Tìm hiểu khái niệm hoạt động ngân hàng theo luật TCTD với khái niệm dịch vụ tài chính theo quan điểm WTO - Pdf 33

BÀI LÀM

A.

LỜI MỞ ĐẦU
Trong quá trình phát triển của xã hội loài người, khi sản phẩm hàng hóa phát

triển thì kéo theo sự hình thành và phát triển của các quan hệ thương mại giữa các
khu vực, giữa các quốc gia sử dụng các đồng tiền khác nhau. Việc mua bán hàng hóa
giữa các khu vực, các quốc gia sử dụng đồng tiền khác nhau dẫn đến nhu cầu đổi
tiền. Từ đó xuất hiện những người làm nghề đổi tiền. Sau dần dần họ thực hiện thêm
các dịch vụ khác như nhận tiền gửi, cho vay...Cùng với sự phát triển của nghề đổi
tiền và các dịch vụ kinh doanh tiền tệ cũng phát triển trở thành một nghề kinh doanh
và được gọi là nghề ngân hàng. Và khi xã hội ngày càng phát triển, thu nhập của
người dân được nâng cao nhu cầu của con người tăng lên. Từ đó mà nhiều dịch vụ
đã hình thành và phát triển đáp ứng nhu cầu của con người: dịch vụ vận tải hàng
không, các dịch vụ tài chính, dịch vụ vận tải biển... Trong đó dịch vụ tài chính là
một trong những dịch vụ có sức ảnh hưởng lớn và rất thiết yếu đối với mỗi người
dân như: dịch vụ thanh toán, dịch vụ chuyển tiền, dịch vụ quản lý tài sản, các dòng
sản phẩm của bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ... Những thành tựu khoa học công
nghệ, trang thiết bị tiên tiến đã góp phần phát triển và nâng cao chất lượng của các
ngành thương mại dịch vụ để đáp ứng tốt nhất nhu cầu ngày càng cao của công
chúng.
Như vậy, khái niệm ngân hàng cũng như những hoạt động của ngân hàng và
các dịch vụ tài chính nói riêng, các thương mại dịch vụ nói chung đã rất phổ biến
trên thế giới, song không phải ai cũng đã có một lượng kiến thức về chúng. Trong
khuôn khổ bài viết này, em xin lựa chọn đề tài: “Tìm hiểu khái niệm hoạt động ngân
hàng theo luật TCTD với khái niệm dịch vụ tài chính theo quan điểm WTO” để tìm
hiểu, nghiên cứu sâu hơn về khái niệm hoạt động ngân hàng cũng như dịch vụ tài
chính.


của TCTD với khách hàng trên cơ sở thỏa thuận tiền gửi và lãi tiền gửi.
 Về hình thức: nhận tiền gửi được thể hiện dưới dạng sổ tiết kiệm, chứng

chỉ tiền gửi, hợp đồng tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận
tiền khác theo thỏa thuận.
 Phân loại: + căn cứ theo kỳ hạn:


Tiền gửi không kỳ hạn( tiền gửi thanh toán): là loại tiền gửi
được khách hàng gửi vào các tổ chức tín dụng để thực hiện
các khoản chi trả, thanh toán. Thông thường khách hàng gửi
loại tiền gửi này có thể rút bất cứ lúc nào nên sẽ không được
trả lãi hoặc được trả lãi suất rất thấp. Và đối với loại tiền gửi
này, khách hàng được sử dụng các công cụ thanh toán để chi
trả như séc, ủy nhiệm chi và các lệnh chi khác.
2




Tiền gửi có kì hạn: là loại tiền gửi mà khách hàng gửi vào tổ
chức tín dụng trên cơ sở có sự thỏa thuận với tổ chức tín
dụng nhận tiền về thời gian rút tiền. Đối với mỗi loại kì hạn
thì áp dụng một mức lãi suất tương ứng trên nguyên tắc kì
hạn dài, lãi suất càng cao.

+ Căn cứ vào mục đích gửi tiền:
* Tiền gửi tiết kiệm: là loại tiền gửi chỉ dành cho cá nhân, nó là khoản
tiền để dành của các cá nhân chứ không phải để thanh toán, nó được kí gửi vào tổ
chức tín dụng nhằm quản lí cất giữ hộ hoặc để hưởng lãi theo định kì.

