MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU…………………….......................................................
NỘI DUNG……………………………………………………………
I. Quan niệm về tài sản trong pháp luật một số nước……………...........
II. Những quy định pháp luật về tài sản trong BLDS năm 2005…………
1. Khái niệm tài sản……………………………………………………...
a. Vật…………………………………………………………………….
b. Tiền……………………………………………………………………
c. Giấy tờ có giá…………………………………………….....................
d. Quyền tài sản………………………………………………………….
2. Động sản và bất động sản………………………………………..........
3. Phân loại vật và chế độ pháp lý đối với vật………………...................
a. Phân loại vật…………………………………………..........................
b. Chế độ pháp lý đối với vật……………………………………………
III. Thực trạng và hướng hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến tài
sản……………………………………………………………………..
TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………….
Trang
1
2
2
3
3
4
5
6
7
8
11
sắc và đúng đắn về tài sản, từ đó hỗ trợ việc áp dụng, thực thi các quy định của pháp
luật về tài sản trong thực tiễn.
NỘI DUNG
I. Quan niệm về tài sản trong pháp luật ở một số nước
Vì tài sản là một vẫn đề quan trọng nên không chỉ ở Việt Nam mà các nước
khác trên thế giới cũng có những quy định riêng về nó. Nhưng mỗi nước có một cách
quy định khác nhau để phù hợp với tình hình kinh tế, xã hội của nước mình.
BLDS Việt Nam năm 2005 dùng phương pháp liệt kê tài sản gồm 4 loại: vật,
tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và quyền tài sản. Song song với đó, BLDS nước ta
cũng chia tài sản thành động sản và bất động sản. Nhưng việc phân chia như vậy đa
phần chỉ áp dụng đối với vật (một bộ phận của tài sản).
Còn ở BLDS năm 1804 của nước Cộng hòa Pháp, tài sản bao gồm động sản và
bất động sản (phân biệt theo tính chất), sau đó dùng phương pháp liệt kê những loại
2
tài sản nào là động sản, tài sản nào là bất động sản. Điển hình như ở Điều 517 BLDS
Pháp quy định: “ Tài sản là bất động sản do tính chất, mục đích sử dụng hoặc do đối
tượng gắn liền với tài sản”; Điều 518: “ Đất đai và các công trình xây dựng là bất
động sản do tính chất”; Điều 527: “Tài sản có thể là động sản do tính chất hoặc do
pháp luật quy định”; Điều 528: “Được coi là động sản do tính chất, động vật và
những vật có thể tự mình di chuyển từ nơi này sang nơi khác”…Như vậy, cả hai
BLDS của nước ta và Cộng hòa Pháp đều dùng phương pháp liệt kê nhưng với những
cách thức và phương pháp khác nhau.
BLDS Đức năm 1900 bằng một kỹ thuật pháp điển hóa khác với hình mẫu của
Pháp đã tách những vấn đề pháp lý chung nhất của luật dân sự để tập hợp trong
quyển I của bộ luật này mang tên phần chung, bao gồm 240 điều mà trong đó có một
chương nói về vật. Tiếp đó bộ luật này còn chứa đựng Quyển III về luật tài sản quy
đinh chi tiết các vật quyền. Tuy không có định nghĩa cụ thể về tài sản trong bộ luật
về tài sản và phân loại tài sản trong blds là cần thiết. Yêu cấu cơ bản nhất đặt ra đối
với tài sản trong BLDS là tài sản đó phải được đưa vào giao dịch. Vấn đề về tài sản
được quy định tại Điều 163 và chương XI, từ Điều 174 đến Điều 181 BLDS.
