MỤC LỤC
A – ĐẶT VẤN ĐỀ ……………………………………………..……………1
B – NỘI DUNG CHÍNH ………………………...…………………………1
I. Thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ………………………………..1
II. Thực tiễn thi hành thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ……….7
III. Những bất cập, vướng mắc trong việc thi hành thẩm quyền xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự ……………………………………………….………….10
IV. Nguyên nhân của những bất cập, vướng mắc trên...…………………...12
V. Một số kiến nghị hoàn thiện các quy định về thẩm quyền xét xử sơ thẩm
vụ án hình sự………………………………………………………………….13
C – KẾT LUẬN. ………………………………………..………………….15
1
A – ĐẶT VẤN ĐỀ.
Như chúng ta đã biết, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một giai đoạn của
tố tụng hình sự trong đó Tòa án có thẩm quyền tiến hành xem xét, giải quyết vụ
án, ra bản án, quyết định tố tụng theo quy định của pháp luật. Trên thực tế có
nhiều vụ án xảy ra nhưng không phải bất kỳ Tòa án nào đều có thẩm quyền xét
xử tất cả các vụ án đó. Vì vậy mà pháp luật phải quy định rất cụ thể về thẩm
quyền xét xử vụ án sơ thẩm nên em xin lựa chọn đề tài“Thẩm quyền xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự” để tìm hiều rõ hơn về vấn đề này.
B – NỘI DUNG CHÍNH.
I. Thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
1. Khái niệm thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
Thẩm quyền xét xử sơ thẩm là quyền mà pháp luật quy định cho phép Tòa
án được xét xử sơ thẩm vụ án hình sự căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm
quả của chương trình quốc gia phòng chống tội phạm. Trong đó chức năng xét
xử của Tòa án đóng một vai trò quan trọng. Một vụ án hình sự được xét xử kịp
thời và nghiêm minh không chỉ đáp được nguyện vọng của quần chúng nhân dân
mà còn có tác dụng tuyên truyền, giáo dục đối với xã hội, răn đe những đối
tượng đang có ý định phạm tội.
Việc phân định thẩm quyền xét xử sơ thẩm hính sự một cách rõ rang và
hợp lý sẽ hạn chế được các tranh chấp về thẩm quyền, vụ án sẽ được giải quyết
kịp thời và chính xác hơn, đáp ứng yêu cầu đấu tranh và phòng chống tội phạm.
- Bảo đảm được quyền tự do dân chủ của công dân.
Việc phân định thẩm quyền xét xử hợp lý không chỉ tạo điều kiện cho
công dân được hưởng đầy đủ các quyền của mình theo quy định của pháp luật
một cách trực tiếp mà còn tạo điều kiện cho họ thực hiện những nghĩa vụ của
công dân. Công dân có thể được trực tiếp tham gia các phiên tòa, được sử dụng
tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình, được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
mình trước pháp luật… mặt khác họ cũng có thể thực hiện tốt các nghĩa vụ khác
của công dân như nghĩa vụ có mặt theo giấy triệu tập của các cơ quan tiến hành
tố tụng, hay khai trung thực những tình tiết mà mình biết về vụ án của người làm
chứng. Chính việc đảm bảo những quyền tự do dân chủ đó của công dân cũng
góp phần quan trọng để làm rõ sự thật của vụ án, giúp các cơ quan tiến hành tố
tụng giải quyết các vụ án một cách nhanh chóng, chính xác, bảo đảm pháp chế
xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự.
- Bảo đảm tính tiết kiệm và hiệu quả của các hoạt động tố tụng.
Trên thực tế, việc phân định hợp lý thẩm quyền xét xử sơ thẩm sẽ là tiền
đề giải quyết các vụ án hình sự một các chính xác, hiệu quả và tiết kiệm nhất.
Thứ nhất, là tiết kiệm chi phí cho hoạt động tố tụng. Hiện nay, chúng ta đang
trong công cuộc cải cách tư pháp với xu hướng tăng thẩm quyền cho các Tòa án
cấp huyện, tiến tới việc thành lập các Tòa án sơ thẩm khu vực. Với xu hướng đó
thì tất cả các loại án hình sự sẽ được xét xử sơ thẩm ở Tòa án cấp huyện hoặc
sau này là Tòa sơ thẩm khu vực. Như vậy, các hoạt động tố tụng từ điều tra, tuy
quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Do vậy,
việc điều tra, truy tố, xét xử được nhanh chóng và chính xác trước hết phải xác
định được thẩm quyền xét xử sơ thẩm đúng.
4. Thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo quy định của pháp luật tố
tụng hình sự Việt Nam hiện hành.
a. Thẩm quyền xét xử theo sự việc.
Thẩm quyền xét xử theo sự việc là sự phân định thẩm quyền xét xử giữa
Tòa án các cấp với nhau căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm.
Do TANDTC không có thẩm quyền xét xử sơ thẩm, nên thẩm quyền xét xử sơ
4
thẩm thgeo sự việc là sự phân định thẩm quyền xét xử giữa hai cấp tòa án còn
lại:
• Thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND cấp huyện và tòa án quân sự khu
vực.
Tại khoản 1 Điều 170 BLTTHS 2003 quy định: “Tòa án nhân dân cấp
huyện và Tòa án quân sự khu vực xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về những
tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng,
trừ những tội phạm sau đây:
a) Các tội xâm phạm an ninh quốc gia;
b) Các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh;
c) Các tội quy định tại các điều 93, 95, 96, 172, 216, 217, 218, 219, 221,
222, 223, 224, 225, 226, 263, 293, 294, 295, 296, 322, và 323 của Bộ luật
hình sự”.
Nếu điều luật có nhiều khoản thì TAND cấp huyện và Tòa án quân sự khu
vực có thẩm quyền xét xử các trường hợp phạm tội thuộc tội phạm ít nghiêm
trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng, trừ các tội phạm
được quy định ở các điểm a, b,c khoản 1 Điều 170 BLTTHS.
khác cấp. Nghĩa là bị cáo phạm hai tội trở lên, trong đó có tội phạm thuộc thẩm
quyền xét xử của TAND cấp huyện hoặc Tòa án quân sự khu vực và tội phạm
khác thuộc thẩm quyền xét xử của TAND cấp tỉnh hoặc Tòa án quân sự cấp
quân khu. Trong trường hợp này thì Tòa án cấp trên sẽ xét xử toàn bộ vụ án.
- Những vụ án thuộc thẩm quyền của TAND cấp huyện, Tòa án quân sự
khu vực mà mình lấy lên xét xử. TAND cấp tỉnh và Tòa án quân sự cấp quân
khu thường lấy lên xét xử những vụ án thuộc các loại sau: những vụ án phức
tạp, khó chứng minh hoặc liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành; những vụ án
mà bị cáo là thẩm phán, kiểm sát viên, sĩ quan công an, cán bộ lãnh đạo chủ chốt
ở cấp huyện, người nước ngoài, người có chức sắc cao trong tôn giáo, có uy tín
cao trong dân tộc ít người.(1)
b. Thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ.
Thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án các cấp được quy định tại Điều 171
BLTTHS 2003.
Tòa án có thẩm quyền xét xử vụ án hình sự là Tòa án nới tội phạm được
thực hiện. Trong trường hợp tội phạm được thực hiện tại nhiều nơi khác nhau
hoặc không xác định được nơi thực hiện tội phạm thì Tòa án có thẩm quyền xét
xử là Tòa án nới kết thúc việc điều tra.
Bị cáo phạm tội ở nước ngoài nếu xét xử ở Việt Nam thì do Tòa án nhân
dân cấp tỉnh nơi cư trú cuối cùng của bị cáo ở trong nước xét xử. Nếu không xác
định được nơi cư trú cuối cùng ở trong nước của bị cáo thì tùy trường hợp,
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ra quyết định giao cho Tòa án nhân dân thành
phố Hà Nội hoặc Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử.
Bị cáo phạm tội ở nước ngoài, nếu thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án
quân sự thì do Tòa án quân sự cấp quân khu trở lên xét xử theo quyết định của
Chánh án Tòa án quân sự trung ương.