- Hoạt động tín dụng là hoạt động có độ rủi ro cao, hậu quả của rủi ro mang tính
phản ứng dây chuyền, vì vậy mà hoạt động tín dụng được đặt trong hành lang pháp lí
chặt chẽ với những điều khoản đặc biệt nhằm hạn chế tới mức thấp nhất những rủi
ro.
- Các chủ thể cấp vốn được cấp tín dụng cho các tổ chức, cá nhân dưới các hình
thức: cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và
các nghiệp vụ cấp dín dụng khác.
+ Cho vay:
Theo khoản 16 Điều 4 Luật TCTD: Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo
đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng
vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc
có hoàn trả cả gốc và lãi.
Bên cho vay được quyền cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn thông qua
hợp đồng tín dụng nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh và đời
sống( phải tuân thủ theo nguyên tắc và quy chế pháp lí về cho vay).
 Hình thức cấp tín dụng này phải được thực hiện bằng văn bản gọi là

hợp đồng tín dụng.
 Chủ thể tham gia hoạt động cho vay:

* Bên cho vay: phải được Nhà nước cho phép hoạt động ngân hàng có đủ điều
kiện hoạt động tín dụng theo quy định của pháp luật. Nếu khoản vay là ngoại tệ thì
doanh nghiệp phải có giấy đăng kí kinh doanh ngoại hối.

4


* Bên vay: có thể là tổ chức hoặc cá nhân, phải có năng lực pháp luật và năng
lực hành vi; có mục đích sử dụng nguồn vay hợp pháp; có phương án sử dụng vốn
vay khả thi.

giá được mua bán.
 Luật áp dụng: do hoạt động chiết khất vừa là nghiệp vụ mua bán giấy tờ

có giá, đồng thời còn là một nghiệp vụ tín dụng nên hoạt động này
ngoài việc tuân thủ các quy tắc chung về hợp đồng mua bán giấy tờ có
giá còn phải chịu sự điều chỉnh hoạt động của pháp luật ngân hàng.
+ Cho thuê tài chính:
Điều 113 Luật TCTD:
5


“Hoạt động cho thuê tài chính là việc cấp tín dụng trung hạn, dài hạn trên cơ sở
hợp đồng cho thuê tài chính và phải có một trong các điều kiện sau đây:
1. Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được nhận chuyển quyền
sở hữu tài sản cho thuê hoặc tiếp tục thuê theo thỏa thuận của hai bên;
2. Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được quyền ưu tiên mua
tài sản cho thuê theo giá danh nghĩa thấp hơn giá trị thực tế của tài sản cho thuê tại
thời điểm mua lại;
3. Thời hạn cho thuê một tài sản phải ít nhất bằng 60% thời gian cần thiết để khấu
hao tài sản cho thuê đó;
4. Tổng số tiền thuê một tài sản quy định tại hợp đồng cho thuê tài chính ít nhất
phải bằng giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng”
Như vậy, hoạt động cho thuê tài chính là 1 loại hoạt động được ký kết giữa bên cho
thuê và bên thuê về một giao dịch cho thuê tài chính.
 Hình thức: bao giờ cũng thể hiện bằng văn bản, tuân thủ các quy định của

pháp luật.
 Chủ thể tham gia:



bao thanh toán.



Bên được bao thanh toán:tổ chức kinh tế Việt Nam và tổ chức kinh
tế nước ngoài cung ứng hàng hóa và được thụ hưởng các khoản phải
thu.

 Đối tượng: khoản thu phải được xác định là khoản tiền bê bán hàng được phép

thu từ bên mua hàng theo hợp đồng mua, bán nhưng người mua chưa đến hạn
phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán.
 Hình thức: thể hiện bằng văn bản, hợp đồng.