1. Khái niệm tài sản
Tài sản – với tính cách là khách thể quyền sở hữu – đã được Điều 163 BLDS
xác định như sau: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các
quyền tài sản”. Đây là cách phân loại cũng đồng thời là cách định nghĩa tài sản của
Bộ luật. Theo quy định này thì tài sản được liệt kê khép kín chỉ tồn tại ở một trong
bốn loại: Vật, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền – giấy tờ có giá, quyền tài sản.
a. Vật
Vật là bộ phận của thế giới vật chất, tồn tại khách quan mà con người có thể
cảm giác được bằng các giác quan của mình. Vật chỉ có ý nghĩa khi nó trở thành đối
tượng trong quan hệ pháp luật nên nếu bộ phận của thế giới vật chất ,à con người
không thể kiểm soát, chiếm hữu được thì cũng đồng nghĩa với việc con người không
thể tác động được vào nó. Do đó, không khí, gió, mưa thuộc về vật chất nhưng không
thể được coi là tài sản về mặt pháp lý. Hơn nữa, là đối tượng trong quan hệ pháp luật
nên vật phải đáp ứng được lợi ích của các bên chủ thể trong quan hệ. Để xác định một
vật có được coi là tài sản hay không phải đặt nó vào từng quan hệ cụ thể và ta không
thể lập luận một chiều rằng có vật là có tài sản. Như vậy, các điều kiện để vật được
coi là tài sản là:
4
Một là, vật đó phải tồn tại khách quan hoặc vật đó chắc chắn được hình thành
trong tương lai xác định được;
Hai là, vật đó con người phải chi phối được, phải kiểm soát được, phải chiếm
hữu được;
Ba là, vật đó phải xác định được giá trị thanh toán hay giá trị trao đổi, vật đó
phải khai thác được về tài sản (thương mại, dân sự, tiêu dùng), đáp ứng nhu cầu vật
chất và tinh thần của con người;
Thứ ba, vật được xác định số lượng bằng các đơn vị đo lường thông dụng còn
tiền lại được xác định số lượng thông qua mệnh giá của nó.
Thứ tư, chủ sở hữu vật được toàn quyền tiêu hủy vật thuộc quyền sở hữu của
mình còn chủ sở hữu tiền lại không được tiêu hủy tiền( không được xé, đốt, sửa chữa,
thay đổi hình dạng, kích thước, làm giả…).
Dưới góc độ kinh tế thì không có sự khác biệt cơ bản về bản chất giữa tiền mặt
và tiền trong tài khoản nhưng dưới góc độ luật dân sự thì “tiền trong tài khoản” lại
được hiểu là quyền tài sản (quyền yêu cầu) – một loại tài sản khác chứ không phải là
tiền. Trong pháp luật dân sự, tiền có tính năng đặc biệt (khác với vật) là khi chuyển
giao tiền thì bao giờ cũng chuyển giao quyền sở hữu, trừ trường hợp khi chuyển giao
ta đặc định hóa gói tiền thông qua việc nghiêm phong gói tiền lại.
Một vấn đề đáng quan tâm nữa là việc ngoại tệ có được coi là tiền theo pháp
luật dân sự Việt Nam hay không. Theo BLDS năm 1995, về mặt pháp lý, ngoại tệ
không được coi là tiền. Bởi lẽ, ngoại tệ không phải là phương tiện thanh toán đa năng
- một tính năng quan trọng nhất của tiền. Theo đó, ngoại tệ phải được coi là một loại
tài sản đặc biệt, thuộc nhóm hàng hóa hạn chế lưu thông. Chỉ những chủ thể nhất
định (ngân hàng hay các tổ chức tín dụng khác, các tổ chức có chức năng hoạt động
ngoại thương…) mới được phép xác lập giao dịch đối với nó. Với việc BLDS năm
2005 đã bỏ quy định tiền thanh toán phải là tiền Việt Nam như quy định tại BLDS
năm 1995 thì về mặt pháp lý tiền có thể được hiểu là ngoại tệ hoặc nội tệ. Tuy nhiên,
ngoại tệ là tài sản hạn chế lưu thông chứ không được lưu hành rộng rãi như tiền Việt
Nam.
c. Giấy tờ có giá
Giấy tờ có giá là loại tài sản rất phổ biến trong giao dịch dân sự hiện nay, đặc
biệt là giao dịch trong các hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác. Theo
nghĩa rộng, giấy tờ có giá nói chung, được hiểu là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ,
6
trong đó xác nhận quyền tài sản của một chủ thể nhất định (tổ chức, cá nhân) xét
đăng kí ô tô,.. không phải là giấy tờ có giá. Nếu cần phải xem xét thì đó chỉ đơn thuần
được coi là một vật và thuộc sở hữu của người đứng tên trên giấy tờ đó.