Điều 172 BLTTHS 2003 quy định về thẩm quyền xét xử những tội phạm
xảy ra trên tàu bay hoặc tàu biển của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
đang hoạt động ngoài không phận hoặc lãnh hải Việt Nam thuộc thẩm quyền xét
1
- Người phạm tội không phải là các đối tượng nêu trên (dân thường, trong
mối quan hệ so sánh với các chủ thể nêu trên). Đối tượng này chỉ thuộc thẩm
quyền xét xử của Tòa án quân sự nếu phạm tội thuộc một trong các trường hợp:
+ Liên quan đến bí mật quân sự;
Bí mật quân sự là bí mật quân đội, bí mật về an ninh quốc phòng được
xác định là bí mật quân sự và được quy định trong các văn bản do các Cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền ban hành.
+ Gây thiệt hại cho quân đội.
Gây thiệt hại cho quân đội là gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tự do,
danh dự, nhân phẩm của quân nhân hoặc của những người có nghề nghiệp,
nhiệm vụ quân sự, gây thiệt hại đến tài sản của quân nhân hoặc của những người
có nghề nghiệp, nhiệm vụ quân sự được quân đội cấp phát để thực hiện nhiệm
1
Mục 1 Thông tư liên tịch số 01/2005/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BQP-BCA ngày 18/04/2005 của TANDTC,
Bộ quốc phòng, Bộ công an hướng dẫn về thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự.
7
vụ quân sự; gây thiệt hại đến tài sản, danh dự, uy tín của quân đội; (2) người đang
bị tạm giữ , tạm giam và chấp hành hình phạt tù trong nhà tạm giữ, trại tạm
giam, trại giam do quân đội quản lý mà lại tiếp tục phạm tội.
+ Cùng một vụ án , vừa có người phạm tội hoặc tội phạm thuộc thẩm quyền xét
xử của Tòa án quân sự, vừa có người phạm tội hoặc tội phạm thuộc thẩm quyền
xét xử của TAND. Trong trường hợp này, Tòa án quân sự xét xử toàn bộ vụ án
(trừ trường hợp tách vụ án).
• Đối tượng thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND.
TAND xét xử sơ thẩm những đối tượng không thuộc thẩm quyền xét xử
của Tòa án quân sự.
8
và 90% số bị cáo. Tính từ khi được giao thực hiện thẩm quyền xét xử mới về
hình sự đến 31/12/2007, các Tòa án này thụ lý 71.618 vụ án hình sự với 112.203
bị cáo (số vụ án thụ lý theo thẩm quyền mới là 16.057 vụ với 25.212 bị cáo),
giải quyết 69.706 vụ án với 107. 314 bị cáo (số vụ án giải quyết theo thẩm
quyền mới là 14.932 vụ với 23.034 bị cáo) (1).
Nhìn chung, từ khi được giao thực hiện thẩm quyền mới, số lượng các vụ
án hình sự thuộc thẩm quyền mới mà các Tòa án được tăng thẩm quyền bình
quân tăng 30 vụ/năm/Tòa án. Một số ít đơn vị có số lượng án mới tăng lên trên
100 vụ/năm tập trung chủ yếu ở các Tòa án quận thuộc thành phố Hà Nội, thành
phố Hồ Chí Minh, Hải phòng và một số đơn vị của các tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa
Vũng Tàu, Quảng Ninh, Hà Tây.
Trong những năm gần đây, mặc dù số lượng các vụ án phải thụ lý xét xử
ở cấp sơ thẩm ngày càng tăng nhưng tôc độ giải quyết tại cấp xét xử này đã
nhanh chóng hơn, lượng án tồn đọng ngày càng được hạn chế. Đặc biệt chất
lượng xét xử ngày càng được nâng cao so với thời gian trước, số lượng các vụ
án mà bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị có chiều hướng
giảm so với trước đây.
