ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------------------
NGUYỄN THỊ THU THỦY
VẬN DỤNG QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ
HỢP VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC
LƯỢNG SẢN XUẤT TRONG VIỆC XÂY DỰNG NỀN
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA Ở VIỆT NAM.
Chuyên ngành
Mã số
: Triết học
: 60.22.80
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
TS. ĐINH CẢNH NHẠC
HÀ NỘI - 2008
LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành Luận văn tốt nghiệp này, trước hết em xin chân thành cảm
ơn các thầy cô giáo trong Khoa Triết học – Trường Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn cũng như toàn thể các thầy cô giáo khác ngoài khoa đã dạy dỗ và
dìu dắt nhiệt tình trong suốt thời gian em học tập, nghiên cứu tại Khoa, tại
CNTB
: Chủ nghĩa tư bản
TBCN
: Tư bản chủ nghĩa
LLSX
: Lực lượng sản xuất
QHSX
: Quan hệ sản xuất
CNH
: Công nghiệp hóa
HĐH
: Hiện đại hóa
BCH
: Ban chấp hành
TW
cách nhanh nhất nhưng lại không để yếu tố thị trường làm chệch định hướng
CNXH? Ngược lại, phải hoạch định đường lối như thế nào để không lặp lại những
sai lầm cũ về cơ chế tập trung, quan liêu và bao cấp cản trở phát triển của nền kinh
tế thị trường?
3
Hơn 20 năm đổi mới cũng đồng nghĩa với việc từng bước xây dựng nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN, chúng ta đã có nhiều thành tựu đáng kể:
kinh tế có bước tăng trưởng khá, yếu tố thị trường của nền kinh tế ngày càng rõ
hơn; vấn đề sở hữu ngày càng đi vào chiều sâu; năng lực quản lý nền kinh tế tỏ ra
năng động và hiệu quả hơn; phân phối sản phẩm cũng như nhiều quan hệ xã hội
khác hợp lý hơn; năng lực của các thành phần kinh tế đang phát huy hiệu quả; nội
lực nền kinh tế và kinh tế đối ngoại diễn ra rất năng động; nhiều nước trên thế giới
đã và sẽ công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường… Nhưng mặt khác, như
Đại hội IX và Đại hội X của Đảng đã nhận định nguy cơ chệch hướng XHCN vẫn
tiềm ẩn và diễn biến phức tạp. Nền kinh tế thị trường mà chúng ta xây dựng lại
đang rơi vào giai đoạn khó khăn của sự suy thoái kinh tế toàn cầu; hàng ngàn
doanh nghiệp vừa và nhỏ và ngay cả một số tập đoàn kinh tế có nguy cơ phá sản
trong tương lai gần; tình trạng gia tăng thất nghiệp, bỏ việc của hàng loạt công
chức và lao động là hiện tượng chưa từng có kể từ ngày đổi mới cho đến nay; đời
sống của nhân dân đang nghèo đi trông thấy và có nhiều diễn biến phức tạp với
tâm tư lo lắng và niềm tin suy giảm. Sự nghiệp phát triển kinh tế càng triển khai
bao nhiêu, chúng ta càng phải giải quyết nhiều vấn đề mới và phức tạp bấy nhiêu.
Phát triển nền kinh tế thị trường nhưng phải định hướng XHCN, trong đó không
chỉ là sự khác nhau, ngược lại không loại trừ mâu thuẫn, đối lập. Mục tiêu của
cuộc cách mạng trong lĩnh vực kinh tế mà chúng ta đang tiến hành là cơ sở bảo
đảm thực hiện trong thực tế lý tưởng: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh” nhưng trên thực tế, nước ta vẫn thuộc nhóm quốc gia nghèo
Từ trình bày trên cho thấy, việc vận dụng có hiệu quả quy luật QHSX phù
hợp với trình độ phát triển của LLSX vào trong sự nghiệp phát triển nền kinh tế
của nước ta trở thành vấn đề rất bức thiết. Việc nhận thức và phát triển sáng tạo di
sản kinh điển đó của chủ nghĩa Mác – Lênin, làm giàu thêm tiềm năng của quy
luật QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX - quy luật cốt lõi của hệ
thống các quy luật của chủ nghĩa duy vật lịch sử và vận dụng sáng tạo quy luật đó
nhằm đưa nền kinh tế nước ta tiếp tục phát triển trở thành một vấn đề bức xúc hơn
bao giờ hết.