d. Quyền tài sản
Quyền tài sản, theo định nghĩa tại Điều 181 BLDS 2005 thống nhất viết tắt là
“quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao được trong giao dịch dân sự, kể
cả quyền sở hữu trí tuệ”. Theo đó thì quyền tài sản trước tiên phải được hiểu là xử sự
được phép của chủ thể mang quyền. Quyền ở đây chính là một quyền năng dân sự
chủ quan của chủ thể được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Quyền này phải trị giá được
thành tiền hay nói cách khác là tương đương với một đại lượng nhất định. Quyền tài
sản thì có rất nhiều nhưng chỉ những quyền tài sản nào có thể trở thành đối tượng
trong giao dịch dân sự thì mới được coi là tài sản tại Điều 163 BLDS 2005.
Hiện nay, pháp luật dân sự Việt Nam công nhận một số quyền tài sản là tài sản
như quyền sử dụng đất, quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên, quyền yêu cầu bồi
thường thiệt hại đối với tài sản bị xâm phạm, quyền tài sản phát sinh từ quyền tác giả,
quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với cây trồng, quyền đòi nợ, quyền được nhận
số tiền bảo hiểm đối với vật bảo hiểm đối với vật bảo đảm, quyền tài sản đối với phần
góp vốn trong doanh nghiệp, quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng (theo Điều 322
BLDS 2005). Vấn đề đặt ra là liệu có phải mọi quyền liên quan đến các đối tượng của
sở hữu trí tuệ đều được coi là quyền tài sản với tư cách một loại tài sản hay không?
Pháp luật công nhận hai nhóm quyền năng chính đối với các đối tượng của sở hữu trí
tuệ: nhóm các quyền nhân thân của tác giả và nhóm các quyền tài sản liên quan đến
việc sử dụng và thu lợi từ việc sử dụng các đối tượng đó. Trong số đó, chỉ các quyền
thuộc nhóm thứ hai mới có thể được coi là quyền tài sản: có thể định giá được bằng
tiền và có thể chuyển giao trong giao lưu dân sự.
Như vậy, tài sản – với tính cách là khách thể của quyền sở hữu, nó có thể là đối
tượng của thế giới vật chất hoặc là kết quả của các hoạt động sáng tạo tinh thần. Khái
niệm về tài sản trong BLDS 2005 mang tính chất liệt kê. Ngày nay, tài sản có thể
được hiểu là bất cứ thứ gì có giá trị nằm trong sự chiếm hữu của một chủ thể, một
2005 như sau:
“Bất động sản là các tài sản bao gồm:
- Đất đai;
- Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với
nhà, công trình xây dựng đó;
9
- Các tài sản khác gắn liền với đất đai;
- Các tài sản khác do pháp luật quy định.
Động sản là những tái sản không phải là bất động sản”.
Cũng giống như cách định nghĩa tài sản, BLDS đã sử dụng phương pháp liệt kê
để định nghĩa bất động sản. Căn cứ vào quy định đó thì hiện nay đất đai như nhà,
công trình xây dựng, cây cối, tài nguyên,… sẽ được coi là bất động sản. Tuy nhiên, ở
đây pháp luật đã liệt kê mở chứ không liệt kê khép kín như Điều 163 BLDS. Do đó,
cả những tài sản khác do pháp luật quy định cũng sẽ được coi là bất động sản. Ví dụ
như theo quy định của Luật kinh doanh bất động sản thì quyền sử dụng đất là bất
động sản.