Lượng án tồn đọng tại các Tòa án cấp sơ thẩm (kể cả cấp huyện và cấp
tỉnh) hàng năm nhìn chung có xu hướng ngày càng giảm, tuy nhiên không ổn
định. Theo thống kê chung của Tòa án cấp sơ thẩm (cả cấp huyện và cấp tỉnh)
năm 2006, lượng án tồn đọng chiếm 2,40% số vụ thụ lý, giảm hơn hẳn so với
các năm trước; năm 2007 toàn ngành thụ lý61.813 vụ án theo thủ tục sơ thẩm đã
giải quyết, xét xử 60.483 vụ, số vụ còn tồn lại là 1.330, bằng 2,15%, giảm
0,15% so với năm 2006 (2). Năm 2008, toàn ngành thụ lý 64.381 vụ án, trong đó
có 63.321 vụ án mới thụ lý, 1.060 vụ án cũ còn lại, xét xử 58.449 vụ, chuyển hồ
sơ vụ án 82 vụ, đình chỉ 251 vụ, trả hồ sơ cho Viện kiểm sát 4.258 vụ, số vụ còn
tồn đọng là 1.341 vụ, bằng 2,08% số vụ đã thụ lý, giảm 0,07% so với năm 2007
2. Số lượng cán bộ, trình độ đội ngũ cán bộ và cơ sở vật chất của Tòa án
cấp huyện đã được cải thiện đáng kể.
Đội ngũ cán bộ lãnh đạo Tòa án các cấp đã được kiện toàn, bổ sung, bảo
đảm yêu cầu công tác chỉ đạo, điều hành, công tác tuyển dụng cán bộ, công chức
tạo nguốn Thẩm phán có nhiều tiến bộ, đã khắc phục được tình trạng thiếu cán
bộ lãnh đạo ở Tòa án địa phương, từng bước bảo đảm biên chế Thẩm phán, cán
bộ, công chức ngành Tòa án nhân dân. Năm 2006, các Tòa án địa phương đã
tuyển dụng mới 448 cán bộ, chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã bổ nhiệm mới
227 Thẩm phán Tòa án nhân dân địa phương. Riêng các Tòa quân sự, do có sự
phối hợp chặt chẽ và được sự quan tâm của Bộ quốc phòng nên đã thực hiện đầy
đủ biên chế cán bộ, thẩm phán.
Công tác luân chuyển, biệt phái cán bộ trong toàn ngành đã được quan
tâm và thực hiện có hiệu quả. Thường xuyên tổ chức các lớp đào tạo lại, bồ
dưỡng nghiệp vụ và tập huấn các văn bản pháp luật mới cho cán bộ, công chức
Tòa án và đội ngũ Hội thẩm nhân dân đồng thời cử nhiều cán bộ theo học các
lớp sau đại học, lý luận chính trị, ngoại ngữ.
Trong những năm gần đây, Tòa án cấp huyện đã cải thiện nhiều về cơ sở
vật chất, từ phòng xét xử, điều kiện, phương tiện đi lại đều đã được nâng cao.
Nhà nước đã cấp kinh phí để Tòa án cấp huyện tiến hành đầu tư xây dựng trụ sở,
mua sắm các trang thiết bị mới như: bàn ghế làm việc, trang bị hội trườn, máy
tính,… để đảm bảo cho hoạt động của Tòa án diễn ra thuận lợi và đạt được kết
quả cao nhất.
3. Những kết quả đạt được trong xét xử của các Tòa án quân sự.
Báo cáo tổng kết công tác ngành Tòa án quân sự năm 2010 nêu rõ, trong
năm qua ngành Tòa án quân sự đã đạt được nhiều kết quả đáng mừng như: toàn
ngành đã quán triệt đầy đủ, nghiêm túc các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng,
nghiên cứu và áp dụng đúng đắn pháp luật trong xét xử; đã xây dựng kế hoạch
triển khai thực hiện chiến lược cải cách tư pháp của ngành Tòa án quân sự và
hoàn thành xây dựng 5 đề án gồm: Đề án hoàn thiện thẩm quyền xét xử của Tòa
án quân sự theo chiến lược cải cách tư pháp; Đề án giao cho Tòa án quân sự
hiện này hiện nay đã hết hiệu lực. Do vậy, hiện nay vẫn chưa có một văn bản
nào hướng dẫn về vấn đề trên.