5
Thực tiễn đã xác nhận, khi nào Đảng ta tôn trọng và nâng cao hiệu quả vận
dụng các quy luật của chủ nghĩa Mác – Lênin nói chung, quy luật QHSX phù hợp
với trình độ phát triển của LLSX nói riêng thì khi đó kinh tế xã hội giành được
thành tựu to lớn. Ngược lại, khi nào các nguyên lý, các quy luật của chủ nghĩa
Mác – Lênin không được vận dụng triệt để, sáng tạo trong việc đề ra các quyết
định về kinh tế xã hội thì thành quả của cách mạng bị hạn chế.
Xuất phát từ ý nghĩa và tầm quan trọng của vấn đề nêu trên, chúng tôi chọn
vấn đề: “Vận dụng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất trong việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam” làm đề tài luận văn của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Sự vận dụng quy luật QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX
trong việc đề ra và thực hiện đường lối đổi mới kinh tế - xây dựng nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN là một vấn đề mới cả về lý luận và thực tiễn. Đây là
một đề tài quan trọng, hấp dẫn nhưng cũng rất khó. Vì thế, từ trước đến nay đó có
nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu.
Một số cuốn sách gần đây được xuất bản đề cập đến vấn đề này nhưng lại
viết ở tầm vĩ mô hoặc đi sâu vào phân tích việc phát triển các thành phần kinh tế
riêng biệt, phát triển kinh tế gắn liền với đảm bảo công bằng xã hội như:
triển trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Từ đó, phân tích, đưa ra các
điều kiện để đảm bảo cho sự vận hành và phát triển nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN ở Việt Nam.
“ Quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng từ năm 1986 đến nay” của
các tác giả: GS. TS. Tô Huy Rứa, GS. TS. Hoàng Chí Bảo, PGS. TS. Trần Khắc
Viện, PGS. TS. Lê Ngọc Tùng (đồng chủ biên) (2008), Nxb. Chính trị quốc gia,
Hà Nội. Cuốn sách phân tích quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng về mô
hình kinh tế ở nước ta và quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng về cơ cấu kinh
tế và cơ chế quản lý kinh tế.
“Quan hệ sản xuất trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa” của GS. Lê Xuân Tùng (2008), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. GS Lê
Xuân Tùng đã phân tích một số vấn đề về QHSX trong thời kỳ đổi mới và phân
tích về kinh tế thị trường – sự thực hiện về kinh tế quyền sở hữu...
7
Ngoài ra còn có một số bài báo viết về xây dựng nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN ở Việt Nam; xây dựng QHSX mới và cơ chế quản lý mới trong
điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta; Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở
Việt Nam thực trạng và giải pháp; giữ vững định hướng XHCN trong nền kinh tế
thị trường ở nước ta hiện nay... trên các báo tạp chí Triết học, tạp chí Cộng sản,
tạp chí Kinh tế...
Luận án tiến sĩ triết học liên quan đến vấn đề này có:
“Tính biện chứng của chính sách kinh tế mới của V. I. Lênin và ý nghĩa
của nó đối với công cuộc đổi mới hiện nay ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Ngọc
Thành đề cập đến việc phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần trong thời
kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam thông qua việc phân tích chính sách kinh tế mới
của V.I. Lênin.
“Sự vận dụng phép biện chứng duy vật của Đảng ta trong giai đoạn đổi
định hướng XHCN ở Việt Nam.
- Trình bày sự vận dụng quy luật này, chỉ ra những cái được và chưa được
trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN hơn 20
năm đổi mới vừa qua.
- Trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao năng lực
vận dụng quy luật này trong giai đoạn hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vận dụng quy luật QHSX phù hợp
với trình độ phát triển của LLSX của Đảng ta trong quá trình chuyển nền kinh tế
kế hoạch hoá tập trung, bao cấp sang phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định
hướng XHCN.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là sự vận dụng quy luật QHSX phù hợp
với trình độ phát triển của LLSX của Đảng ta trong việc đề ra và tiến hành đường
lối đổi mới kinh tế - xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt
Nam.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
9
Cơ sở lý luận nghiên cứu đề tài là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng Cộng sản
Việt Nam thể hiện qua các văn kiện Đại hội Đảng.
Phương pháp nghiên cứu sử dụng trong luận văn là phương pháp lôgíc và
lịch sử, phương pháp hệ thống cấu trúc, phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh.
6. Đóng góp của luận văn
Luận văn góp phần làm rõ hơn cơ sở lý luận và thực tiễn của sự vận dụng
quy luật QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX trong việc xây dựng
nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam, chỉ ra những cái được và
* Lực lượng sản xuất và các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất
Thuật ngữ “Lực lượng sản xuất” lần đầu tiên được C. Mác nêu trong tác
phẩm “Hệ tư tưởng Đức” (1846). Nội dung của khái niệm được ông phát biểu sâu
sắc thêm trong các tác phẩm: “Sự khốn cùng của triết học” (1847), “Lao động làm
thuê và tư bản” (1849) và đặc biệt là trong bộ “Tư bản”. Mác nêu rõ nội hàm của
khái niệm LLSX qua những yếu tố cấu thành, đó là người lao động và tư liệu sản
xuất. Các yếu tố này tác động với nhau thúc đẩy sự phát triển sản xuất, làm cho
LLSX luôn thay đổi. Từ đó, LLSX được hiểu là kết quả của năng lực thực tiễn của
con người trong quá trình sản xuất tạo ra của cải xã hội.
Hiện nay, có rất nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm LLSX, nhưng
đều thống nhất ở việc nêu lên nội dung cơ bản của khái niệm gồm những yếu tố
sau:
LLSX biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, là kết quả năng
lực thực tiễn của con người trong quá trình chinh phục tự nhiên.
LLSX là một thể thống nhất hữu cơ gồm yếu tố con người và tư liệu sản
xuất. Trong đó, con người là chủ thể tích cực, sáng tạo và sử dụng các phương
tiện, công cụ để tác động vào tự nhiên tạo ra những vật phẩm cần thiết cho xã hội.
Đây chính là nội dung cơ bản nhất của khái niệm LLSX.
11
LLSX được phát triển không ngừng trong quá trình sản xuất xã hội.
Từ đó có thể chỉ ra nội dung có tính chất tổng hợp của khái niệm LLSX
như sau: LLSX là biểu hiện trình độ chinh phục tự nhiên của con người, là kết quả
năng lực thực tiễn của con người trong từng giai đoạn lịch sử nhất định, là một thể
thống nhất hữu cơ giữa yếu tố con người và tư liệu sản xuất, trong đó con người là
chủ thể tích cực và sáng tạo với trí tuệ là chủ đạo, có tri thức khoa học và kỹ thuật,
trình độ chuyên môn, kỹ năng và những kinh nghiệm, thói quen, biết chế tạo và sử
dụng các phương tiện lao động tác động vào các đối tượng của tự nhiên, cải tạo
tác động của lao động con người một hoặc vài lần. Đối tượng lao động là nguyên
liệu. Nguyên liệu này có thể là cơ sở tự nhiên chủ yếu của sản phẩm đã được sản
xuất ra. Mác phân biệt hai loại đối tượng này như sau: “Mọi nguyên liệu đều là
đối tượng. Nhưng không phải mọi đối tượng đều là nguyên liệu, đối tượng lao
động chỉ trở thành nguyên liệu sau khi đã trải qua một sự biến đổi nào đó do lao
động gây ra”[65, tr 232].