Cách phân loại tài sản thành bất động sản và động sản là cách phân loại chủ
yếu dựa vào đặc tính vật lý của tài sản là có thể di dời được hay không thể di dời
được (một số nước còn dựa cả vào công dụng của tài sản như luật của Pháp coi cả hạt
giống, máy móc nông cụ,… là bất động sản). Cách phân loại này là tiêu chí mà hầu
hết pháp luật của các nước trên thế giới đều sử dụng bởi việc xác lập, thực hiện giao
dịch liên quan đến hai loại tài sản này rất khác nhau cần phải có quy phạm điều chỉnh
riêng đối với từng loại. Theo pháp luật dân sự Việt Nam, việc phân loại tài sản thành
bất động sản và động sản có rất nhiều ý nghĩa. Có thể liệt kê một số ý nghĩa cơ bản
sau đây:
- Xác lập thủ tục đăng kí đối với tài sản: Theo quy định tài Điều 167 BLDS thì
quyền sở hữu đối vối bất động sản được đăng kí theo quy định của BLDS và pháp
luật về đăng kí bất động sản còn quyền sở hữu đối với bất động sản thù không phải
chủ sh tài sản đó, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu.
- Xác định hình thức của hợp đồng.
Theo quy định tại Điều 467 BLDS thì hợp đồng tặng cho bất động sản phải
được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực, hoặc phải đăng kí nếu theo quy
định của pháp luật bất động sản phải đăng kí quyền sở hữu. Hoặc theo quy định tại
Điều 459 BLDS thì việc mua bán đấu bất động sản phải được lập thánh văn bản có
công chứng, chứng thực hoặc phải được đăng kí nếu pháp luật có quy định,…
- Là căn cứ để xác định thời hạn, thời hiệu và các thủ tục khác.
Ví dụ, thời hạn công bố công khai tài sản bán đấu giá chậm nhất là bảy ngày
đối với động sản, ba mươi ngày đối với bất động sản (Điều 457 BLDS); thời hạn
chuộc lại đối với tài sản đâ bán trong hợp đồng mua bán có chuộc lại đối với động
11
sản là một năm và đối với bất động sản là năm năm (Điều 462 BLDS); việc bán đấu
giá BĐS được thực hiện tại nới có bất động sản, sau khi có thông báo về việc bán đấu
giá BĐS, những người muôn mua phải đăng kí mua và phải nộp một khoản tiền đặt
trước (Điều 459 BLDS).
- Xác định phương thức kiện dân sự.
Theo Điều 257 và Điều 258 BLDS thì điều kiện để chủ sở hữu hoặc người
chiếm hữu họp pháp có quyền yêu cầu kiện đòi lại tài sản đối với động sản và bất
động sản là khác nhau. Do đó, nếu không áp dụng được phương thức kiện đòi lại tài
sản thì chủ thể sẽ phải áp dụng phương thức kiện khác như kiện yêu cầu bồi thường
thiệt hại.
- Xác định thẩm quyền của tòa án nhân dân trong việc giải quyết các tranh
chấp về tài sản cũng có sự khác nhau phụ thuộc vào tài sản đó là bất động sản hay
động sản. Theo điểm c khoản 1 Điều 35 của BLSTTDS thì “Tòa án nơi có bất động
sản có thẩm quyền giải quyết những tranh chấp về bất động sản”. Các tranh chấp về
động sản, về nguyên tắc, do Tòa án nơi cư trú hoặc nơi làm việc của bị đơn (nếu bị
đơn là cá nhân), hoặc nơi có trụ sở (nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức) giải quyết (quy
sử dụng ban đầu. Ví dụ: Xăng, dầu, gạo có thể phân chia thành nhiều phần khác nhau
nhưng vẫn giữ nguyên được tính chất và tính năng sử dụng. Vật không chia được là
vật khi bị phân chia thì không giữ nguyên được tính chất và tính năng sử dụng ban
đầu. Ví dụ: giường tủ, đồng hồ, xe máy, xe đạp,…
Việc phân loại vật thành vật chia được và vật không chia được có ý nghĩa pháp
lý sau: Những vật không chia được khi buộc phải chia thì phải trị giá bằng tiền để
chia. Người nào giữ vật phải trả cho người kia số tiền có giá trị tương đương với phần
của họ.