Việc phân định thẩm quyền xét xử giữa Tòa án nhân dân và Tòa án quân
sự chưa được quy định trong BLTTHS 2003 mà mới chỉ được quy định trong
Pháp lệnh tổ chức Tòa án quân sự, là văn bản có hiệu lực pháp lý thấp hơn. Theo
quy định tại Điều 5 Pháp lệnh tổ chức Tòa án quân sự thì nếu vụ án vừa có tội
phạm thuộc thẩm quyền xét xử cả Tòa án nhân dân, vừa có tội phạm thuộc thẩm
quyền xét xử của Tòa án quân sự thì Tòa nào xét xử tội phạm thuộc thẩm quyền
của Tòa đó. Trường hợp vụ án không tách được thì Tòa án quân sự xét xử toàn
bộ vụ án. Theo ý kiến của Thạc sỹ Trần Thị Lê Na thì quy định này mâu thuẫn
với Điều 117 BLTTHS 2003 là chỉ được tách vụ án trong những trường hợp cần
thiết, khi không thể hoàn thành sớm việc điều tra đối với tất cả các tội phạm và
11
nếu việc tách đó không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan và toàn
diện của vụ án (1).
2. Những bất cập, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật
về thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
Thứ nhất, vướng mắc trong thủ tục xác định thẩm quyền của Tòa án.
Việc tranh chấp về thẩm quyền xét xử là một trong những vướng mắc
thường gặp khi Tòa án và Viện kiểm sát không thống nhất với nhau về thẩm
quyền giải quyết vụ án. BLTTHS quy định: “Khi thấy vụ án không thuộc thẩm
quyền giải quyết của mình thì Tòa án chuyển vụ án cho Tòa án có thẩm quyền
giải quyết”. Tuy nhiên, BLTTHS không quy định và không có văn bản nào
hướng dẫn thủ tục chuyển vụ án. Vì thế, trên thực tế việc áp dụng quy định này
thiếu thống nhất, có trường hợp Tòa án chuyển trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để
Viện kiểm sát chuyển cho cấp có thẩm quyền truy tố; có Tòa lại cho Tòa án cấp
có thẩm quyền để trả cho Viện kiểm sát cùng cấp để truy tố lại,…
để tuyển dụng, bổ nhiệm làm cho việc bổ sung cán bộ, thẩm phán của các đơn vị
này gặp những khó khăn, vướng mắc nhất định.
Việc tăng thẩm quyền cho các Tòa án cấp huyện cũng cần có sự phối hợp
đồng bộ giữa các cơ quan tư pháp khác. Tuy nhiên, tại nhiều địa phương số
lượng và trình độ của Điều tra viên và Kiểm sát viên chưa đáp ứng được yêu cầu
của nhiệm vụ mới. Nhiều đơn vị còn thiếu biên chế so với chỉ tiêu được giao
nhưng việc tuyển dụng cán bộ ở những nơi này lại gặp khó khăn, nhất là các tỉnh
Tây Nam Bộ và Tây Nguyên.
Một số Tòa án nhân dân cấp huyện hiện nay vẫn chưa được sự quan tâm,
bố trí địa điểm xây dựng trụ sở làm việc đạt yêu cầu làm ảnh hưởng đến hiệu
quả công tác của Tòa án và gây không ít khó khăn cho lộ trình tăng thẩm quyền
cho các Tòa án nhân dân cấp huyện mà Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội
đề ra.
IV. Nguyên nhân của những bất cập, vướng mắc trên.
Thứ nhất, xuất phát từ chính trong những quy định pháp luật. Trong
BLTTHS hiện hành và các văn bản hướng dẫn thực hiện vẫn còn chưa đầy đủ,
có nhiều vần đề tồn tại trên thực tế vẫn chưa được đề cập đến, đó là những lỗ
hổng, những thiếu sót làm cho pháp luật không theo kịp với những bước phát
triển của xã hội. Có nhiều nội dung chưa được đưa vào BLTTHS mà chỉ quy
định trong các văn bản dưới luật làm cho hiệu lực của quy định không cao và
giảm tính phổ biến của các quy định pháp luật.
Thứ hai, nhận thức pháp luật của những người tiến hành tố tụng chưa
được cao. Vấn đề thẩm quyền thường không được những người tiến hành tố
tụng quan tâm nghiên cứu và cập nhật các văn bản liên quan. Mặt khác, ở các cơ
quan tiến hành tố tụng cấp huyện công tác đảm bảo vật chất còn rất hạn chế,
trình độ của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán của một số cơ quan còn
thấp, số lượng án không đồng đều, tại một số vùng quá ít hoặc quá nhiều gây
khó khăn cho các hoạt động tố tụng.
