A - LỜI MỞ ĐẦU:
Quan hệ giữa người tiêu dùng (NTD) và người cung cấp sản phẩm, dịch vụ
là một loại quan hệ dân sự. Trong mối quan hệ này, NTD thường ở vị trí yếu thế,
bởi sự hạn chế về thông tin, về kiến thức chuyên môn, về khả năng đàm phán hợp
đồng cũng như khả năng tự bảo vệ mình. Để tạo lập, gìn giữ và bảo vệ sự bình đẳng
giữa NTD và doanh nghiệp cần có sự can thiệp mạnh mẽ của pháp luật. Bảo vệ
NTD không chỉ là vấn đề của các quốc gia chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa
sang nền kinh tế thị trường, mà cũng là vấn đề thời sự của các quốc gia có nền kinh
tế thị trường phát triển.
Có thể áp dụng nhiều công cụ và phương pháp khác nhau để bảo vệ NTD.
Có các chủ thể với các chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn khác nhau có thể tham
gia bảo vệ NTD. Trong đó Hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đóng một vai trò
hết sức quan trọng trong việc xây dựng, bảo vệ và phát huy hiệu lực của pháp luật
bảo vệ NTD một cách có hiệu quả. Trong phạm vi bài luận này, chúng ta cùng tìm
hiểu: “Vai trò của Hội bảo vệ người tiêu dùng trong việc bảo vệ người tiêu dùng ở
Việt Nam”.
1
B – NỘI DUNG:
I - QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC HỘI BẢO VỆ
NGƯỜI TIÊU DÙNG Ở VIỆT NAM:
Cuối những năm 80, cùng với việc thành lập các hội liên hiệp khoa học và kỹ
thuật, dưới sự chỉ đạo của Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà Nước (nay là Bộ
Khoa học và Công nghệ), một số cán bộ hoạt động hoặc có quan hệ trực tiếp đến
công tác tiêu chuẩn hóa, đo lường, chất lượng đã bàn bạc để thành lập một tổ chức
nghề nghiệp của mình. Ngày 2/5/1988 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết
định số 131 CT về phê chuẩn việc thành lập Hội khoa học kỹ thuật về tiêu chuẩn
hóa, đo lường chất lượng Việt Nam (tên giao dich là VINASTAS).
Sau khi thành lập vài năm, hội nhận thấy công tác tiêu chuẩn hóa, đo lường,
Phản biện xã hội của các hội bảo vệ NTD bao gồm:
- Thứ nhất, phản biện về các chính sách của Nhà nước, các quy định pháp
luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền liên quan đến quyền và lợi ích của NTD,
với mục đích tạo ra một môi trường pháp lý thuận lợi cho hoạt động bảo vệ quyền
lợi NTD, làm cân bằng giữa lợi ích của doanh nghiệp với lợi ích NTD, góp phần
xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
- Thứ hai, phản biện xã hội về các hoạt động thương mại nhằm phát hiện và
đấu tranh chống các thủ đoạn, hành vi phi đạo đức trong thương mại.
b – Những hoạt động phản biện xã hội của các hội bảo vệ NTD ở Việt Nam:
* Xây dựng pháp luật bảo vệ NTD và góp ý cho những văn bản pháp luật có
liên quan:
- Đề xuất xây dựng Pháp lệnh bảo về quyền lợi NTD năm 1999 – văn bản
đầu tiên quy định trực tiếp nhằm bảo vệ quyền lợi NTD ở nước ta. Sau đó, Hội tiêu
chuẩn và bảo vệ NTD Việt Nam là cơ quan được Chính phủ giao nhiệm vụ xây
dựng dự thảo Pháp lệnh bảo vệ NTD.
3
- Năm 2008, Quốc hội đã cho phép xây dựng Luật bảo vệ quyền lợi NTD để
thay thế cho Pháp lệnh bảo vệ NTD năm 1999 cho phù hợp với tình hình mới. Hội
tiêu chuẩn và bảo vệ NTD Việt Nam đã cử người tham gia ban biên tập, tổ soạn
thảo Luật ngay từ đầu.
- VINASTAS đã tham gia ý kiến vào các văn bản pháp luật có liên quan đến
lợi ích của NTD như Luật thương mại 2005, luật cạnh tranh 2004, luật tiêu chuẩn
và quy chuẩn 2006, Luật khiếu nại, tố cáo 2008, Luật chất lượng hàng hóa 2007…
Hội cũng tham gia nhiều ý kiến trong việc định giá các sản phẩm thiết yếu trong
tiêu dùng như giá điện, giá xăng dầu, giá sữa…
- VINASTAS đã cử người tham gia vào Ủy ban tiêu chuẩn thực phẩm Việt
Nam, vào các ban kỹ thuật trong việc soạn thảo các tiêu chuẩn Nhà Nước có liên
quan đến NTD.