- Vật tiêu hao và vật không tiêu hao (Điều 178 BLDS)
Vật tiêu hao là vật khi đã qua một lần sử dụng thì mất đi hoặc không giữ được
tính chất, hình dáng và tính năng sử dụng. Ví dụ: Xi măng, vôi, cát, xăng dầu,…Vật
không tiêu hao là vật khi đã qua sử dụng nhiều lần mà cơ bản vẫn giữ được tính chất,
hình dáng và tính năng sử dụng ban đầu. Ví dụ: Nhà ở, các loại xe và máy móc, các
công cụ khác,…
Việc phân loại vật thành vật tiêu hao và vật không tiêu hao có ý nghĩa pháp lý
sau: Trong pháp lý, vật tiêu hao là những vật khi qua một lần sử dụng thì mất đi hoặc
không còn giữ nguyên được hình dáng, tính chất và tính năng sử dụng ban đầu. Nó
13
giảm trọng lượng hoặc đã biến đổi sang vật khác ở trạng thái khác. Vì vậy, tiêu hao
không thể là đối tượng của hợp đồng cho thuê hoặc hợp đồng cho mượn.
- Vật cùng loại và vật đặc định (Điều 179 BLDS)
Vật cùng loại là những vật có cùng hình dáng, tính chất, tính năng sử dụng và
xác định được bằng những đơn vị đo lường. Ví dụ: Xăng dầu cùng loại,…Vật đặc
định là vật phân biệt được với các vật khác bằng những đặc điểm riêng về kí hiệu,
hình dáng, màu sắc, chất liệu, đặc tính, vị trí,…
Việc phân loại vật thành vật tiêu hao và vật không tiêu hao có ý nghĩa pháp lý
sau: Vật cùng loại có cùng chất lượng có thể thay thế cho nhau. Theo nguyên tắc
chung, nếu vật cùng loại bị tiêu hủy có thể thay thế nó bằng vật cùng loại khác. Trong
hợp đồng cung ứng điện năng.
b. Chế độ pháp lý đối với vật
Chế độ pháp lý đối với vật là tổng hợp các quy phạm pháp luật quy định trình
tự, phương thức chuyển dịch vật.
Căn cứ vào chế độ pháp lý của vật, người ta phân chia vật theo các chế độ: Vật
cấm lưu thông, vật hạn chế lưu thông, vật tự do lưu thông.
Vật cấm lưu thông: Đó là những vật vì vai trò to lớn của nó đối với nền kinh tế
quốc dân hoặc đối với an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia,… nên Nhà nước cấm
mua bán, chuyển dịch, chuyển nhượng,… Ví dụ: Vật là vũ khí quân dụng, phương
tiện kĩ thuật quân sự,… Người nào tàng trữ, sử dụng, mua bán các loại vật cấm lưu
thông trên có thể bị truy tố và xét xử theo các tội xâm phạm an ninh quốc gia được
quy định tại các Điều 95, 96 BLHS.
Các vật trên không thể la đối tượng trong các giao lưu dân sự của công dân, tổ
chức. Việc lưu thông các loại vật này do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết
định. Chính vì vậy ma mỗi một hình thức sở hữu có một phạm vi khách thể khác
nhau.
Ngoải ra cũng cần thấy rằng, những tài sản thuộc sở hữu nhà nước theo quy
định tại Điều 200 BLDS như: Đất đai, rừng núi, sông hồ,… những tài sản này về
nguyên tắc là tài sản cấm lưu thông. Nhưng để mở rộng giao lưu dân sự trong điều
kiện nền kinh tế thị trường, riêng đối với các loại tài sản đặc biệt là đất đai, luật dân
sự và luật đất đai cho phép những người tuy không phải là chủ sở hữu trong những
điều kiện nhất định có thể có một số quyền năng theo quy định tài Phần thứ năm
BLDS.