Như vậy, chúng ta có thể hiểu đối tượng lao động chính là những thứ mà
con người sử dụng công cụ lao động tác động vào nó, biến nó thành những sản
phẩm hữu ích. Nó có thể có sẵn trong tự nhiên như đất, nước, cây rừng…Song
phần lớn do con người tạo ra dưới dạng nguyên vật liệu - sản phẩm của quá trình
chế biến như sắt, thép, các loại nhựa hoá học…
Tư liệu lao động chính là khâu trung gian của người lao động và đối tượng
lao động. Mác định nghĩa tư liệu lao động như sau:
“Tư liệu lao động là một vật, hay là toàn bộ những vật mà đặt ở giữa họ và
đối tượng lao động và được họ lấy làm vật truyền dẫn hoạt động của họ vào đối
tượng ấy” [65, tr 232].
Theo nghĩa đó, tư liệu lao động gồm: công cụ sản xuất, ví dụ như: máy
móc, dụng cụ thủ công…chúng cấu thành hệ xương và hệ cơ của nền sản xuất;
các yếu tố phục vụ trực tiếp sản xuất hoặc gián tiếp quá trình sản xuất ví dụ như:
đất đai trong công nghiệp, nhà cửa dùng cho sản xuất, các công trình xây dựng,
các sông đào, đường xá, bến bãi…(còn gọi là cơ sở hạ tầng của sản xuất); các đồ
dùng để chứa đựng, bảo quản nguyên vật liệu và sản phẩm làm ra như: kho, bể
chứa, thùng, chậu… Những thứ này đã cấu thành hệ huyết quản của nền sản xuất.
13
Thứ hai là người lao động: Người lao động chính là nguồn cung cấp sức
lao động (tổng hợp thể lực và trí lực) là chủ thể của lao động sản xuất. Quá trình
lao động chính là quá trình con người sử dụng công cụ lao động để tác động vào
của các sinh vật, hiện tượng của thế giới khách quan, sử dụng chúng làm phương
tiện sản xuất, không ngừng sáng tạo ra cho mình những LLSX ngày càng lớn
mạnh, tinh vi, con người đã biến những phần vật chất do tự nhiên cung cấp thành
“khí quan nhân tạo” của mình để nhận thức sâu hơn, xa hơn, bản chất hơn cả lĩnh
vực vi mô cũng như vĩ mô của tự nhiên. Đây cũng chính là đặc trưng lao động
sáng tạo của con người mà thế giới động vật không thể nào có được. Con người
chính là động vật biết chế tạo công cụ lao động. Con người không chỉ quyết định
sự ra đời của công cụ lao động mà còn quyết định cả quá trình vận hành chúng.
Máy móc, công cụ dù có hiện đại, tinh vi đến đâu đi chăng nữa, nhưng nếu không
có con người sử dụng, vận hành thì cũng trở thành vô ích, sẽ giống như trạng thái
“nguyên thuỷ” của chúng mà thôi.
Công cụ lao động được coi là yếu tố động của LLSX. Nó luôn luôn được
cải tiến cho phù hợp với điều kiện mới, không ngừng được sáng tạo ra và chính sự
phát triển của công cụ lao động đã tạo nên nhiều biến chuyển kỳ diệu trong nền
sản xuất xã hội.
Công cụ lao động càng tình vi, điều đó chứng tỏ con người càng hiện đại
càng tách xa thế giới tự nhiên.
Công cụ lao động là yếu tố quan trọng không thể thiếu được trong quá trình
sản xuất, là thước đo trình độ chinh phục tự nhiên của con người, dấu ấn của nó đã
để lại trên tất cả mọi chặng đường lịch sử - xã hội.
Như vậy, các yếu tố hợp thành LLSX có quan hệ chặt chẽ với nhau trong
quá trình sản xuất, trong đó người lao động là yếu tố giữ vai trò quyết định còn tư
liệu sản xuất giữ vai trò quan trọng.
Ngoài những khái niệm đã nêu trên, khi nói về LLSX chúng ta không thể
không nói đến khái niệm về trình độ phát triển và tính chất của LLSX.
Trình độ phát triển của LLSX là tổng hợp trình độ phát triển của các yếu tố
hợp thành LLSX trong đó trình độ của công cụ lao động và trình độ kiến thức (văn
hoá, khoa học - kỹ thuật, chuyên môn, nghiệp vụ…), kỹ năng của người lao động
có ý nghĩa quyết định nhất. Trình độ công cụ lao động, trình độ hiểu biết và kỹ
của bản thân sự sản xuất xã hội.
