ nhng u ói ti chớnh cú nh hng cho
mt s ngnh cụng nghip c th, hoc khu vc s dng nhiu lao ng, sn xut
hng xut khu c a ra bi tt c cỏc nc ASEAN. Thc t ú lm tng

gửi thu cho chủ tịch hãng này là John Smith, với hứa hẹn ưu đãi gồm 8 năm miễn
giảm thuế; 5% miễn giảm cho tất cả các khoản thuế mà GM có thể phải trả trong
thời gian sau đó; miễn giảm với nhập khẩu toàn bộ máy móc thiết bị, và một
khoản trợ cấp đáng kể về đào tạo 5.000 lao động cho nhà máy. Cuối cùng, GM
quyết định đầu tư vào Thailand vì chính phủ nước này hứa hẹn những điều khoản
tương tự, cộng thêm với hoàn 100% thuế nhập khẩu nguyên liệu thô, và một
khoản trợ cấp trị giá 15 triệu $ cho việc thành lập một trung tâm đào tạo và
nghiên cứu của GM tại nước này (theo tài liệu của Fletcher, 1996).
Như vậy, dù ưu đãi tài chính chỉ là một trong số các biện pháp khuyến
khích đầu tư nhưng sự gia tăng cạnh tranh giữa các nước đang phát triển trong
thu hút FDI làm cho những ưu đãi này trở nên phổ biến và đa dạng về phạm vi,
mức độ ưu đãi và tính thể chế hóa của ưu đãi. Bên cạnh những quy định ưu đãi
đã được thể chế hóa thành luật, cạnh tranh thu hút FDI bằng những ưu đãi tài
chính còn được thực hiện bởi các quyết định ưu đãi từ cấp lãnh đạo chính trị tối
cao, và là nguyên nhân dẫn đến những sửa đổi pháp lý nhằm tăng sức hút với nhà
nhà đầu tư nước ngoài.
20
2. Thu hỳt s tham gia ca u t t nhõn vo ci thin iu kin c s h
tng.
C s h tng c xem xột trờn khớa cnh: mc sn cú, cht lng h
tng, v chi phớ s dng h tng l yu t quan trng i vi tng trng kinh t.
Nhng yu t ny cng l thnh phn quan trng ca mụi trng u t, v vỡ
vy cú ý ngha quan trng i vi kh nng thu hỳt FDI. Khi cõn nhc quyt nh
u t, c s h tng l mt trong nhng yu t u tiờn m cỏc TNC quan tõm vỡ
nú nh hng trc tip n chi phớ hot ng kinh doanh ti quc gia s ti v c
chi phớ liờn kt dch v
7
. Nhiu nh nghiờn cu ó chng t tm quan trng ca
c s h tng i vi cỏc nh u t nc ngoi (xem thờm bỏo cỏo ca Loree v
Guisingerr, 1995; hoc Mody v Srinivasan, 1996).