+ Bảo lãnh ngân hàng :
Khoản18 Điều 4 Luật TCTD: “Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo
đó tổ chức tín dụng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực
hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc
thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả
cho tổ chức tín dụng theo thỏa thuận.”
 Hình thức cho hoạt động bảo lãnh ngân hàng phải được thể hiện dưới dạng

văn bản. Tạo lập hai hợp đồng: hợp đồng dịch vụ bảo lãnh và hợp đồng bảo
lãnh/ cam kết bảo lãnh
 Đây là giao dịch “kép.”
 Bản chất pháp lí: là loại giao dịch thương mại (hành vi thương mại) đặc thù.
 Chủ thể:

7


c. Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản là việc cung ứng phương tiện thanh
toán; thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm
thu, thẻ ngân hàng, thư tín dụng và các dịch vụ thanh toán khác cho khách hàng
thông qua tài khoản của khách hàng.
Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản là hình thức thanh toán qua các
trung gian. Việc chi trả không tiến hành trực tiếp giữa người chi trả với người thụ
hưởng mà thông qua việc ủy nhiệm cho các tổ chức trung gian thực hiện ( ngân
hàng, kho bạc nhà nước...) Tại đây, tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán theo yêu

8


cầu của người thụ hưởng thu hộ số tiền mà người thụ hưởng được hưởng, việc chi
trả hộ hoặc thu hộ tiền như vậy mang tính chất là một loại dịch vụ.
Đối với dịch vụ thanh toán trong nước thực hiện bằng các thể thức thanh toán
như: séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thư tín dụng và thẻ ngân hàng. Đối với dịch vụ
thanh toán quốc tế thực hiện bằng các thể thức thanh toán như: thanh toán bằng thư
tín dụng, bằng séc thanh toán quốc tế, ủy nhiệm chi quốc tế, ủy nhiệm thu quốc tế,
bằng thẻ quốc tế và các thể thức thanh toán khác.
2. Đặc điểm của hoạt động ngân hàng:

Từ những quy định của pháp luật về hoạt động ngân hàng, ta có thể thấy hoạt
động ngân hàng có những đặc điểm sau:
-

Đối tượng của hoạt động ngân hàng là tiền tệ.

Như đã trình bày ở trên, nguyên nhân dẫn đến ra đời nghề ngân hàng đó chính là
nhu cầu đổi tiền trong quá trình phát triển của xã hội loài người. Tiền tệ là vật trung
gian trong trao đổi hàng hóa, thực hiện chức năng phương tiện thanh toán. Theo quy

lãi suất và cách thức cũng khác hẳn so với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Lãi suất ở đây thể hiện giá cả của khoản tiền mà ngân hàng đòi hỏi người vay phải
trả khi tạm thời trao quyền sử dụng tiền của mình cho người khác. Khi sử dụng
khoản vay vào trong quá trình sản xuất - kinh doanh, người đi vay vốn sẽ thu được
lợi nhuận và một phần lợi nhuận đó được trả cho ngân hàng, phần lợi nhuận này là
giá cả quyền sử dụng khoản vay, hay còn gọi là lãi suất.
-

Hoạt động ngân hàng là loại hình kinh doanh có tính chất dài hạn, thường
xuyên diễn ra chu trình luân chuyển vốn.

Tín dụng ngân hàng tồn tại và phát triển trong quá trinh tuần hoàn và chu chuyển
tiền tệ đáp ứng cho nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của xã hội. Trong quá trình này,
ngân hàng giúp cho các doanh nghiệp rút ngắn được thời gian tích lũy vốn, mở rộng
đầu tư và phát triển sản xuất thông qua việc cấp vốn đầu tư cho các dự án trung, dài
hạn... Song quá trình này còn làm cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng có tính
chất dài hạn,thường xuyên diễn ra tích lũy vốn, sử dụng vốn, luân chuyển vốn từ các
nguồn đã huy động được.
-

Hoạt động ngân hàng chịu sự điều chỉnh chặt chẽ của pháp luật và giám sát
nghiêm ngặt của Nhà nước.