15
- Vật hạn chế lưu thông: Bao gồm những vật có ý nghĩa quan trọng khác nhau
trong nền kinh tế quốc dân, an ninh, quốc phòng,… do đó pháp luật có những quy
định riêng. Nhà nước phải kiểm soát sự dịch chuyển các loại vật đó. Những vật này
pháp luật quy định không chỉ thuộc quyền sở hữu của Nhà nước mà còn có thể thuộc
ra hoặc có quan điểm: tài sản ảo là những đoạn mã lập trình thể hiện hình ảnh và
công dụng của một vật phẩm trong trò chơi. Và cũng có rât nhiều quan điểm nêu khái
niệm tài sản ảo theo hai nghĩa : Theo nghĩa hẹp, tài sản ảo là các đối tượng ảo trong
thế giới ảo, theo nghĩa rộng, tài sản ảo được hiểu là những tài nguyên mạng máy tính
được xác định giá trị bằng tiền và có thể chuyển giao trong các giao dịch dân sự như:
vật ảo trong trò chơi trực tuyến (vũ khí, nhân vật, mũ, áo giáp, tiền…); tên miền
mạng máy tính toàn cầu (internet), địa chỉ hộp thư điện tử; các loại tài khoản; các tài
nguyên mạng khác…
Tài sản ảo là một trong những điểm hấp dẫn nhất của trò chơi trực tuyến, đồng
thời người chơi trong khi tạo ra những giá trị cho tài sản ảo cũng phải bỏ công sức trí
tuệ, tiền bạc, thời gian, nên nếu hoàn toàn buông nổi nó cũng không hợp lý. Nhưng
vấn đề mấu chốt nằm ở chỗ, các tài sản ảo như đã nói ở trên có phải là một dạng tài
sản không? Và ai sẽ đứng ra quản lý và chịu trách nhiệm giải quyết nếu xảy ra tranh
chấp liên quan đến tài sản ảo trong trò chơi trực tuyến? Vấn đề này vẫn còn đang
tranh cãi và chưa có kết luận chính xác.
Nói về tài sản ảo trong trò chơi trực tuyến, ông Trần Thanh Hải, Phó vụ trưởng
Vụ Thương mại Điện tử - Bộ thương mại, đại diện bộ thương mại khẳng định quan
điểm coi đó là tài sản (ở dạng quyền tài sản) cần được công nhận quyền sở hữu. Ông
cho rằng tài sản ảo trong trò chơi trực tuyến là thứ có thể chiểm hữu, là kết quả của
sự đầu tư công sức và tiền bạc của người chơi, có thể định giá bằng tiền, và có thể
chuyển giao theo thỏa thuận. Chính vì thế, “tài sản trong trò chơi cần được pháp luật
bảo hộ để thuận tiện cho việc quản lý”.
Tuy nhiên, ở góc độ của nhà lập pháp, bà Nguyễn Thị Thu Vân, đại diện của
Bộ tư pháp lại có quan điểm trái ngược. Theo bà, những thứ để được gọi là tài sản
theo pháp luật Việt Nam (cụ thể là Luật dân sự gồm có “vật, tiền, giấy tờ trị giá được
bằng tiền và quyền tài sản”). Trong khi đó, tài sản ảo trong trò chơi trực tuyến là
những thứ không thể sờ mó được, không có trong thế giới thực và chỉ có giá trị trong
chính tò chơi. Cũng khác với quan điểm của ông Hải, coi tài sản ảo thuộc về người
17
chưa có ai được xác lập quyền sở hữu đối với tài sản đó. Tài sản không xác định được
ai là chủ sở hữu là tài sản mà vào thời điểm xem xét không xác định được chủ sở hữu
18
và cũng không có căn cứ chứng minh rằng chủ sở hữu đã từ bỏ quyền sở hữu đối với
tài sản đó.
Hiện nay, trong BLDS Việt Nam không đề cập các loại tài sản kể trên mà cách
phân loại này chỉ được hiểu gián tiếp thông qua các quy định về vật vố chủ, vật
không xác định được ai là chủ sở hữu, vật đánh rơi, bỏ quên, chon giấu, chìm đắm,…
mà không quy định đối với tài sản nói chung (Điều 239, 240, 241,…BLDS). Quy
định đó đã dẫn đến những cách hiểu khác nhau như sau: Trong trường hợp tiền, giấy
tờ có giá hoặc quyền tài sản mà chủ sở hữu từ bỏ quyền sở hữu của mình hoặc không
xác định được ai là chủ sở hữu thì người phát hiện có thể được xác lập quyền sở hữu
theo các điều luật hay không? Hay đối với những loại tài sản đó sẽ thuộc sở hữu nhà
nước? Có thể nói, vật vô chủ, vật không xác định được ai là chủ sở hữu là một loại tài
sản và trong trường hợp này các tài sản khác cũng vô chủ, không xác định được chủ
sở hữu cũng mang bản chất giống vậy. Do đó, đối với loại tài sản khác cũng nên áp
dụng quy định này làm căn cứ xác lập quyền sở hữu cho người phát hiện được. Chính
vì vậy, trong thời gian tới, nếu BLDS được sửa đổi, bổ sung thì những quy định đó
cũng cần phải được xem xét, sửa đổi cho phù hợp.