NTD khôn ngoan, thận trọng, có khả năng tự bảo vệ mình.
Để thực hiện vai trò giáo dục NTD, Hội bảo vệ NTD thực hiện các nội dung
sau:
-
Thứ nhất, tuyên truyền, phổ biến cho NTD biết về quyền và trách nhiệm của
mình
-
Thứ hai, giáo dục về quan điểm sống và sự chia sẻ. Việc giáo dục NTD cần
thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của phong trào NTD. Năm trụ cột của phong
trào NTD mà việc giáo dục NTD sẽ giúp cho việc thực hiện như một phần
của hệ thống giá trị được chia sẻ, đó là: chăm sóc con người, bảo vệ trái đất,
hiểu biết quyền của bạn, đấu tranh cho công lý và khám phá sức mạnh của
bạn.
-
Thứ ba, giáo dục về việc lựa chọn của NTD trên cơ sở có thông tin từ đó để
có quyết định không ngoan khi mua hàng.
5
-
Thứ tư, giáo dục NTD về việc phát triển hệ thống giá trị. Bao gồm; giá trị
của đồng tiền, giá trị con người, giá trị môi trường, giá trị dân chủ, giá trị
công lý.
bằng văn bản hoặc bằng trả lời trực tiếp. Trong trường hợp khiếu nại của người
khiếu nại là đúng thì cơ quan, cấp có thẩm quyền yêu cầu phía bị khiếu nại thực
hiện các hình thức, biện pháp để khắc phục hậu quả và phục hồi quyền lợi cho
người khiếu nại trên cơ sở của pháp luật. Mặt khác, trong trường hợp cần thiết,
nghiêm trọng, cơ quan, cấp có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đề nghị lên cơ quan
cấp trên hay cơ quan chức năng giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.
Hoạt động của các cơ quan, các cấp có thẩm quyền giải quyết khiếu nại chủ
yếu dựa trên các quan hệ pháp lý nảy sinh giữa NTD với các doanh nghiệp, các tổ
chức xã hội và cơ quan nhà nước. Bằng hoạt động của mình, các cơ quan có thẩm
quyền giải quyết khiếu nại đã làm cho việc vi phạm pháp luật được khắc phục và
hoạt động đó được tiến hành dựa trên các biện pháp thuyết phục và cưỡng chế, tùy
theo các tình huống cụ thể.
b – Một số nhận xét, đánh giá về hoạt động giải quyết khiếu nại của Hội bảo vệ
NTD ở Việt Nam:
* Thành tựu:
Sau gần 25 năm kể từ khi nền kinh tế được triển khai, công tác bảo vệ người
tiêu dùng thông qua tư vấn, giải quyết khiếu nại của các tổ chức bảo vệ người tiêu
dùng ở nước ta đã được triển khai và hoạt động hết sức tích cực. Các tổ chức bảo
vệ người tiêu dùng đã cố gắng không mệt mỏi, vượt qua nhiều khó khăn, tiến hành
nhiều hoạt động để giải quyết một cách hiệu quả khiếu nại của NTD nhằm đem lại
quyền lợi chính đáng cho họ.
Các hoạt động tư vấn, giải quyết khiếu nại của Hội bảo vệ NTD đã đóng góp
đáng kể vào sự nghiệp bảo vệ NTD nước ta. Hội tiêu chuẩn và bảo vệ NTD Việt
Nam và các hội địa phương đều có văn phòng tư vấn, khiếu nại để tiếp nhận và xử
lý khiếu nại của NTD, giúp NTD giải quyết những thiệt thòi khi mua sắm hàng hóa
và sử dụng dịch vụ. Thực tế cho thấy, trong những năm qua, số vụ khiếu nại của
7
NTD không ngừng tăng lên, tính chất của các vụ khiếu nại cũng phức tạp hơn. Điều
NTD đã đưa ra những phương thức giải quyết khiếu nại hiệu quả đem lại những kết
quả tích cực cho cả NTD và tổ chức, cá nhân cung cấp hàng hóa, dịch vụ.
* Hạn chế:
Thực trạng hoạt động của các Hội bảo vệ NTD mặc dù đã đạt được nhiều
thành tựu đáng kể nhưng tổ chức bảo vệ NTD vẫn còn gặp nhiều khó khăn, thách
thức. Chính vì thế, trong quá trình giải quyết khiếu nại của NTD, Hội còn tồn tại
nhiều hạn chế cần khắc phục.