10


Đặc thù này là hệ quả tất yếu của các đặc thù đã nêu trên. Nó xuất phát từ môi
trường kinh doanh của ngân hàng mà các yếu tố nội tại đã phát sinh yêu cầu cần phải
quản lí các ngân hàng và hoạt động ngân hàng bằng một hệ thuống pháp luật đầy đủ,
bằng việc thực hiện cơ chế thanh tra, kiểm tra, giám sát nghiêm ngặt.

ngân hàng đặc biệt là NHTM thiếu tính đồng bộ, phối hợp mà vẫn mang tính " tự đột
phá cá nhân", ngoài mục tiêu là lợi nhuận nhằm phục vụ lợi ích của cổ đông nhiều
hơn là mục đích tăng trưởng tín dụng kích thích nền kinh tế phát triển.
Hoạt động Ngân hàng của Việt nam trong thời gian qua còn hạn chế bởi rủi
ro. Rủi ro tín dụng, Rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá hối đoái, Rủi ro thanh toán, Rủi ro do
thừa vốn, Rủi ro do thiếu vốn...
Mặc dù thời gian gần đây, ngân hàng đã tăng lãi suất nhưng vẫn có tình trạng
lạm phát và đã áp dụng linh hoạt mức lãi suất cho mỗi loại hình vay. Tuy nhiên ta
thấy, dù rằng hệ thống ngân hàng đang ngày càng phát triển và tiến bộ hơn nhưng
bên cạnh đó vẫn còn nhiều bất cập dẫn đến những rủi ro hơn trong hoạt động kinh
doanh của hệ thống ngân hàng Việt Nam.
Về mặt pháp luật :
Mặc dù Luật TCTD 2010 đã bắt đầu xây dựng nền tảng pháp lí quan trọng cho
hoanh động ngân hàng trong nền kinh tế hiện nay, đã sửa đổi bổ sung, nhưng do
nhiều nguyên nhân khác nhau, một số quy định trong đạo luật này vẫn thể hiện
những rào cản đối với quá trình tự do hóa, công khai, minh bạch hóa hoạt động ngân
hàng. Các quy định của pháp luật về hoạt động ngân hàng vẫn còn thể hiện tư duy
quản lý hành chính cứng nhắc, thiếu sự linh hoạt cần thiết. Để thực thi các quy định
hiện hành về hoạt động ngân hàng, cả phía chính quyền và phía doang nghiệp đều
phải mất khá nhiều thời gian và chi phí cho việc làm thủ tục thẩm định hồ sơ và cấp
giấy phép thành lập, hoạt động ngân hàng.
Đề hạn chế những rủi ro cũng như hạn chế trên, em xin đưa ra một số
biện pháp giải quyết những rủi ro và hạn chế trên:

12


-

Xây dựng chính sách tín dụng hợp lý và thực hiện tốt quy trình quản lý tín

hoạt động của hệ thống ngân hàng bằng chính sách vĩ mô, công cụ về lãi suất
và các chính sách khác mạnh mẽ hơn và quyết liệt hơn. Có như vậy hoạt động
ngân hàng mới phát triển cạnh tranh lại với ngân hàng nước ngoài được Chính
phủ cho phép hoạt động tại Việt Nam.

13


-

Cần sửa đổi các quy định về cho thuê tài chính hiện hành theo hướng mở rộng
đối tượng cho thuê tài chính, bao gồm cả động sản và bất động sản để phù hợp
với thông lệ quốc tế về giao dịch cho thuê.

II. Khái niệm dịch vụ tài chính theo quan điểm WTO:
1. Định nghĩa dịch vụ tài chính:

Dịch vụ tài chính( Financial Services) được xem là một hệ thống cấu thành
của loại hình dịch vụ mang tính chất thương mại hay loại dịch vụ kinh doanh có tính
chất thị trường bao gồm: dịch vụ ngân hàng, dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ chứng
khoán, tư vấn đầu tư… Tuy thuật ngữ này đã được sử dụng khá phổ biến trên thế
giới nhưng hiện nay chưa có một định nghĩa chính xác thống nhất nào về dịch vụ tài
chính.
Năm 1997 các nước thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO đã ký
kết một thoả thuận về dịch vụ tài chính như là một phần trong hiệp định chung về
thương mại dịch vụ (GATS) của WTO đã thừa nhận: một dịch vụ tài chính (DVTC)
là bất kỳ dịch vụ nào có tính chất tài chính, được một nhà cung cấp dịch vụ tài chính
cung cấp. Dịch vụ tài chính bao gồm mọi dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan đến
bảo hiểm, mọi dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác (ngoại trừ bảo hiểm).
Ngay cả trong hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) hiện chưa có