16
Khái niệm QHSX là khái niệm để chỉ mối quan hệ giữa người với người
trong quá trình sản xuất, phân phối, lưu thông (trao đổi) và tiêu dùng. Sở dĩ quá
trình sản xuất có thể đưa ra một cách bình thường chính là vì trong sự sản xuất đó,
mối quan hệ giữa con người với con người tồn tại thống nhất với mối quan hệ con
người với tự nhiên.
Trong sản xuất, mối quan hệ giữa con người với tự nhiên thể hiện thành
những trình độ khác nhau của LLSX. Tuy nhiên, mối quan hệ đó được xây dựng
và thông qua những quan hệ khác nhau giữa người và người, tức là trong QHSX.
Mác đã viết “Trong sản xuất, người ta không chỉ quan hệ với giới tự nhiên. Người
ta không thể sản xuất được nếu không kết hợp với nhau theo một cách nào đó để
hoạt động chung và để trao đổi hoạt động với nhau; Muốn sản xuất được, người ta
phải có những mối quan hệ nhất định với nhau; và quan hệ của họ với giới tự
nhiên, tức là việc sản xuất”.
Như vậy, QHSX là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất,
sản xuất và tái sản xuất xã hội, được thể hiện ở ba mặt: quan hệ sở hữu đối với tư
liệu sản xuất; quan hệ tổ chức và quản lý quá trình sản xuất và quan hệ phân phối
kết quả sản xuất.
Với tính cách là những quan hệ kinh tế khách quan, không phụ thuộc vào ý
muốn chủ quan của con người, QHSX là quan hệ mang tính vật chất trong đời
sống xã hội, Mác trong thư gửi P. V. Annencốp, ngày 28 tháng chạp năm 1846
viết: “Xã hội - bất cứ dưới hình thức nào là gì? Nó là sản phẩm của sự tác động
lẫn nhau giữa người với người. Người ta có được tự do lựa chọn hình thức này
hay hình thức kia của xã hội được không? Hoàn toàn không, hãy giả dụ một trình
độ phát triển nhất định của LLSX trao đổi và tiêu thụ và ông sẽ có một chế độ xã
hội nhất định, một tổ chức nhất định của gia đình, của đẳng cấp hay giai cấp, nói
Ngược lại, sở hữu công cộng là loại hình sở hữu mà tư liệu sản xuất thuộc
về mọi thành viên của mỗi cộng đồng. Trên cơ sở đó về mặt nguyên tắc, các thành
viên của mỗi cộng đồng bình đẳng với nhau trong tổ chức lao động và trong phân
phối sản phẩm. Quan hệ tương trợ giúp đỡ lẫn nhau. C. Mác và Ph. Ăngghen đã
chứng minh rằng chế độ TBCN không phải là hình thức sở hữu cuối cùng mà
CNXH dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, dù sớm hay muộn cũng sẽ
đóng vai trò phủ định đối với chế độ tư hữu.
18
Như vậy, cho đến nay trong lịch sử phát triển xã hội loài người đã có 2 hình
thức sở hữu tư liệu sản xuất là công hữu và tư hữu. Mỗi hình thức đều có vai trò
lịch sử của nó, nhưng nói chung tư hữu hay công hữu đều là những hình thức của
hoạt động sản xuất vật chất của con người và là những quan hệ kinh tế hiện thực
giữa người với người trong xã hội.
Muốn xét sự tiến bộ của mỗi hình thức sở hữu, phải xem các hình thức sở
hữu đó có phù hợp với LLSX hiện có hay không, có tạo cho LLSX phát triển hay
không. Chúng ta không thể nói chế độ tư hữu là không tiến bộ nếu nó tạo địa bàn
cho sự phát triển của LLSX. Thực tế, lịch sử đã chỉ ra giá trị của cơ sở lý luận này,
khi tính chất và trình độ của LLSX còn lạc hậu mà áp dụng ngay QHSX tiên tiến
cũng sẽ không tạo điều kiện cho LLSX phát triển trái lại còn kìm hãm nó.