Đối với các Hội bảo vệ NTD ở địa phương, văn phòng khiếu nại của NTD
thường được đặt ở những nơi không thuận tiện, điều kiện hoạt động còn gặp nhiều
khó khăn. Cơ sở vật chất của Hội còn yếu kém vì không có kinh phí để trang trải
dẫn đến sự thiếu hụt nhân sự trầm trọng kể cả về số lượng và chuyên môn nghiệp
vụ.
Mặt khác. Hội không phải là cơ quan nhà nước nên không có quyền hạn về
mặt Nhà nước. Vì không phải là cơ quan Nhà nước nên Hội bảo vệ NTD không có
thẩm quyền giải quyết vi phạm, mà sau khi tiếp nhận đơn thư khiếu nại của NTD,
Hội chỉ có tiếng nói mang tính chất đề xuất, kiến nghị mà không có tính quyết định.
Bởi vì vậy, nhiều khi hoạt của Hội còn mang tính hình thức, chưa góp phần xử lý vi
phạm và bảo vệ hiệu quả quyền lợi NTD. Điều đó dẫn đến nhiều người tiêu dùng
còn chưa thật sự tin tưởng vào năng lực giải quyết khiếu nại của Hội.
Qua thực tiễn tìm hiểu cho thấy, người làm công tác giải quyết khiếu nại ở
các văn phòng tư vấn giải quyết khiếu nại rất ít và kiến thức pháp luật nhìn chung
còn hạn chế nên không thể tiếp nhận và giải quyết nhiều khiếu nại cho NTD
Việc thực thi pháp luật bảo vệ NTD ở nước ta đòi hỏi một cơ chế giải quyết
khiếu nại hiệu quả. Các tổ chức bảo vệ NTD ở Việt Nam được kỳ vọng sẽ đóng vai
trò ngày càng quan trọng trong lĩnh vực này. Chính vì vậy, công tác giải quyết
khiếu nại của Hội bảo vệ NTD cần phải phát huy và làm tốt hơn nữa mới góp phần
bảo vệ tốt quyền lợi của NTD đang bị xâm phạm cũng như lợi ích của toàn bộ NTD
đang sử dụng hàng hóa, dịch vụ trên cả nước.
9
- Các tổ chức bảo vệ NTD ở cấp huyện cần được xây dựng để hoạt động bảo
vệ NTD được phát triển rộng khắp, mang lại lợi ích cho người dân vùng sâu, xa.
- Các Hội bảo vệ NTD từ trung ương đến địa phương cần có sự hợp tác, liên
kết chặt chẽ với nhau nhằm giúp đỡ nhau hoạt động, phát huy hết vai trò của mình.
- Tuyên truyền rộng rãi đến NTD về chức năng, quyền hạn của Hội bảo vệ
NTD để từ đó, NTD có cái nhìn đúng hơn về Hội bảo vệ NTD và tạo nên sự yên
tâm, tin tưởng của NTD đối với Hội bảo vệ NTD.
11
C – KẾT LUẬN:
Bảo vệ NTD là vấn đề vô cùng quan trọng góp phần bảo đảm sự phát triển
bền vững của xã hội. Bởi vậy bảo vệ NTD luôn là vấn đề được các quốc gia, các tổ
chức quốc tế quan tâm. Bảo vệ NTD không chỉ là vấn đề của các quốc gia chuyển
đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa sang nền kinh tế thị trường, mà cũng là vấn đề thời
sự của các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển. Bảo vệ NTD còn trở nên
đặc biệt phức tạp trong điều kiện toàn cầu hóa, khi mà NTD và nhà cung cấp sản
phẩm, dịch vụ không chỉ đến từ cùng một quốc gia.
Để Hội bảo vệ NTD thực sự trở thành một thiết chế quan trọng, có hiệu quả
trong việc bảo vệ quyền lợi NTD thì Chính phủ, các cơ quan Nhà nước, các tổ chức
xã hội, bản thân NTD phải thật sự quan tâm, nhận thức được tầm quan trọng của
vấn đề bảo vệ NTD. Các Hội bảo vệ NTD phải đổi mới phương thức hoạt động,
hợp tác, giúp đỡ nhau để thực hiện tốt vai trò là tổ chức đại diện cho quyền lợi
NTD trong phạm vi cả nước và ở từng địa phương.
12
3
3
3
3
2ab-
Việt Nam
Vai trò của Hội bảo vệ NTD trong việc giáo dục NTD
Nội dung công tác giáo dục NTD của Hội bảo vệ NTD
Một số kiến nghị để Hội bảo vệ NTD thực hiện tốt vai trò giáo
5
5
6
3-
dục NTD
Vai trò của Hội bảo vệ NTD trong việc giải quyết khiếu nại của
6
ab-
NTD
Nội dung công tác giải quyết khiếu nại của Hội bảo vệ NTD
Một số nhận xét, đánh giá về hoạt động giải quyết khiếu nại của
6