Vấn đề thứ ba, BLDS Việt Nam hiện nay chỉ phân loại vật thành vật chia được
và vật không chia được mà không xem xét việc chia được hay không chia được đối
với các loại tài sản khác như giấy tờ có giá và quyền tài sản. Chính vì vậy, khi cần
phải phân chia những tài sản đó sẽ dẫn đến những câu hỏi là có cần phải bán đi và
tính thành tiền để chia hay không? Trên thực tế thì trong trường hợp này nếu chia
được bằng tài sản đó thì tòa án sẽ phân chia luôn chứ không nhất thiết phải bán để
chia (ví dụ, chia quyền sử dụng đất có diện tích lớn). Hơn nữa, trong BLDS tại Điều
300 có quy định về thực hiện nghĩa vụ dân sự phân chia được theo phần như sau:
“Nghĩa vụ dân sự … khác”. Điều 301 quy định: “Nghĩa vụ dân sự … một lúc”. Vậy
khác, trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao lưu dân sự”.
Thứ hai, pháp luật cần tạo cho thị trường nhiều loại giấy tờ có giá có thể trao
đổi, mua bán song bên cạnh đó cần có những chế tài phù hợp để giải quyết tranh
chấp, đồng bộ hóa các thể chế và định chế liên quan. Pháp luật dấn sự cần có giải
thích cụ thể về giấy tờ có giá với tư cách là một loại tài sản theo hướng: Chỉ những
giấy tờ có giá vô danh, được tự do chuyển nhượng trên thị trường mới được coi là tài
sản trong giao lưu dân sự (kể cả các loại vận đơn đường biển cũng được coi là giấy tờ
có giá)
20
Thứ ba, cần bổ sung, hoàn thiện các quy định về giải quyết tranh chấp. Có thể
kể đến như: Nhận diện chính xác và đầy đủ các tranh chấp về giấy tờ có giá, kinh
doanh giấy tờ có giá và phân loại chúng. Cần xây dựng cơ chế giải quyết các tranh
chấp liên quan đến giấy tờ có giá một cách nhanh chóng, theo trình tự đơn giản và xử
lí nghiêm minh những hành vi vi phạm để loại trừ được hành vi có thể gây thiệt haị
hay xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên tham gia trong quan hệ liên quan
đến giấy tờ có giá.
Thứ tư, để giải quyết các tranh chấp liên quan đến giấy tờ có giá trong lĩnh vực
hoạt động xuất khẩu và vay nợ nước ngoài được đảm bảo, nên bổ sung Điều 5 Pháp
lệnh Trọng tài thương mại như sau: “Trong trường hợp vụ tranh chấp đã có thỏa
thuận trọng tài, nếu một bên khởi kiện tại Tòa án thì Tòa án phải từ chối thụ lý, trừ
trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc không thể thực hiện hoặc không có khả
năng thi hành”.
Thứ năm, vấn đề một tài sản trong BLDS 2005 được dùng để thế chấp đảm bảo
thực hiện nhiều nghĩa vụ nên quy định theo hướng: Không cần quy định các điều kiện
để một tài sản được dùng để thế chấp đảm bảo thực hiện nhiều nghĩa vụ; trong trường
hợp này chỉ cần quy định là “Tài sản được dùng thế chấp để đảm bảo thực hiện nhiều
nghĩa vụ, nếu các bên có thỏa thuận”.