đồng kỳ hạn (futures) hoặc hợp đồng chọn (options) ;
- các sản phẩm dựa trên tỷ giá hối đoái và lãi suất, gồm các sản phẩm như
hoán vụ (swarps), hợp đồng tỷ giá kỳ hạn;
- chứng khoán có thể chuyển nhượng;
15


-các công cụ có thể chuyển nhượng khác và tài sản tài chính, kể cả kim khí
quý.
(xi) Tham gia vào việc phát hành mọi loại chứng khoán, kể cả bảo lãnh phát hành và
chào bán như đại lý ( dù công khai hoặc theo thỏa thuận riêng) và cung cấp dịch vụ
liên quan tới việc phát hành đó;
(xii) Môi giới tiền tệ;
(xiii) Quản lý tài sản , như tiền mặt hoặc quản lý danh mục đầu tư , mọi hình thức
quản lý đầu tư tập thể, quản lý quỹ hưu trí, dịch vụ bảo quản, lưu giữ và tín thác;
(xiv) Các dịch vụ thanh toán và quyết toán tài sản tài chính, bao gồm chứng khoán,
các sản phẩm tài chính phái sinh và các công cụ thanh toán khác;
(xv) Cung cấp và chuyển thông tin về tài chính, xử lý dữ liệu tài chính và phần mềm
liên quan của các nhà cung cấp dịch vụ tài chính khác;
....( theo phụ lục Phụ lục về các dịch vụ tài chính trong Hiệp định chung về thương
mại dịch vụ GATS)
Như vậy, mặc dù có một danh mục các dịch vụ tài chính rất chi tiết trong GATS
nhưng cho tới nay chúng vẫn chưa bao gồm hết các dịch vụ tài chính có thể xảy ra
trong thực tế.
2. Một số hiểu biết về dịch vụ tài chính theo quan điểm WTO:

2.1. Các chủ thể tham gia trên thị trường DVTC.
a. Đối với chủ thể cung cấp dịch vụ tài chính.
Cung cấp các loại dịch vụ tài chính là các doanh nghiệp tài chính hoạt động trên các
lĩnh vực ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, tư vấn đầu tư… chủ thể này hoạt động

chiến lược cạnh tranh thị trường cũng như biểu hiện chất lượng cao của dịch vụ.
Vấn đề chi phí là căn cứ quan trọng để xác định giá dịch vụ của các doanh nghiệp tài
chính. Chi phí để cung cấp một đơn vị dịch vụ là mức giá thấp nhất có thể chấp nhận
đối với nhà cung cấp trong dài hạn. Điều này tuỳ thụôc vào tình hình cạnh tranh trên
17


thị trường và cơ chế quản lý giá dịch vụ tài chính của Nhà nước cũng như lợi thế của
dịch vụ cung cấp mà hình thành chiến lược định giá khác nhau để thu hút khách
hàng.
Như vậy, giá cả DVTC cần linh hoạt, phù hợp với cung cầu về DVTC trên thị
trường. Giá cả có sức cạnh tranh cao trên cơ sở chi phí để sản xuất và quản lý dịch
vụ thấp là điều kiện để sản phẩm DVTC phát triển và có sức cạnh tranh.
2.3. Sự can thiệp của nhà nước đối với sự ổn định và phát triển của các
dịch vụ tài chính.
Trong quá trình phát triển của các dịch vụ tài chính, sự can thiệp của nhà nước
là rất cần thiết nhằm tạo môi trường kinh doanh lành mạnh giảm thiểu những tiêu
cực có thể phát sinh trong giao dịch tài chính mang lại sự ổn định chung cho toàn thị
trường. Để thanh tra, kiểm tra, giám sát các hoạt động của các tổ chức tài chính để
ngăn ngừa những hành vi kinh doanh phi pháp (rửa tiền, ăn cắp thông tin, giành giật
khách hàng một cách bất hợp pháp phá vỡ những nguyên tắc kinh doanh.. ) các nước
cần phải thông qua những bộ luật chế định cho hoạt động của các doanh nghiệp tài
chính như luật ngân hàng, luật bảo hiểm, luật chứng khoán, luật kế toán – kiểm toán;
Luật hối phiếu, luật séc cũng như luật cạnh, luật chống rửa tiền...
Bên cạnh đó, những chính sách liên quan đến hoạt động tài chính – tiền tệ như
lãi suất, tỉ giá, thuế… cũng cần được Nhà nước vận dụng linh hoat tạo cơ chế kiểm
soát các dòng vốn trên thị trường một cách hiệu quả.
Như vậy, theo quan điểm của WTO, nhà nước các quốc gia phải có sự can
thiệp nhất định vào trong các dịch vụ tài chính để kiểm tra, giám sát để hạn chế
những vi phạm trong kinh doanh và ngày càng ổn định và phát triển các dịch vụ tài