Trình độ và tính chất của LLSX xét trên phạm vi quốc gia hay quốc tế đều
không đều nhau. Giữa các ngành sản xuất khác nhau trong cùng một ngành mà ở
những nơi khác nhau thì trình độ và tính chất của LLSX đạt được cũng khác nhau.
Nếu áp dụng hình thức sở hữu duy nhất cho những LLSX là không hợp lý. Tuy
nhiên, cũng cần phải có chế độ, chính sách rõ ràng để xác định một chủ thể sở hữu
và sử dụng đối với những tư liệu sản xuất nhất định. Đây chính là cơ sở quan
trọng để phát huy trình tự chủ về quản lý, tổ chức trong quá trình sản xuất.
Cùng với quan hệ sở hữu thì quan hệ về mặt tổ chức và quản lý sản xuất là
chịu ảnh hưởng của chúng. Vì vậy, việc thực hiện QHSX phải đi cả bằng con
đường xã hội chứ không phải chỉ đi bằng con đường kinh tế. Chúng ta có thể
chứng minh một cách dễ dàng rằng: quan hệ phân phối không chỉ là quan hệ kinh
tế mà nó còn là quan hệ mang tính xã hội sâu sắc giữa những con người. Nếu
không có công bằng xã hội trong quan hệ phân phối thì cũng không thể hoàn thiện
được cả mặt kinh tế của QHSX và do đó cũng không thể hoàn thiện được toàn xã
hội.
* Biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
LLSX và QHSX luôn luôn tác động qua lại lẫn nhau để hình thành nên
phương thức sản xuất. Trong mối quan hệ đó, LLSX là yếu tố động, là nội dung
quyết định QHSX, còn QHSX là yếu tố tương đối ổn định, là hình thức biểu hiện
và có tác động trở lại LLSX. Sự tác động lẫn nhau giữa QHSX và LLSX biểu hiện
mối quan hệ mang tính chất biện chứng. Quan hệ này biểu hiện thành quy luật cơ
20
bản nhất của sự vận động của đời sống xã hội - quy luật QHSX phù hợp với trình
độ phát triển của LLSX.
Trong những tác phẩm của mình C. Mác và Ph. Ăngghen không bao giờ
coi những tư tưởng của các ông như một hệ thống khép kín, bất di bất dịch mà
luôn phát triển những tư tưởng mới dựa trên những nguyên lý chung và phù hợp
với điều kiện hoàn cảnh thực tế. Bản thân các ông cũng thừa nhận còn có những
vấn đề chưa thể khái quát được do những điều kiện lịch sử chưa chín muồi và
không đủ thời gian.
Mặc dù C.Mác là người đầu tiên phát hiện ra sự phù hợp của QHSX với
trình độ phát triển của LLSX, nêu bật được tầm quan trọng của nó đối với đời
sống xã hội, nhưng trong các tác phẩm của mình chưa lần nào C.Mác gọi sự “phù
hợp” giữa QHSX với trình độ phát triển của LLSX là quy luật.
Sự phù hợp giữa QHSX với trình độ phát triển của LLSX sau này, vào năm
LLSX: trình độ LLSX thủ công, LLSX mang tính cá thể và QHSX là chiếm hữu
tư nhân về tư liệu sản xuất (tư hữu). Ví dụ như ở thời kỳ phong kiến, nô lệ; trình
độ LLSX công nghiệp mang tính chất xã hội hoá cao, tương ứng QHSX sẽ là sở
hữu xã hội về tư liệu sản xuất như xã hội tư bản chủ nghĩa.