Thứ ba, nhận thức của công dân về các quy định của pháp luật về thẩm
quyền xét xử còn kém dẫn đến những vi phạm về thẩm quyền khi thực hiện các
Thứ hai, em cho rằng nên bỏ quy định Tòa án nhân dân cấp tỉnh và tòa án
quân sự cấp quân khu có thể lấy vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp dưới
lên để xét xử và bổ sung vào điểm c khoản 1 Điều 170 BLTTHS một số trường
hợp vụ án hình sự mà tội phạm do một số đối tượng nhất định thực hiện không
thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện, để ngay khi khởi tố vụ
án, khởi tố bị can đã giao ngay cho cơ quan điều tra cấp tỉnh điều tra từ đầu để
đảm bảo sự thống nhất về thẩm quyền giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, tránh
trường hợp sau khi truy tố ra Tòa án cấp huyện, vụ án mới được lấy lên Tòa cấp
trên để xét xử.
Thứ ba, tại khoản 3 Điều 171 BLTTHS quy định: “Bị cáo phạm tội ở
nước ngoài, nếu thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự thì do Tòa án quân
sự cấp quân khu trở lên xét xử theo quyết định của Chánh án Tòa án quân sự
trung ương”. Theo em trong điều luật này nên bỏ hai từ “trở lên”, bởi vì quy
14
định như vậy là chưa chính xác. Hiện nay, theo quy định của BLTTHS, không
có một Tòa án quân sự nào cao hơn Tòa án quân sự cấp quân khu có thẩm quyền
xét xử sơ thẩm, vì ngay từ năm 2000 chúng ta đã bỏ quy định về thẩm quyền xét
xử sơ thẩm đồng thời là chung thẩm của Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao và
Tòa án quân sự trung ương.
Thứ tư, tại Điều 172 BLTTHS quy định: “Những tội phạm xảy ra trên tàu
bay hoặc tàu biển của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang hoạt
động ngoài không phận hoặc lãnh hải Việt Nam thuộc thẩm quyền xét xử của
Tòa án Việt Nam, nơi có sân bay hoặc bến cảng trở về đầu tiên hoặc nơi tàu
bay, tàu biển đó được đăng ký”. Quy định như vậy dễ dẫn đến việc tranh chấp
hoặc đùn đẩy lẫn nhau về thẩm quyền giữa các Tòa án nói trên. Mặt khác, quy
định cả Tòa án nơi đăng ký tàu bay, tàu biển có thẩm quyền xét xử chắc chắn sẽ
gây khó khăn cho việc điều tra, thu thập chứng cứ. Vì vậy, em cho rằng không
nên quy định cho Tòa án nơi đăng ký tàu bay, tàu biển có thẩm quyền xét xử các
thiết cho việc hoàn thiện về tổ chức đó, cần hoàn thiện các quy định có liên quan
đến việc thành lập, tổ chức và hoạt động của các cơ quan công tố và điều tra phù
hợp với mô hình và họat động của các cơ quan tòa án được tổ chức theo thẩm
quyền xét xử.
C – KẾT LUẬN.
Qua những nội dung trên, có thể thấy những quy định của pháp luật về tố
tụng hình sự đối với vấn đề thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trong Bộ
luật tố tụng là tương đối rõ rang. Vì vậy, để có thể xét xử vụ án hình sự một cách
có hiệu quả nhất, mỗi Tòa án cần tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật về
thẩm quyền mình có. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn những quy định bất hợp lí,
mâu thuẫn với nhau mà cần được xem xét, sửa đổi để hoàn thiện hơn những quy
định về thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
16
1. Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam, Trường Đại học luật Hà Nội,
Nxb.CAND, Hà Nội, 2008.
2. Bộ luật tố tụng hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm
2003.
3. Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003,Võ Khánh Vinh (chủ
biên), Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2004.
4. Hoàn thiện quy định về thẩm quyền xét xử sơ thẩm hình sự của Tòa án nhân
dân các cấp, Luận văn thạc sỹ luật học, Trần Thị Lê Na, , Hà Nội, 2009.
17