Một mặt, nó loại bỏ dần hàng rào bảo hộ các quốc gia, tạo môi trường cạnh tranh
trên thị trường làm cho giá thành sử dụng loại hình dịch vụ này giảm đáng kể, tạo
điều kiện thu hút nguồn đầu tư nước ngoài qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế... Sự
đa dạng, phong phú của các loại dịch vụ tài chính đã giúp cho nhà đầu tư có nhiều cơ
hội lựa chọn nhằm phân tán rủi ro trong kinh doanh. Mặt khác, việc mở cửa thị
trường dịch vụ tài chính cũng tạo ra những khó khăn, đối với nhiều nước đang phát
triển.
-

Dịch vụ tài chính góp phần thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế.

19


Sự phát triển của dịch vụ tài chính đã tạo nhịp cầu kết nối với các dòng vốn quốc
tế một cách nhanh chóng trong tiến trình hội nhập. Ngoài những hình thức của đầu
tư trực tiếp như: liên doanh, liên kết, mua cổ phần….dịch vụ tài chính còn tạo điều
kiện để thúc đẩy các dòng vốn đầu tư gián tiếp thông qua các dịch vụ chứng
khoán….Từ đó mà các dịch vụ tài chính đã phát sinh mạnh mẽ để đáp ứng nhu cầu
khách hàng từ thanh toán, bảo lành, đồng tài trợ, thuê mua đến hối đoái.
4. Thực trạng về khái niệm dịch vụ tài chính theo quan điểm WTO và giải

pháp hoàn thiện:
Việc bố trí phân ngành trên cho thấy ngoài 2 nhóm ngành khác cụ thể là dịch
vụ ngân hàng và dịch vụ bảo hiểm, sự có mặt của “các dịch vụ tài chính khác” đã
cho thấy tính đa dạng, phong phú và phức tạp của dịch vụ tài chính. Đồng thời nói
lên cách phân ngành mang tính chất mở của WTO nghĩa là: bất kỳ dịch vụ nào đang
tồn tại hoặc các dịch vụ mới sẽ xuất hiện trong tương lai dù không được liệt kê trong
danh mục WTO cũng sẽ thuộc phạm vi điều chỉnh của GATS nếu những dịch vụ này
được cung cấp trên cơ sở thương mại. Điều này nhằm tạo cơ hội dễ dàng cho các

để hợp nhập hiệu quả trong lĩnh vực tài chính, thúc đẩy các chính sách vĩ mô nâng
cao hiệu quả vừa tạo cơ hội để các doanh nghiệp tài chính vươn ra thế giới.
Tuy nhiên, việc mở cửa thị trường này dễ dẫn đến một số bất lợi nếu doanh
nghiệp tài chính trong nước chưa đủ lực, bối cảnh cạnh tranh làm cho những phân
khúc thị trường sẽ gay gắt và ẩn chứa nhiều rủi ro hơn…Vì vậy, sẽ là cần thiết nếu
quá trình quốc tế hóa DVTC được thực hiện thận trọng, về trình tự cải cách và lộ
trình mở cửa, phù hợp với tình hình ở mỗi quốc gia.
Ngoài ra, để góp phần giúp cho việc đánh giá hiệu quả các hoạt động tài chính trên
thị trường đồng thời góp phần giảm những rủi ro có thể phát sinh trong quá trình đầu
tư tài chính thì các dịch vụ kế toán – kiểm toán và tư vấn tài chính cũng có thể xem
là một bộ phận phụ trợ quan trọng của thị trường dịch vụ tài chính.
21