Bên cạnh khái niệm trình độ của LLSX còn có khái niệm tính chất của
LLSX. Chính Ph. Ăngghen đã sử dụng khái niệm này để phân tích LLSX trong
các phương thức sản xuất khác nhau. Khi sản xuất ở trình độ sử dụng các công cụ
lao động thủ công thì LLSX mang tính chất cá nhân là chủ yếu. Còn khi nền sản
xuất được thực hiện với các máy móc hiện đại thì sẽ mang tính chuyên môn hoá,
có sự hợp tác rộng rãi. Thật vậy, như chúng ta đã biết tính chất cá nhân của lịch sử
sản xuất xuất hiện từ phương thức sản xuất cộng sản nguyên thuỷ, chiếm hữu nô
lệ đến phương thức sản xuất phong kiến. Còn khi CNTB hình thành và phát triển
thì người lao động có sự hợp tác với nhau trong sản xuất, sản phẩm lao động làm
ra là sản phẩm lao động của nhiều người trong một dây chuyền nhất định, lúc đó
mới xuất hiện tính chất xã hội hoá của LLSX.
Ngày nay, khi quá trình CNH, HĐH tin học hoá đã được xác lập ngày càng
phát triển thì tính chất xã hội hoá của LLSX ngày càng cao, mỗi người lao động
chỉ sản xuất một bộ phận, làm một khâu trong quá trình sản xuất. Do đó, mà năng
22
suất, chất lượng sản phẩm ngày càng cao. Như vậy, để có được tính chất tập thể,
tính chất xã hội hoá của lịch sử sản xuất, loài người đã phải trải qua thời kỳ lịch sử
lâu dài nhờ sự sáng tạo và đúc rút kinh nghiệm không ngừng của mỗi thế hệ.
Trong đó, kinh nghiệm sản xuất của thế hệ trước là cơ sở và điều kiện để thế hệ
sau kế thừa và phát huy. Dĩ nhiên là phải loại bỏ những yếu tố của cái cũ không
cần thiết, lưu giữ phát huy cái cũ phù hợp và bổ sung thêm nhằm xây dựng cho hệ
thống của cái mới hoàn chỉnh hơn. Đây chính là quá trình khách quan mà mỗi
nước bắt buộc phải trải qua, tự điều chỉnh vận dụng cho phù hợp với điều kiện
đường, tạo ra địa bàn rộng lớn cho LLSX phát triển.
Hai là, khi LLSX nói riêng và sản xuất xã hội nói chung phát triển thì nó
làm cho năng suất lao động tăng lên, của cải dồi dào. Tuy nhiên, năng suất lao
động mới chỉ là điều kiện cần, chưa thể là điều kiện đủ. Năng suất lao động tự nó
chưa hẳn đã đem lại cho người lao động mức sống cao và cuộc sống hạnh phúc
một cách tương ứng. Do đó, sự phù hợp của QHSX với trình độ phát triển của
LLSX ở đây là phải làm cho người lao động đảm bảo được cuộc sống và nâng cao
được cuộc sống, làm cho người lao động nỗ lực, say mê làm việc, kích thích và
khai thác được yếu tố năng động, sáng tạo của họ.
Ba là, sự phù hợp của QHSX với LLSX còn thể hiện ở QHSX ấy phải tạo
nên những hình thức thực hiện tốt nhất cho quá trình tái sản xuất mở rộng.
Bốn là, sự phù hợp của QHSX với LLSX phải là sự phù hợp giữa ba mặt
của QHSX: quan hệ sở hữu, quan hệ tổ chức, quản lý và quan hệ phân phối. Ba
mặt này tương hỗ, bổ trợ cho nhau cùng phát triển.
Như vậy, sự phù hợp của QHSX với trình độ phát triển của LLSX là
nguyên lý cơ bản của sự phát triển sản xuất vật chất. Nhưng cũng như mọi sự phát
triển, sự phát triển này là một quá trình có mâu thuẫn. Vì thế, QHSX không thể
phù hợp một cách thường xuyên với LLSX đang phát triển. LLSX là yếu tố
thường xuyên biến đổi do khoa học - kỹ thuật thay đổi không ngừng. QHSX
thường biến đổi chậm hơn, trở nên lạc hậu so với LLSX. Sự phát triển của LLSX
đến một trình độ nhất định làm cho QHSX cũ không còn phù hợp nữa, trở thành
yếu tố kìm hãm sự phát triển khi đó sẽ xảy ra một cuộc cách mạng, xoá bỏ QHSX
cũ xác lập QHSX mới tiến bộ hơn và một phương thức sản xuất mới ra đời. Điều
này là một quy luật.
24