công cộng vẫn là cơ bản và cần thiết, đặc biệt là trong xây dựng công trình giao
thông, để cải thiện môi trường đầu tư trong bối cảnh cạnh tranh thu hút đầu tư
nước ngoài đang ngày càng gay gắt như hiện nay.
3. Thu hút FDI thông qua các cơ quan tổ chức xúc tiến đầu tư.
Từ đầu thập kỷ 1990, thành lập các cơ quan xúc tiến đầu tư đã trở thành
một bộ phận quan trọng trong hệ thống chính sách thu hút FDI của hầu hết các
quốc gia. Đến thời điểm hiện nay, không có thống kê cụ thể về số lượng các cơ
quan xúc tiến đầu tư. Theo thống kê sơ bộ của UNCTAD, đến cuối năm 2001, có
ít nhất 160 cơ quan xúc tiến đầu tư quốc gia và khoảng 250 các tổ chức thuộc
một số địa phương tham gia tích cực vào xúc tiến đầu tư (xem thêm trong báo
cáo UNCTAD, 2001). Thông thường, các tổ chức xúc tiến đầu tư thực hiện gồm
bốn mục tiêu gồm (i) tạo cơ hội đầu tư; (ii) tư vấn về chính sách; (iii) cung cấp
các dịch vụ hỗ trợ cho nhà đầu tư; và (iv) xây dựng hình ảnh quốc gia. Để đạt
được những mục tiêu này, các tổ chức xúc tiến đầu tư trên thế giới thường lựa
chọn thực hiện các hoạt động sau đây:
- Quảng cáo hình ảnh, thông tin đầu tư trên các phương tiện thích hợp;
- Tham gia vào các triển lãm, hội thảo đầu tư ở các cấp độ khác nhau;
22
- Tổ chức các đoàn làm việc xúc tiến đầu tư, tìm hiểu cơ hội đầu tư, tìm
hiểu đối tác;
- Cung cấp thông tin theo yêu cầu của các nhà đầu tư tiềm năng;
- Thực hiện các cuộc vận động, quảng bá cơ hội đầu tư trong nước;
- Cung cấp các dịch vụ cần thiết cho các nhà đầu tư, đặc biệt trong giai
đoạn tìm hiểu và thiết kế tiền khả thi;
- Cung cấp các dịch vụ tư vấn, hỗ trợ "sau đầu tư".
Tuy vào giai đoạn cụ thể mà một tổ chức xúc tiến đầu tư có thể ưu tiên các
nguồn lực cho một trong số bốn mục tiêu kể trên. Theo kinh nghiệm của nhiều cơ
quan xúc tiến đầu tư như Cơ quan Xúc tiến Đầu tư Malaysia (MIDA), ủy ban
Điều phối Đầu tư Indonesia (BKPM), Hội đồng Phát triển Kinh tế Singapore
(EDB), hay Hội đồng Đầu tư Thái Lan (BOI), trong giai đoạn hoạt động ban đầu

Cải thiện môi trường đầu tư, giảm thiểu thủ tục hành chính là một nỗ lực
phổ biến và có lẽ là quan trọng nhất là chính phủ các nước trong thu hút FDI.
Phản ứng về chính sách của hầu hết các nước trong giai đoạn sụt giảm FDI 2001
- 2003 là tiếp tục đưa ra những biện pháp cụ thể nhằm cải thiện môi trường đầu
tư. Tính trung bình trong giai đoạn 1991 - 2004, khoảng 87% những thay đổi về
chính sách do các quốc gia thực hiện có chiều hướng thuận lợi hơn cho FDI .
Trong năm 2004, trong tổng số 271 thay đổi chính sách thực hiện bởi 102
nền kinh tế/lãnh thổ trên thế giới, có đến 235 thay đổi chính sách theo hướng có
lợi ích các nhà đầu tư nước ngoài - Algeria, Cộng hoà Congo, Hy Lạp, Ghana,
Madagascar, Mauritania, Mauritus, Senegal, Tanzania, và Uganda thực hiện
những biện pháp đơn giản hoá các quy định về quản lý và cấp phép đầu tư;
Nigeria cho phép các ngân hàng nước ngoài được phép mua lại cổ phần và sát
nhập với các ngân hàng trong nước; Cộng hoà Congo, và Tanzania giảm thuế
24
chuyển lợi nhuận ra nước ngoài. Hy lạp ban lãnh đạo luật chống độc quyền nhằm
cải thiện điều kiện cạnh tranh thị trường.
Bảng 1. Thay đổi chính sách thu hút FDI, 1991 - 2004
Năm Số quốc gia
Số thay đổi chính sách
Tổng số Cải thiện Xấu đi
1991 34 82 80 2
1992 43 79 79 0
1993 57 102 101 1
1994 49 110 108 2
1995 64 112 106 6
1996 65 114 98 16
1997 76 151 135 16
1998 60 145 136 9
1999 63 140 131 9
2000 69 150 147 3


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status