Theo phụ lục về dịch vụ tài chính thì các chính phủ có toàn quyền áp dụng các
biện pháp phòng ngừa, chẳng hạn để bảo vệ các nhà đầu tư, người gửi tiền và người
mua bảo hiểm, để đảm bảo tính thống nhất và ổn định của hệ thống tài chính.
III. Mối quan hệ giữa hoạt động ngân hàng trong Luật TCTD với dịch vụ tài
chính theo quan điểm WTO:
Theo như đã phân tích ở trên, hoạt động ngân hàng theo Luật TCTD 2010 thì chỉ
cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây:
- Nhận tiền gửi ( một hình thức huy động vốn)
- Cấp tín dụng: cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo
lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác
- Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản là hình thức thanh toán qua các
trung gian. Thể thức thanh toán như: séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thư tín dụng
và thẻ ngân hàng hay thanh toán bằng thư tín dụng, bằng séc thanh toán quốc tế, ủy
nhiệm chi quốc tế, ủy nhiệm thu quốc tế, bằng thẻ quốc tế và các thể thức thanh toán
khác
Còn dịch vụ tài chính bao gồm:

Dịch vụ tài chính theo quan điểm WTO mở rộng hơn rất nhiều so với hoạt
động ngân hàng của Luật TCTD về lĩnh vực, chủ thể, đối tượng...Lĩnh vực dịch vụ
của dịch vụ tài chính ở đây không chỉ còn là dịch vụ ngân hàng nữa mà là dịch vụ
bảo hiểm, các dịch vụ tài chính khác. Hơn nữa, Việt Nam cũng có Cam kết về các
dịch vụ tài chính khi gia nhập WTO thì những quy định của pháp luật Việt Nam
cũng phải thực hiện theo nguyên tắc áp dụng trong WTO.
* Cam kết của Việt Nam về các dịch vụ tài chính khi gia nhập WTO ở các phân
ngành dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ chứng khoán và dịch vụ ngân hàng. Nhìn chung
các cam kết của Việt Nam về dịch vụ tài chính này đều rất chặt chẽ, phù hợp với
pháp luật Việt nam, có tác động tích cực đối với cạnh tranh, thúc đẩy sự phát triển
của ngành bảo hiểm, chứng khoán và ngân hàng ở Việt Nam. Với mức độ tự do hóa
23


thị trường khá cao theo cam kết WTO, sẽ có nhiều tác động tới hoạt động cung cấp
dịch vụ tài chính, cụ thể:
- Cùng với việc mở cửa thị trường tạo điều kiện tăng cường trao đổi kiến thức và kỹ
năng chuyên ngành;
- Việc tham gia thị trường của những công ty bảo hiểm mới, công ty bảo hiểm nước
ngoài; các công ty chứng khoán, ngân hàng mới cũng như công ty chứng khoán và
ngân hàng nước ngoài khiến thị trường sôi động hơn, góp phần thúc đẩy năng lực
cạnh tranh của các công ty bảo hiểm trong nước.
Tuy nhiên, việc tham gia của các công ty nước ngoài vào thị trường bảo hiểm,
chứng khoán hay ngân hàng cũng có những ảnh hưởng nhất định đối với công ty
trong nước, đó là:
- Các công ty trong nước bị chia sẻ thị trường.
- Các công ty trong nước sẽ đứng trước sức ép cạnh tranh lớn với các công ty bảo
hiểm nước ngoài.
- Mức độ tập trung thị trường cao dễ dẫn đến hiện tượng thông đồng giữa các công
ty bảo hiểm lớn, ảnh hưởng tới sự cạnh tranh lành mạnh của thị trường, gây thiệt hại


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status